Lính ném lựu đạn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lính ném lựu đạn là một nhánh của binh chủng bộ binh các nước Châu Âu từ thế kỉ 17 đến 19.

Thế kỉ 17[sửa | sửa mã nguồn]

Thế kỷ 17, lính ném lựu đạn được tổ chức thành các đơn vị. Họ có nhiệm vụ ném lựu đạn vào thành lũy đối phương. Được tuyển chọn vào các đơn vị này thường là những người cao lớn và dũng cảm.

Thế kỉ 18 và 19[sửa | sửa mã nguồn]

Mũ lính phóng lựu Phổ thế kỷ 18.

Thời kì này các đơn vị lính ném lựu đạn không còn thực sự cần thiết nữa, nhưng các đơn vị lính ném lựu vẫn tồn tại. Tuy không còn làm nhiệm vụ ném lựu đạn, nhưng nhờ sức khỏe và chiều cao họ trở thành tiền thân của bộ đội xung kích trên chiến trường.

Thuật ngữ "lính phóng lựu" đã được sử dụng làm danh xưng một đơn vị xung kích tinh nhuệ thế kỷ 18-19, tiêu biểu như Trung đoàn Phóng lựu Potsdam của Phổ, Trung đoàn Phóng lựu Sardegna tại Ý, Trung đoàn Bộ binh Phóng lựu (Foot Grenadiers), Trung đoàn Biệt kích Phóng lựu (Fusilier-Grenadiers), Trung đoàn Khinh binh Phóng lựu (Tirailleur-Grenadiers) và Trung đoàn Thiết kỵ Cận vệ Đế chế (Grenadiers à Cheval de la Garde Impériale), Trung đoàn Cận vệ Đế chế của Nga hoàng, Trung đoàn Cận vệTrung đoàn Phóng lựu 101 Anh. Trung đoàn Phóng lựu 101 là lực lượng trực thuộc quân đội Ấn Độ thuộc Anh, và được xem là trung đoàn "phóng lựu" cổ nhát trong đế quốc Anh. Vào năm 1747 các đại đội phóng lựu thuộc một số trung đoàn Pháp bị giải thể đã được trộn lại thành Trung đoàn Phóng lựu Pháp (Grenadiers de France).

Trong cách mạng Mỹ năm 1775-1783, quân khởi nghĩa 13 thuộc địa Bắc Mỹ cũng thành lập một số đơn vị "phóng lựu" tham gia chiến đấu.

Tại Mexico Antonio López de Santa Anna đã dùng từ "phóng lựu" để đặt danh hiệu cho Trung đoàn Cận vệ Nguyên thủ tối cao vào ngày 7 tháng 12 năm 1841. Đơn vị này tồn tại đến năm 1847.[1]

Thế kỉ 20[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày nay trong ngôn ngữ phương Tây, từ Grenadier (tiếng Anh-Pháp...) được dùng để chỉ những người lính thuộc lực lượng tinh nhuệ, bởi nguồn gốc đây là những chiến sĩ được tuyển chọn kỹ càng về sức khoẻ và chiều cao cũng như lòng dũng cảm.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ p.42 Chartrand, Rene Santa Anna's Mexican Army 1821-48 Osprey Publishing, 25/03/2004