Sa quốc Nga

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Nước Nga Sa hoàng)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sa quốc Nga
Русское царство

1547–1721
Quốc kì[1][2] Quốc huy
Territory of Russia in       1500,       1600 and       1700.
Thủ đô Moskva
(1547–64; 1581–1712)
Aleksandrov Kremlin
(1564–81)
Sankt-Peterburg
(1712–21)
Ngôn ngữ Nga
Latin
Hi Lạp
Đức
Tôn giáo Chính Thống giáo
Chính phủ Quân chủ tuyệt đối
Sa hoàng
 •  1547–1584 Ivan Khủng Khiếp (first)
 •  1682–1721 Pyotr Đại Đế (last)
Lập pháp Quốc hội
Lịch sử
 •  Ivan Khủng Khiếp đăng cơ 16 January 1547
 •  Chiến tranh Livonia 1558–1583
 •  Thời Đại Loạn 1598–1613
 •  Chiến tranh Nga - Ba Lan 1654–1667
 •  Chiến tranh phương Bắc 1700–1721
 •  Thỏa ước Nystad ngày 10 tháng 9 năm 1721
 •  Đế quốc Nga thành lập 22 October 1721
Dân số
 •  1500[3] (ước tính) 6.000.000 
 •  1600[3] (ước tính) 14.000.000 
Đơn vị tiền tệ Rúp

Sa quốc Nga[4][5] (tiếng Nga: Русское царство) là giai đoạn trung ương tập quyền hóa trong lịch sử Nga[6][7], bắt đầu từ sự kiện đại công tước Ivan Khủng Khiếp xưng sa hoàng năm 1547 cho đến khi Pyotr Đệ Nhất chuyển sang xưng hoàng đế năm 1721. Đây cũng là thời kì đầy biến động nhất và cương vực Nga cũng bành trướng với tốc độ nhanh nhất (35.000 km²/năm), từ đó biến Nga thành xứ sở nửa Âu nửa Á.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Thế kỷ XVIII-XV, đế quốc Byzantium ngày càng suy nhược trước sức công phá mãnh liệt của Thập tự quânOttoman, đành phải liên minh với Đại công quốc Moskva theo hình thức hôn nhân hoàng gia[8], trong đó, hoàng đế La Mã thường gả công chúa cho đại công tước Moskva. Đổi lại, Moskva phái các cánh quân xuống phương Nam gây áp lực ở Hắc Hải và sườn Kavkaz cho Đột Quyết, đồng thời cung cấp tài chính cho những cuộc thảo phạt của hoàng đế La Mã, tuy rằng hiệu quả cũng rất thấp[9].

Khi biết chắc Byzantium tồn tại chỉ còn từng năm và Đột Quyết sẽ vươn dậy thành mối đe dọa phía Nam Hắc Hải, đại công tước Ivan Khủng Khiếp bèn cải xưng sa hoàng, tuyên bố kế thừa La Mã về tước hiệu và huyết thống. Tôn hiệu quốc quân Nga từ đấy là Đại công tước Moskva và sa hoàng Toàn Nga[10].

Trong các giai đoạn sau, bất chấp Đại LoạnBa Lan cướp mất Kiev, sa quốc Nga không ngừng bành trướng về phương Đông để tránh áp lực Đột Quyết, đồng thời tích cực tiếp thu văn minh Tây Âu vào xã hộichính trị quốc gia. Lúc này, các lãnh địa bán độc lập hoàn toàn bị phế bỏ, thay vào bằng hệ thống trung ương tập quyền[11][12][13][14][15].

Biên niên sử triều Romanov coi năm Pyotr Đại Đế thiên đô về Sankt-Peterburg là sự kiện khép lại sa quốc Nga và mở ra lịch sử Đế quốc Nga. Tuy nhiên, danh hiệu Đại công tước Moskva và sa hoàng Toàn Nga vẫn duy trì trên lãnh thổ Nga đến năm 1917 và bên ngoài Liên Xô giai đoạn 1918 - 1991. Thập niên 1990, Tòa thượng phụ Moskva và toàn nước Nga tái thừa nhận danh hiệu này cho nội bộ thành viên nhà Romanov, nhưng chỉ mang ý nghĩa tông giáovăn hiến thay vì chính trị[16].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sa hoàng Ivan IV

