Cyrus Đại đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cyrus Đại đế
(Kay Khosrow?)
کورش بزرگ, Kourosh-e Bozorg
Vua của các vị vua Ba Tư
"Đức Vua của toàn cầu", "Đức Vua vĩ đại", "Đức Vua hùng cường", Vua của SumerAkkad, cháu nội của vua Cyrus I, v.v...[1]
Quốc vương xứ Ba Tư
Tại vị 559 TCN – 530 TCN
Đăng quang Anshan
Tiền nhiệm Cambyses I Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Cambyses II Vua hoặc hoàng đế
Hoàng đế Media - Ba Tư
Tại vị 551 TCN – 530 TCN
Tiền nhiệm Astyages Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Cambyses II Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Hoàng hậu
Hậu duệ
Tên đầy đủ Hoàng đế Cyrus, con trai của vua Cambyses
Tước vị
Triều đại Nhà Achaemenes
Thân phụ Cambyses I
Thân mẫu Mandane của Media hay Argoste (của Ba Tư?)
Sinh 600 TCN hay 576 TCN
Anshan, Ba Tư
Mất Tháng 12 năm 530 TCN
hay tháng 7/8 năm 529 TCN
Biên giới phía Đông của Đế quốc Ba Tư (theo CtesiasHerodotos[3]
Đế quốc Ba Tư (theo Xenophon) [4][5][6]
An táng Lăng mộ của Cyrus Đại đế, Pasargadae
Tôn giáo Hỏa giáo[7] (?)

Cyrus Đại đế, cũng viết là Kourosh Đại đế, Kyros Đại đế[8] hay Cyros Đại đế[9] (Tiếng Ba Tư cổ đại: 𐎤𐎢𐎽𐎢𐏁,[10] Bản mẫu:IPA-ira, Kūruš,[11] Ba Tư: کوروش بزرگ, Kūrosh-e-Bozorg) (Khoảng 600 TCN hoặc là 576 TCN – Tháng 12 năm[12][13] 530 TCN), trong tiếng Việt cũng viết là Xyrut II Đại đế[14] cũng được gọi là Cyrus II hoặc là Cyrus của Ba Tư,[15] là vị Hoàng đế khai quốc của Đế quốc Ba Tư dưới triều đại nhà Achaemenes.[16] Là một vị vua vĩ đại, sau cuộc chinh phạt Đế quốc Tân Babylon, ông xưng làm "Vua của các vị vua".[17] Người ta không rõ ông có theo Hỏa giáo hay là không? [18]

Dưới triều đại ông, Đế quốc Ba Tư chiếm được tất cả những nền văn minh trước đây của vùng Cận Đông cổ đại,[16] bành trướng đáng kể và cuối cùng đã chinh phạt phần lớn vùng Tây Nam Á và nhiều phần đất của vùng Trung Á, thậm chí những phần đất của châu Âu và vùng Kavkaz. Từ bờ biển Địa Trung Hải và biển Hellespont ở phía Tây cho tới sông Ấn ở phía Đông, Hoàng đế Cyrus Đại Đế đã gầy dựng nên một đế quốc rộng lớn nhất mà trước đây, không có đế quốc nào bì kịp trên thế giới.[19] Ông cũng là vị vua Ba Tư đầu tiên có danh hiệu "Đại đế" (Bozorg theo tiếng Ba Tư hay the Great theo tiếng Anh)[7]. Có khi ông được đánh đồng với Hoàng đế Kay Khosrow trong huyền sử Ba Tư.[20]

Triều đại của ông kéo dài khoảng 29 năm, hoặc là 31 năm. Thoạt đầu, ông khởi lập Đế quốc qua cuộc chinh phạt Đế quốc Media, sau đó chinh phạt người Saka (theo Ctesias[3]), Đế quốc Lydia và cuối cùng, ông chinh phạt Đế quốc Tân Babylon. Có lẽ là trước hoặc là sau khi Đế quốc Babylon sụp đổ, ông tiến hành một cuộc chinh phạt miền Trung Á, và kết quả của những chiến dịch chính yếu của cuộc chinh phạt này là ông đã buộc "tất cả mọi dân tộc phải thần phục, mà không hề có ngoại lệ" - theo Herodotos.[21] Chỉ theo nhà sử học Xenophon thì ông chinh phạt Ai Cập,[22], nhưng theo các nhà sử học khác thì ông không đánh Ai Cập, và ông hy sinh tại Trung Á khi giao chiến với người Massagetae theo Herodotos, người Derbicae (một nhánh của người Massagetae[23]) theo Ctesias, hoặc qua đời bình yên tại Ba Tư theo Xenophon, vào khoảng tháng 12 năm 530 TCN.[3][24][25] Theo Xenophon, người Derbicae đã thua trận và chịu khuất phục ông.[3] Con trai ông là Hoàng đế Cambyses II lên nối ngôi, theo sử cũ ngoài "Cyropaedia" của Xenophon, ông vua này tiến hành chinh phạt Ai Cập.[26]

