Lựu pháo


Lựu pháo là loại pháo binh nằm giữa pháo dã chiến và súng cối. Nó có thể bắn góc thấp như pháo, mà cũng bắn góc cao như cối (ranh giới thường lấy ở khoảng 45°). Nhờ bắn được nhiều góc và tầm xa khá tốt, lựu pháo dùng rất hiệu quả khi bắn hiệp đồng với pháo nòng dài, súng cối và pháo phản lực. Ngày xưa lựu pháo được coi trọng vì bắn được đạn nổ và đạn cháy vào công sự, khác với súng cối vốn gần như cố định góc bắn.
Trong thế kỷ 18–19, lựu pháo dần cơ động và đa dụng hơn; đến giữa thế kỷ 19 xuất hiện nòng xoắn thì thiết kế/ứng dụng thay đổi mạnh. Đầu thế kỷ 20, lựu pháo được chia thành các loại: lựu pháo dã chiến, lựu pháo vây thành, hạng nặng siêu vây thành và lựu pháo phòng thủ.
Trong Thế chiến I và II, lựu pháo giữ vai trò lớn, nhất là trong chiến hào và các học thuyết bắn phá dày như “tác chiến chiều sâu” của Liên Xô. Hiện nay ranh giới giữa pháo và lựu pháo mờ đi: nhiều khẩu kết hợp đặc tính của cả hai, thường là lựu pháo tự hành đặt trên khung gầm bánh xích/bánh lốp, bắn góc cao và dùng liều phóng thay đổi để tăng tầm và độ chính xác.
Nguồn gốc tên gọi
[sửa | sửa mã nguồn]Từ tiếng Anh “howitzer” có nguồn gốc từ tiếng Séc houfnice,[1][2][3] mà gốc houf nghĩa là “đám đông, nhóm người”.[4][5][6] Chính houf lại là từ vay mượn từ tiếng Đức Trung cổ Hūfe hay Houfe (tiếng Đức hiện đại Haufen)cũng có nghĩa là “đám đông, đoàn quân, khối người”,[7] cộng với hậu tố danh từ tiếng Séc -nice. Trong tiếng Đức,Haufen đôi khi (trong tổ hợp Gewalthaufen),cũng được dùng để chỉ đội giáo hình vuông của bộ binh Đức.[8]
Trong các cuộc chiến Hussite những năm 1420–1430, người Hussite đã dùng loại pháo nòng ngắn gọi là houfnice[9] để bắn ở cự ly gần vào các đám bộ binh, hoặc vào kỵ binh nặng đang xung phong, nhằm làm cho ngựa hoảng và dạt ra.[10] Từ này được ghi nhận trong tiếng Đức lần sớm nhất năm 1440 dưới dạng aufeniz; về sau xuất hiện các dạng tiếng Đức khác như haussnitz và cuối cùng là haubitze. Từ haubitze này lại truyền sang các ngôn ngữ Bắc Âu haubits, tiếng Ba Lan và Croatia haubica, tiếng Estonia haubits, tiếng Phần Lan haupitsi, tiếng Nga gaubitsa (гаубица), tiếng Serbia haubica (xаубицa), tiếng Ukraina (гаубиця), tiếng Ý obice, tiếng Tây Ban Nha obús, tiếng Bồ Đào Nha obus, tiếng Pháp obusier, tiếng Romania obuzier và tiếng Hà Lan houwitser, chính dạng tiếng Hà Lan này dẫn tới dạng tiếng Anh howitzer.[11]
Từ Thế chiến I, nghĩa của “lựu pháo” (howitzer) dần thay đổi để chỉ cả những loại pháo vốn thuộc nhóm “pháo–lựu” (gun-howitzer) – tức là có nòng tương đối dài, vận tốc đầu nòng cao, bắn được nhiều liều thuốc phóng và nâng góc rất lớn. Điều này đặc biệt đúng trong quân đội Mỹ: từ Thế chiến II họ gọi các pháo–lựu đó luôn là “howitzer”. Vì cách gọi này, ở một số quân đội, “howitzer” được dùng như từ chung cho mọi loại pháo bắn gián tiếp. Kết quả là nhiều khẩu pháo ngày nay gần như không giống lựu pháo cổ điển nữa nhưng vẫn được gọi là “howitzer”, trong khi người Anh vẫn gọi chúng là “gun”.