Ivan Khủng Khiếp trung hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Sự phát triển quyền lực tuyệt đối của Sa hoàng lên tới đỉnh điểm trong thời kỳ cầm quyền (1547–1584) của Ivan IV ("Ivan Bạo chúa"). Ông tăng cường vị trí quyền lực của mình tới một mức độ chưa từng có trước đó, bằng cách thẳng tay sắp xếp giới quý tộc theo ý thích, trục xuất hay hành quyết nhiều người chỉ vì những tội lỗi nhỏ nhất. Tuy nhiên, Ivan thường được coi là một nhà lãnh đạo có tầm nhìn, người đã cải cách nước Nga khi đưa ra một bộ luật mới (Sudebnik năm 1550),[17] thiết lập cơ quan đại diện chính quyền phong kiến đầu tiên của Nga (Hội nghị hội đồng tự quản địa phương), cắt giảm ảnh hưởng của giới tăng lữ,[18] và lập ra cơ quan tự quản cấp vùng tại các khu vực nông thôn,[19]

Mặc dù cuộc chiến tranh Livonia kéo dài của ông nhằm giành quyền kiểm soát bờ biển Baltic và quyền tiếp cận con đường thương mại trên biển là một sai lầm tốn kém,[20] Ivan đã sáp nhập được các hãn quốc như Kazan, AstrakhanSiberi.[21] Những cuộc chinh phục này càng khiến làn sóng di cư của người du mục hiếu chiến từ châu Á vào châu Âu qua Volga và Ural thêm phức tạp.

Thông qua những cuộc chinh phục đó, nước Nga có thêm được một số lượng đáng kể người Tatar Hồi giáo và trở thành một quốc gia đa chủng tộcđa tôn giáo. Cũng trong khoảng giai đoạn này, gia đình thương gia Stroganov đã thành lập một địa vị vững chắc tại Ural và tuyển mộ nhiều người Cozak Nga tới thực dân hoá Siberi.[22]

Cuối thời kỳ cai trị của mình, Ivan đã chia đất nước làm hai. Ở vùng được gọi là oprichnina, những người theo Ivan tiến hành một loạt các cuộc thanh trừng đẫm máu nhắm vào giới quý tộc phong kiến (mà ông nghi ngờ có âm mưu bội phản sau sự phản bội của hoàng thân Kurbsky), đỉnh điểm là vụ Thảm sát Novgorod (1570). Việc này cộng với những tổn thất quân sự, bệnh dịch, mất mùa đã làm suy yếu nước Nga tới mức người Tatar Krym có thể vào cướp bóc các vùng trung tâm Nga và đốt cháy kinh đô Moskva (1571).[23] Năm 1572, Ivan từ bỏ oprichnina.[24][25]

Cuối triều đại Ivan IV, quân Ba Lan-Litva và quân Thuỵ Điển đã tiến hành can thiệp thành công vào Nga, tàn phá miền bắc và các vùng tây bắc nước này.[26]

Thời kì Đại Loạn[sửa | sửa mã nguồn]

Kuzma Minin kêu gọi dân chúng Nizhny Novgorod tình nguyện gia nhập quân đội chống lại người Ba Lan.[27]
Bài chi tiết: Thời kì Đại Loạn

Cái chết không người nối dõi của con trai Ivan Bạo chúa là Fyodor I kéo theo một giai đoạn nội chiến và can thiệp nước ngoài được gọi là "Thời kỳ loạn lạc" (1606–13). Các mùa đông lạnh giá (1601-1603) làm mùa màng thất bát[28] dẫn tới nạn đói Nga 1601-1603 và làm gia tăng sự vô tổ chức trong xã hội. Thời kỳ cầm quyền của Boris Godunov chấm dứt trong tình trạng hỗn loạn, nội chiến cộng với sự xâm phạm từ nước ngoài, sự tàn phá nhiều thành phố và sự suy giảm dân số trong các khu vực nông thôn. Đất nước chao đảo vì sự hỗn loạn bên trong và nhiều cuộc can thiệp bên ngoài của Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva[29]. Quân xâm lược tiến vào tới Moskva và đưa, ban đầu là kẻ mạo danh Dmitriy I giả và sau đó là Władysław IV Vasa - một Hoàng thân Ba Lan lên ngôi báu của nước Nga. Nhân dân Moskva phải nổi dậy đấu tranh, nhưng họ bị dập tắt một cách dã man và thành phố bị đốt cháy[30][31][32].

Cuộc khủng hoảng đã tạo nên tinh thần yêu nước chống lại quân xâm lược của toàn dân Moskva và vào mùa thu năm 1612, dưới sự chỉ huy của thương gia Kuzma M. Minin và Công tước Dmitry M. Pozharsky, quân đội tình nguyện đã đẩy lui ngoại bang ra khỏi kinh thành[27][33][34].