Tuy là một nhà chinh phạt hùng cường, ông tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo của những vùng đất mà ông chiếm lĩnh.[27][28] Người ta nói rằng, trong lịch sử nhân loại, Hoàng đế Cyrus Đại Đế đã đưa Đế quốc Achaemenes trở thành một tấm gương sáng để noi theo, về việc thiết lập một bộ máy hành chính trung ương và một chính phủ làm việc vì lợi ích và hạnh phúc của trăm họ.[16] Các chính sách dựng nước của ông đã được các Hoàng đế kế tiếp của Vương triều Achaemenes - xa hơn nữa là các đế quốc Hy Lạp và La Mã cổ noi theo.[28] Trên thực tế, bộ máy hành chính thông qua các quân Tổng trấn và nguyên tắc quan trọng của việc thành lập chính phủ tại kinh thành Pasargadae, đều là những công trạng của ông.[29] Bên ngoài quốc gia của chính ông, Đế quốc Ba Tư (nay là Iran), Hoàng đế Cyrus Đại Đế còn để lại một di sản bền vững đối với tôn giáo của người Do Thái thông qua Sắc lệnh Khôi phục của ông; vì những chính sách công minh của ông tại thành Babylon, ông được gọi là Người được xức dầu thánh của Chúa Trời trong kinh Tanakh của người Do Thái.[28][30][31]

Hoàng đế Cyrus Đại Đế cũng được công nhận rộng rãi về những thành tựu của ông về các vấn đề nhân quyền, chính trị, chiến lược quân sự, cũng như ảnh hưởng của ông lên cả hai nền văn hóa phương Đôngphương Tây. Đối với nhiều người Iran sau này, Hoàng đế Cyrus Đại Đế và danh tiếng lịch sử của ông đã thể hiện rõ bản chất của dân tộc họ.[32] Trong thế giới cổ đại, danh tiếng của Hoàng đế Cyrus Đại Đế và cả Vương triều Achaemenes vang xa, đến tận thành Athena, tại đây, nhiều người Athena xem những khía cạnh của Văn hóa Ba Tư triều Achaemenes là của văn hóa của chính họ.[33] Người Hy Lạp gọi ông là "Đấng ban luật"; và khi đến Ba Tư, người chiến binh Hy Lạp Xenophon trở nên hâm mộ ông, nên sau này đã viết về ông.[28][34]

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các sách tiếng Anh, ông được gọi là Cyrus Đại đế (Cyrus the Great), mà hầu hết sách Việt Nam cũng biết tên này. Tên gọi Cyrus là Latin hóa từ tên Hy Lạp “Κυρσς”, gốc từ tên Ba Tư là Kourosh, hoặc Kûruš hay Khûrvaš, có nghĩa là “giống như vầng mặt trời”: Từ khûr nghĩa “Mặt Trời” và -vaš là “hậu tố” (suffix) của “tính chất giống”.[7]

Ở nước Iran, vị hoàng đế này thường thường được gọi là Kourosh-e Bozorg, hay Kūrošé Bozorg và/hoặc Kūrošé Kabīr - đều nghĩa là “Cyrus Đại đế”. Trong Kinh Thánh Hebrew, ông được biết đến đơn giản là Koresh mà trong các bản dịch Kitô giáo tiếng Anh là Cyrus, tiếng Việt là Xiru/Siru hoặc Kyrô. Ông cũng có thể được nhớ đến trong kinh Qu'ran của Hồi giáo với tước hiệu “Dhul-Qarnayn”.