Người Anh có một cách đặt tên khác nữa. Thế kỷ 18 họ chuyển sang gọi pháo theo trọng lượng đầu đạn (ví dụ 6-pounder, 12-pounder), thay cho hệ thống tên cũ từ cuối thế kỷ 15 như culverin, saker….[12] Súng cối thì từ thế kỷ 17 đã được phân loại theo cỡ nòng tính bằng inch, và cách này cũng được áp dụng cho lựu pháo.[13]
Học thuyết pháo binh của Mỹ thì định nghĩa: lựu pháo là mọi loại pháo nòng có thể bắn góc cao lẫn góc thấp (0°–90°, trong đó 0°–45° là bắn thấp, 45°–90° là bắn cao); gun chỉ bắn được góc thấp (0°–45°); còn súng cối chỉ bắn góc cao (45°–90°).[14]
Phân loại
[sửa | sửa mã nguồn]- Lựu pháo tự hành: lắp trên khung gầm xe bánh xích hoặc bánh lốp, thường có giáp nên nhìn hơi giống xe tăng, nhưng giáp chủ yếu để chống mảnh đạn và hỏa lực bộ binh chứ không phải chống pháo chống tăng.
- Lựu pháo thồ: loại nhẹ, thiết kế để tháo rời thành nhiều bộ phận nhỏ, mang được bằng la hoặc ngựa thồ.
- Lựu pháo sơn cước (sơn pháo): loại nhẹ dùng ở địa hình núi; đa số cũng là loại thồ được.
- Lựu pháo vây hãm: bắn từ bệ cố định, dùng trong tác chiến công thành/vây hãm.
- Lựu pháo dã chiến : đủ cơ động để đi cùng quân chủ lực, luôn có càng và bánh xe để kéo.
Ảnh
[sửa | sửa mã nguồn]-
Từ trái sang: M-46 130mm, M-47 152mm, 2A36 152mm, 2A65 152mm
-
Lựu pháo hạng nhẹ M-777 155mm của Mỹ
-
Pháo tự hành Panzerhaubitze 2000 của Đức
-
Đạn pháo dẫn đường XM982 Excalibur của Mỹ
-
2A65 Msta-B, lựu pháo có khả năng bắn đạn hạt nhân
-
M-777 của thủy quân Mỹ được chở bằng trực thăng hạng nặng CH-53E tại Afghanistan
-
AS90 của Anh
-
Đạn pháo chính xác 2K25 Krasnopol của Nga
-
M-109A6 và xe tiếp đạn M-992A2
-
Pháo tự hành Archer
-
PLZ 05 của Trung Quốc
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ "Online Etymology Dictionary". etymonline.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2010.
- ^ The Concise Oxford English Dictionary, 4th edition reprinted, 1956: "Howitzer".
- ^ Paul, Hermann (1960). "Haubitze". Deutsches Wörterbuch (bằng tiếng Đức).
- ^ Stephen Turnbull: The Hussite Wars, 1419–36. p. 46
- ^ German Medieval Armies 1300–1500. Bloomsbury USA. ngày 28 tháng 11 năm 1985. tr. 16. ISBN 9780850456141.[liên kết hỏng]
- ^ "houfnice" in Václav Machek, Etymologický slovník jazyka českého, second edition, Academia, 1968.
- ^ "Wörterbuchnetz". Deutsches Wörterbuch von Jacob Grimm und Wilhelm Grimm (bằng tiếng Đức). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2022.
- ^ Christ, Georg; Sänger, Patrick; Carr, Mike (ngày 30 tháng 11 năm 2022). Military Diasporas: Building of Empire in the Middle East and Europe (550 BCE-1500 CE) (bằng tiếng Anh). Taylor & Francis. ISBN 978-1-000-77407-8.
- ^ Stephen Turnbull (ngày 25 tháng 5 năm 2004). The Hussite Wars, 1419–36. Bloomsbury USA. tr. 37. ISBN 9781841766652.[liên kết hỏng]
- ^ The Shorter Oxford English Dictionary, (Oxford: The Clarendon Press, 1973), I, p. 992
- ^ "Howitzer". Merriam-Webster Online. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2021.
- ^ Chandar, Y. Udaya (ngày 24 tháng 4 năm 2017). The Modern Weaponry of the World's Armed Forces. Notion Press. ISBN 9781946983794.
- ^ Artillery: Its Origin, Heyday and Decline, Brigadier OFG Hogg, London, C Hurst and Company,1970
- ^ Chandar, Col y Udaya (2017). The Modern Weaponry of the World's Armed Forces. Notion Press, Inc. ISBN 9781946983787.