Vị thế quốc gia Nga đã sống sót qua "Thời kỳ loạn lạc" và sự cai trị yếu kém hoặc thối nát của các Sa hoàng nhờ sức mạnh của các quan lại trung tâm của chính quyền. Các chức năng của chính quyền vẫn hoạt động, dù dưới bất kỳ vị vua nào hay các phe phái nào kiểm soát ngôi báu. Tuy nhiên, "Thời kỳ loạn lạc" do sự khủng hoảng triều đại gây ra đã khiến nước Nga mất nhiều lãnh thổ vào tay Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva trong cuộc chiến tranh Nga-Ba Lan. Không những thế, vua Thụy Điển là Gustav II Adolf đã lợi dụng "Thời kỳ loạn lạc" mà phát binh chinh phạt nước Nga và giành chiến thắng lừng lẫy trong cuộc chiến tranh Ingria:[35][36]

Sơ kì triều Romanov[sửa | sửa mã nguồn]

Bầu Mikhail Romanov 16 tuổi lên làm Sa hoàng đầu tiên của nhà Romanov

Tháng 2 năm 1613, khi sự hỗn loạn đã chấm dứt và người Ba Lan đã bị đẩy lui khỏi Moskva, một đại hội đồng, gồm các đại diện từ năm mươi thành phố và thậm chí cả một số nông dân đã bầu Mikhail Romanov, con trai của đại giáo chủ Filaret, lên ngôi báu. Nhà Romanov cai trị nước Nga tới tận năm 1917.

Nhiệm vụ trước mắt của triều đại mới là tái lập hoà bình. May cho Moskva, những kẻ thù chính của họ là Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc LitvaThuỵ Điển đang lao vào những cuộc xung đột với nhau, đưa lại cho nước Nga cơ hội tái lập hoà bình với vua Thuỵ Điển năm 1617 và ký một hiệp ước hoà bình với Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva vào năm 1619. Theo Hiệp định Stolbova, Sa hoàng Mikhail I nhường cho vua Gustav II Adolf hai vùng CareliaIngria. Từ đó, nước Nga mất lối ra biển Baltic.[35] Việc thu hồi những lãnh thổ đã mất bắt đầu từ giữa thế kỷ 17 khi cuộc nổi dậy Chmielnicki tại Ukraina chống lại quyền cai trị Ba Lan đưa tới Hiệp ước Pereyaslav được ký kết giữa Nga và người Cozak Ukraina.

Theo hiệp ước, Nga đảm bảo quyền bảo hộ cho nhà nước CozakUkraina tả ngạn, trước kia thuộc quyền kiểm soát của Ba Lan. Việc này đã gây ra một cuộc Chiến tranh Nga-Ba Lan kéo dài dẫn tới Hiệp ước Andrusovo (1667) theo đó Ba Lan chấp nhận mất Ukraina tả ngạn, KievSmolensk.

Thay vì tiếp tục đối mặt với nguy cơ mất tài sản trong các cuộc nội chiến, các đại quý tộc hay boyar đã liên kết với những vị Sa hoàng đầu tiên của nhà Romanov, cho phép họ hoàn tất việc thiết lập chính quyền quan lại trung ương. Như vậy, nhà nước yêu cầu sự hợp tác của cả giới quý tộc cũ và mới, chủ yếu trong quân đội. Đổi lại các Sa hoàng cho phép giới quý tộc hoàn tất quá trình nông nô hoá giới nông dân.

Cuộc cải cách Giáo hội của đại giáo chủ Nikon đã gây ra sự li giáo trong Giáo hội Chính giáo Nga và sự xuất hiện Những người theo đức tin cũ.

Trong thế kỷ trước đó, nhà nước đã dần tước đoạt các quyền di chuyển theo các chúa đất khác nhau của nông dân. Khi nhà nước đã hoàn toàn thừa nhận chế độ nông nô, các nông dân bỏ trốn trở thành những kẻ bị quốc gia truy nã, và quyền của các chúa đất với các nông dân "gắn liền" với đất đai của họ đã hầu như hoàn tất. Cùng nhau, nhà nước và giới quý tộc đặt ra các gánh nặng thuế khoá lên người nông dân, vào giữa thế kỷ 17 đã tăng gấp 100 lần so với thế kỷ trước đó. Ngoài ra, các thương nhân, thợ thủ công thành thị trung lưu, cũng phải chịu các khoản thuế, và giống như nông nô, họ cũng bị cấm chuyển chỗ ở. Tất cả thành phần xã hội đều phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và phải chịu các khoản thuế đặc biệt[37].