Triều đại[sửa | sửa mã nguồn]

“The four winged guardian figure”, a bas-relief found at Pasargadae on top of which once inscribed in three languages the sentence “Trẫm là Cyrus, Đức Vua của Hoàng triều Achaemenes.”[35]

Từ thế kỉ thứ 9 TCN, Vương triều Achaemenes lên trị vì Vương quốc Ba Tưcao nguyên Iran. Vua Achaemenes (Haxāmaniš) là người sáng lập ra vương triều này. Vương triều còn có tên là "Hakhamanishian" ghĩa là “con cháu của Hakhamanish (Achaemenes)” theo như Hoàng đế Darius Đại đế - vị vua thứ 9 của vương triều này - tuyên bố về lai lịch của mình: “vì lý do này mà bất cứ một ai trong chúng ta cũng có tên là Hakhamanishian.” Vua Achaemenes xây dựng nhà nước Parsumash ở tây nam của Iran và truyền ngôi cho con là vua Teispes; vua Teispes đã lấy hiệu là “Vua xứ Anshan” sau khi chiếm được thành phố Anšān và mở rộng vương quốc của mình hơn nữa bao gồm cả Pars. Các tài liệu cổ đề cập rằng ông có một người con là Cyrus I đã kế vị ngôi “Vua xứ Ansan” từ vua cha. Vua Cyrus I có một người anh em khác được ghi nhận là vua Ariyaramma làm vua ở Ba Tư.[7]

Vào khoảng năm 600 TCN, vua Cyrus I qua đời và con là vua Cambyses I lên nối ngôi, cai trị tới năm 559 TCN ở Anshan, trong khi Ariyaramma được con là Arshama kế vị ở Ba Tư. Vua Cyrus II (Đại đế) là con trai của vua Cambyses I - người đã đặt tên con mình theo tên vua cha Cyrus I.

Trong trụ của vua Cyrus Đại Đế, bản thân ông cũng thừa nhận là con cháu của các vị vua trên. Vua Arshama là ông nội của Hoàng đế Darius Đại đế trong khi vua Cambyses I là phụ thân của Hoàng đế Cyrus Đại Đế. Thân mẫu ông, Mandane của Media, là con gái của vua Media là Astyages.[7]

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Chúng ta biết rất ít nói về tuổi trẻ của Hoàng đế Cyrus Đại đế, vì phần lớn tư liệu về thời này đã bị mất. Có lẽ ông sinh vào khoảng 600-599 TCN hay 576-575 TCN.[36] Nhà sử học Herodotos có viết về huyền thoại về sự ra đời của vua Cyrus Đại Đế, như sau:[37] trong khoảng thời gian Hoàng tử Cyrus chào đời, vua Astyages đã được báo mộng rằng cháu ngoại mình - đứa bé Cyrus sẽ chiếm đoạt ngai vàng.[7] Tỉnh giấc, vua Astyages hạ lệnh cho bắt giết đứa bé. Tuy nhiên, một viên tướng Media đã không giết Cyrus, mà giao đứa bé cho một người chăn cừu. Khi Hoàng tử Cyrus lên 10 tuổi, việc này mới bị vua Astyages phát giác, nhưng vì có đức tính tốt nên ông được về ở với mẹ trong sự đày ải.[7]

Câu chuyện về những năm tháng đầu đời của vị Hoàng đế khai quốc Ba Tư có những điểm tương đồng với vua Oedipus trong thần thoại Hy Lạp: cùng xuất thân là con vua, xa cách Hoàng gia, sinh trưởng độc lập nhưng rồi trở lại với Vương quyền.[38] Huyền thoại La Mã cổ có kể về hai đứa trẻ Romulus và Remus - vốn đã lâm vào tình thế nguy nan - nhưng sống sót, được thú hoang dã nuôi và sau đó vua Romulus sáng lập thành Roma, và có nhiều nước cũng có những câu chuyện khá giống về những vị quốc tổ của họ, trong số đó có vị anh hùng Telephus người Hy Lạp, và cả vị anh hùng dân tộc kiệt xuất Cyrus Đại Đế của nước Ba Tư, sau khi vua Astyages chiêm bao thấy mình sẽ bị lật đổ.[39][40] Không những thế, sự ra đời của vị anh hùng dân tộc vĩ đại này cũng tương đồng với nhà tiên tri Moses của nhân dân Do Thái; nếu ông bị vua Astyages cho người giết thì Moses bị Pharaon cho người giết. Cả ông và Moses đều đóng vai trò lớn lao trong lịch sử.[41]