Dưới những hoàn cảnh như vậy, sự xuất hiện của những nông dân bất tuân pháp luật là không thể tránh khỏi; thậm chí các công dân Moskva cũng đã nổi dậy chống lại triều đình Romanov trong cuộc nổi loạn Muối (1648)[38], cuộc nổi loạn Đồng (1662)[38]cuộc nổi dậy Moskva (1682)[39] vượt xa cuộc nổi dậy nông dân lớn nhất thế kỷ 17 ở châu Âu nổ ra năm 1667. Khi những người định cư tự do ở phía nam nước Nga, người Cozak, nổi dậy chống lại sự tập quyền trung ương ngày càng tăng của nhà nước, các nông nô bỏ trốn khỏi các lãnh chúa và gia nhập những người nổi dậy. Thủ lĩnh người Cozak là Stenka Timofeyevich Razin dẫn những người theo mình ngược sông Volga, xúi giục các cuộc nổi dậy nông dân và thay thế các chính quyền địa phương bằng bộ máy Cozak. Cuối cùng quân đội Sa hoàng đã tiêu diệt các lực lượng của ông năm 1670; một năm sau Stenka bị bắt và bị chém đầu. Tuy thế, chưa tới nửa thế kỷ sau, tình trạng căng thẳng do những cuộc viễn chinh quân sự mang lại đã tạo ra một nổi loạn tại Astrakhan, cuối cùng cũng bị dập tắt.

Quốc kì[sửa | sửa mã nguồn]

There was no single flag during the Tsardom. Instead, there were multiple flags:

  • Standards used by the Tsar:[40]
    • Standard of the Tsar of Russia (1693–1700): white-blue-red tricolor with golden double-headed eagle in the center.[40] Replaced by the Imperial standard in 1700 (see below).[40]
    • Imperial Standard of the Tsar of Russia: black double-headed eagle carrying St. Vladimir Red Coat of Arms, on a golden rectangular field, adopted in 1700 instead of the older white-blue-red Standard of the Tsar of Moscow.[40]
  • Civil Flag: The early Romanov Tsars instituted the two-headed eagle Imperial Flag of the Tsar, which origin dates back to 1472, as a Civil Flag, it remained the Civil Flag of Russia until replaced during the Empire in 1858.[41]
  • Civil Ensign of Russia: the white-blue-red tricolor, that was adopted on ngày 20 tháng 1 năm 1705 by decree of Peter I.[40]
  • Naval Ensign of the Imperial Russian Navy: white field with a blue saltire, adopted in 1712.[42] Before that, the naval ensign of Russia was white-blue-red tricolor.[42]
  • Naval Jack of the Imperial Russian Navy: red field with a blue saltire, adopted in 1700.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Цвета Русского Государственного национального флага (bằng tiếng Nga). 
  2. ^ “Царствование государя и великого князя”. nlr.ru (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2018. 
  3. ^ a ă Population of Russia. Tacitus.nu (ngày 30 tháng 8 năm 2008). Truy cập 2013-08-20.
  4. ^ Хорошкевич, А. Л. Символы русской государственности. -М.:Изд-во МГУ,1993. -96 с.:ил., фот. ISBN 5-211-02521-0
  5. ^ Костомаров Н. И. Русская история в жизнеописаниях ее главнейших деятелей. Olma Media Group, 2004 [1]
  6. ^ Зимин А. А., Хорошкевич А. Л. Россия времени Ивана Грозного. Москва, Наука, 1982
  7. ^ Перевезенцев, С. В. Смысл русской истории, Вече, 2004
  8. ^ Б. М. Клосс. О происхождении названия “Россия”. М.: Рукописные памятники Древней Руси, 2012. С. 61
  9. ^ Б. М. Клосс. О происхождении названия “Россия”. М.: Рукописные памятники Древней Руси, 2012. С. 57
  10. ^ Чин венчания на царство Ивана IV Васильевича. Российский государственный архив древних актов. Ф. 135. Древлехранилище. Отд. IV. Рубр. I. № 1. Л. 1-46
  11. ^ Maija Jansson. England and the North: The Russian Embassy of 1613-1614. American Philosophical Society, 1994. P. 82: "...the towns of our great Russian Tsardom", "all the people of all the towns of all the great Russian Tsardom".
  12. ^ Walter G. Moss. A History of Russia Volume 1: To 1917. Anthem Press, 2003. P. 207
  13. ^ Readings for Introduction to Russian civilization, Volume 1. Syllabus Division, University of Chicago Press, 1963. P. 253
  14. ^ Hans Georg Peyerle, George Edward Orchard. Journey to Moscow. LIT Verlag Münster, 1997. P. 47
  15. ^ William K. Medlin. Moscow and East Rome: A Political Study of the Relations of Church and State in Muscovite Russia. Delachaux et Niestl, 1952. P. 117: Addressing Patriarch Jeremiah, Tsar Feodor Ivanovich declares, "We have received the sceptre of the Great Tsardom of Russia to support and to watch over our pious and present Great Russian Tsardom and, with God's grace".
  16. ^ Б. М. Клосс. О происхождении названия “Россия”. М.: Рукописные памятники Древней Руси, 2012. С. 4
  17. ^ “Ivan the Terrible”. Đại học bang Minnesota Mankato. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2007. 
  18. ^ Zenkovsky, Serge A. (tháng 10 1957). “The Russian Church Schism: Its Background and Repercussions”. Russian Review 16 (4): 37. doi:10.2307/125748. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  19. ^ Skrynnikov R., "Ivan Grosny", tr. 58, Moskva, AST, 2001
  20. ^ William Urban. “The origin of the Livonian war, 1558”. Lithuanian quarterly journal of arts and sciences. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2007. 
  21. ^ Janet Martin, Medieval Russia, 980-1584, Nhà in Đại học Cambridge, 1995, tr. 395. ISBN 052136832.
  22. ^ Biên niên sử Siberi, Строгановская Сибирская Летопись. изд. Спаским, СПб, 1821
  23. ^ Skrynnikov R. "Ivan Grozny", M, 2001, tr. 142-173
  24. ^ Robert I. Frost The Northern Wars: 1558-1721 (Longman, 2000) tr. 26-27
  25. ^ Moscow - Historical background
  26. ^ Skrynnikov. "Ivan Grozny", M, 2001, tr. 222-223
  27. ^ a ă Chester S. L. Dunning, "Russia's First Civil War: The Time of Troubles and the Founding of the Romanov Dynasty", Nhà in bang Penn (2001), ISBN 0271020741, tr. 433-434. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Dunning” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  28. ^ Borisenkov E, Pasetski V. "The thousand-year annals of the extreme meteorological phenomena", ISBN 5-244-00212-0, tr. 190
  29. ^ Solovyov. "History of Russia...", quyển 7, tr. 533-535, tr. 543-568
  30. ^ George Vernadsky, "A History of Russia", quyển 5, Nhà in Đại học Yale, (1969). Bản dịch tiếng Nga
  31. ^ Mikolaj Marchocki "Historia Wojny Moskiewskiej", chương "Slaughter in the capital", Bản dịch tiếng Nga
  32. ^ Sergey Solovyov. History of Russia... quyển 8, tr. 847
  33. ^ Troubles, Time of." Encyclopædia Britannica. 2006
  34. ^ Công tước Dmitri Mikhailovich Pozharski", Columbia Encyclopedia
  35. ^ a ă David J. Sturdy, Fractured Europe, 1600-1721, các trang 202.-203.
  36. ^ Những nhân vật quân sự nổi tiếng thế giới, tác giả: Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, biên dịch: Phan Quốc Bảo, Hà Kim Sinh, Nhà xuất bản Thanh niên, năm 2003, trang 304
  37. ^ Để có chi tiết về sự phát triển cấu trúc giai cấp tại nước Nga Sa hoàng, xem Theda Skocpol. States and Social Revolutions: A Comparative Analysis of France, Russia, and China. Nhà in Đại học Cambridge, 1988.
  38. ^ a ă Jarmo Kotilaine và Marshall Poe, Modernizing Muscovy: Reform and Social Change in Seventeenth-Century Russia, Routledge, 2004, tr. 264. ISBN 0415307511. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Kotilaine” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  39. ^ (tiếng Nga) Cuộc nổi loạn Moskva 1682 trong Lịch sử Nga của Sergey Solovyov
  40. ^ a ă â b c d History of the Russian Flag Lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2010, tại Wayback Machine. (in Russian)
  41. ^ Yenne, Bill. Flags of the World. Chartwell Books, 1993, pg32
  42. ^ a ă â b c vexillographia.ru
  43. ^ www.crwflags.com