Không những thế, trong bộ thiên sử thi "Shāhnāme" của thi hào Ba Tư Ferdowsi Tousi cũng kể chuyện về sự ra đời của vị vua anh hùng Kay Khosrow, rất giống với câu chuyện của Herodotos. Trong một cuộc chiến tranh giữa nước Ba Tư - Bactria do vua Kaikāus trị vì và nước Turan do vua Afrāsiāb cai trị, Hoàng tử Siāvaksh bất hòa với vua cha, nên trốn sang nước Turan và cầu cứu vua Afrāsiāb. Vua Afrāsiāb gả Công chúa Feringis cho anh, nhưng sau khi chiêm bao thấy con anh cướp ngôi và nghe lời xúi bẩy, bèn giết chết Hoàng tử Siāvaksh. Trước khi chết, Hoàng tử Siāvaksh mộng thấy con anh sẽ làm vua. Công chúa Feringis được quan đại thần Pirān cứu sống. Hoàng tử Kay Khosrow sinh ra, và được Pirān giúp giả làm thằng ngốc để qua mặt được vua nước Turan. Sau vị Hoàng tử được ông nội là vua Kaikāus tôn vương; vua Kay Khosrow cuối cùng đã đánh bại và giết chết vua Afrāsiāb, báo thù cho cha.[42] Và, người ta thường đánh đồng vua Kay Khosrow này với chính vua Cyrus Đại Đế.[43]

Khởi nghĩa thắng lợi chống Mada[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 559 TCN, vua Cambyses I qua đời. Vua Cyrus II kế ngôi ở Anshan với cương vị là vua chư hầu của Media. Ông đóng đô ở Pasargadaetỉnh Pars, là trung tâm của bộc lạc Pasargadae, nơi Vương triều Achaemenes dấy lên năm xưa. Trong các năm 554 TCN và 550 TCN, vua Cyrus II phát động khởi nghĩa chống triều đình Media, và lời tiên tri trong giấc mộng của vua Astyages đã trở thành hiện thực - khi vua Cyrus Đại Đế ca khúc khải hoàn tiến vào kinh đô Media là Ecbatana (Hamadan ngày nay) và lật đổ vương triều Media. Ông trở thành vị vua mới của người Media.[8] Ông thống nhất tộc người Ba Tư với người Media, và Đế quốc Achaemenes - đế quốc rộng lớn nhất thời cổ đại - được kiến lập.[7] Do đối xử tàn nhẫn đối với dân tộc Ba Tư, Đế quốc Media đã sụp đổ và lại chịu sự thống trị của Đế quốc Ba Tư. Sau thời vua Cyrus Đại Đế, họ có làm loạn nhưng đều thất bại. Về phần mình, sau chiến thắng, nhà vua giữ cựu vương Astyages trong Triều đình Ba Tư, mà không làm tổn hại gì đến ông ta.[44]

Xây dựng Đế quốc Hakhamanishian hùng mạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Kourosh Đại đế có danh ngôn:

Đa dạng trong bàn bạc, thống nhất trong mệnh lệnh.

—Kourosh II[45]

Với tư cách là vị vua sáng lập của Đế quốc Hakhamanishian, Kourosh Đại đế có tham vọng làm chủ bờ biển Địa Trung Hải và cả Tiểu Á. Điều này khiến các cường quốc thế giới thời đó là Lydia do vua Kroisos trị vì, Đế quốc Tân Babylon do vua Nabonidus trị vì và Đế quốc Ai Cập do Pharaon Amasis II trị vì đều lo sợ, nên đã thành lập liên minh với thành bang Sparta của Hy Lạp với ý đồ cản trở thế lực của Đế quốc Ba Tư đang trên đà lớn mạnh. nhưng không có kết quả gì.[7]

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Về phía Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Sau những chiến thắng ở phía Đông, Hoàng đế Cyrus Đại đế chuyển tầm nhìn của mình về phía Tây: Vào năm 547 TCN, ông phát động chiến dịch phạt Đế quốc Lydia. Kết quả là ông toàn thắng, và sát nhập Lydia vào lãnh thổ Ba Tư. Theo Herodotus thì ông trọng vọng vua Lydia cuối cùng là Kroisos, cụ thể hơn là phong Kroisos làm cố vấn, nhưng ghi nhận này mâu thuẫn với Biên niên sử Nabonidus (Nabonidus Chronicle theo tiếng Anh), theo đó ông thẳng tay giết chết cựu vương Kroisos.[46] Với chiến thắng của ông trong cuộc chinh phạt nước Lydia, ông trở nên cực kỳ giàu có chẳng kém gì vua Kroisos (cho đến ngày nay, người ta vẫn thường nói "Giàu như vua Kroisos").[47] Ông trở thành bá chủ của phần lớn châu Á.[44]

Quan Tổng đốc xứ Judah Zerubbabel đệ trình kế hoạch Jerusalem lên Cyrus Đại Đế.

Năm 539 TCN ông xâm lược Babylonia, do Vương triều Chaldea cai trị. Công cuộc chinh phạt xứ Babylon là cuộc chinh phạt danh tiếng nhất của ông, được ghi nhận chi tiết trong Kinh Thánh, chữ hình nêm Babylon và các tác phẩm của Herodotos hay Xenophon.[48] Ngày 12 tháng 10 năm 539 TCN Kourosh Đại đế “không đổ một giọt máu” sát nhập Babylonia vào Ba Tư, giam giữ vua Nabo-naid và xưng “Vua của Babylonia, Vua của Sumer và Akkad, vua của 4 phương trên Trái Đất” (tiếng Anh: King of Babylon, King of Sumer and Akkad, King of the four corners of the world). Tiếp theo, ông xuống chiếu truyền 40.000 người Do Thái bị đày xa xứ rời khỏi Babylonia và về lại Palestine.[28][49][50] Đúng như lời tiên đoán của Jeremiah về cuộc lưu dày cuộc người Do Thái trong vòng bảy mươi năm, 40.000 người Do Thái đã được thầy tu Joshua và quan Tổng đốc Zerubabbel đưa về cố hương Jerusalem. Không những thế, ông truyền lệnh cho họ tu bổ lại các đền thần ở Jerusalem.[51] Như vậy là người Do Thái sẽ mãi mãi hết mực trung thành với vua Cyrus Đại Đế và Vương triều Achaemenes.[52]

Ít lâu sau đó ông kiểm soát toàn bộ bán đảo Ả Rập và vùng đất Levant. Dù Hoàng đế Cyrus Đại Đế không đánh Ai Cập, năm 553 TCN tất cả các miền đất vùng biên giới Ai Cập đều rơi vào tay vua Ba Tư.[7] Tuy nhiên, trong tác phẩm "Cyropaedia", Xenophon cho hay ông đã tiến hành chinh phạt xứ Ai Cập. Đây là chiến công cuối cùng của ông, và sau đó ông rút về kinh đô, trị vì đất nước thái bình thịnh trị.[53] Bấy giờ, Đế quốc của Hoàng đế Cyrus Đại Đế có bốn kinh đô là Babylon, Ecbatana, PasargadaeSusa.

Về phía Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Kourosh Đại đế đã chiếm được Hyrcania, ParthavaArmenia - những tỉnh của Đế chế Mada trước kia. Ông còn tiến xa về phía Đông và sát nhập Drangiana, Arachosia, MargianaĐại Hạ và lãnh thổ của mình. Sau khi thu phục người Đại Hạ, ông tiến đánh người Sacae (Scythia), theo ghi nhận của Ctesias. Theo Herodotos thì ông chỉ tiến đánh người Đại Hạ sau khi tiêu diệt được Đế quốc Lydia, nhưng Herodotos chỉ miêu tả chi tiết một cuộc tấn công người Massagetae, mà ông bại trận tử vong (xem phần "Qua đời" bên dưới). Nhưng theo Ctesias thì ông bắt sống được vua Amorges của người Sacae. Trước tình cảnh đó, Nữ vương Sparethra xây dựng một đội quân gồm 30 vạn trai tráng và 20 vạn phụ nữ Sacae, và tiến đánh vua Cyrus Đại Đế để trả thù cho chồng mình. Ông kéo quân ra đánh, bị thất bại thảm hại và Nữ vương Sparethra bắt sống được biết bao tù binh, trong số đó có cả những chiến tướng lỗi lạc nhất của Đế quốc Ba Tư, anh vợ ông là Parmyses cùng với ba người con trai.[54] Tuy nhiên, vị Nữ vương cao thượng đã trả tự do cho những tù binh này, và vua Cyrus Đại Đế cũng trả tự do cho chồng bà là vua Amorges. Ông và vua Amorges từ đó trở thành một đôi bạn thân thiết. Cũng như Herodotos, Xenophon không hề đề cập gì đến cuộc chiến tranh này.[55][56]

Câu chuyện này có một số điểm giống với câu chuyện Hoàng đế Cyrus Đại Đế đánh người Massagetae của Herodotos, nhưng thực ra khác hẳn.[57] Như vậy là cuộc chinh phạt người Sacae đã kết thúc với thắng lợi của ông. Việc giao chiến với một vị Nữ vương người Scythia có lẽ là trách nhiệm cần thiết của một vị anh hùng người Ba Tư, cũng như các vị anh hùng người Hy Lạp dường như có một trọng trách là giao chiến với các nữ chiến binh Amazon.[3] Do đó, Hoàng đế Cyrus Đại Đế đánh trận với Nữ vương Tomyris người Massagetae theo Herodotos, và đánh trận với Nữ vương - chiến binh Sparethra người Sacae theo Ctesias.[58] Strabo cũng đề cập đến một cuộc chinh phạt người Sacae của nhà vua.[59] Theo đó, ông tbị người Sacae đánh bại, phải rút quân. Nhưng ông vẫn giữ lại các trại của Quân đội Ba Tư trên vùng đất của người Sacae; và do đó, khi đối phương tiến quân đến, họ nghĩ ông đã tháo chạy. Thấy quân nhu của Quân đội Ba Tư, đặc biệt là rượu, họ chè chén no say để rồi khi Hoàng đế Cyrus Đại Đế kéo quân trở laị, họ không thể làm gì được.[60] Thế là nhà vua toàn thắng. Sau đó, ba quân ăn mừng chiến thắng, ông tổ chức yến tiệc "Sacace", vì ông vừa đánh bại người Sacae.[61]

Sau khi vượt sông Oxus, ông tiến về sông Jaxartes. Tại đây, ông xây dựng những thành phòng ngự để bảo vệ miền đất xa nhất của đế quốc trước các cuộc tấn công của những bộ lạc ở Trung Á, như người Scythia. Chúng ta không biết rõ vùng đất tận cùng của Đế quốc Hakhamanishian thời Kourosh Đại đế là nơi nào, có lẽ là PeshawarPakistan.

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Kourosh Đại đế đã bổ nhiệm cho mỗi vùng đất mà ông chiếm được một quan tổng trấn (satrap). Các viên tổng trấn này phải gánh đủ trách nhiệm về cai trị, ban hành pháp luật và sinh hoạt văn hóa ở các tỉnh.[7]

Theo Xenophon, ông còn nổi tiếng vì đã sáng chế ra phương pháp cai trị đầu tiên trên thế giới. Các thành tựu xây dựng đế quốc của ông được kế tục bởi con cháu ông, và cả các quốc tổ sau này.[28]

Tôn giáo của Kourosh Đại đế[sửa | sửa mã nguồn]

Tín ngưỡng cá nhân của Kourosh gần như không được rõ, nhưng theo Xenophon thì về mặt tôn giáo, ông đã mời một đạo sĩ Magia đến triều đình của mình. Điều này không được nhiều sử học khác đồng tình, và Mary Boyce xem Kourosh là một tín đồ Hỏa giáo, cũng giống như các bậc tiền bối làm chư hầu Mada của ông.[7] Bà chỉ ra rằng các bàn thờ lửa và cả tòa lăng ở Pasargadae cho thấy sự thực hành của Hỏa giáo thời đấy, ngoài ra, một số văn bản cổ bằng tiếng Hy Lạp cho thấy các đạo sĩ Hỏa giáo đã có địa vị quan trọng trong triều đình Kourosh.[7]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng mộ Kourosh ở Pasargadae.

Theo hiểu biết của người đương thời thì sau khi chinh phạt nước Babylon, ông đã trở thành Hoàng đế của hầu hết châu Á.[62] Tài liệu cổ xứ Babylonia ghi rằng Hoàng đế Cyrus Đại Đế đã qua đời ngày 4 tháng 12 năm 530 TCN.[7] Dù vậy, theo Herodotus, ông qua đời gần biển Aral vào ngày tháng 7/8 năm 529 TCN. Nhà sử học Xenophon cho rằng ông qua đời bình yên, nhưng phần lớn các nhà sử học cổ cho rằng, ông tử trận trong một cuộc chinh phạt ở biên giới phía Đông Bắc hoặc là phía Đông.[63][64]

Sách The Annals of the World (trang 119) của James Ussher cũng ghi nhận ông qua đời vào năm 529 TCN. Năm đó, ông đã 70 tuổi. Đúng 30 năm trước đó, ông lên thống lĩnh cả Quân đội Ba Tư lẫn Quân đội Media. Chín năm trước đó, ông đã chinh phạt Đế quốc Babylon và trị vì Đế quốc này trong vòng bảy năm. Nguyên nhân cái chết của nhà chinh phạt kiệt xuất này là một bí ẩn của lịch sử.[65]

Tử trận khi đánh người Massagetae?[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Samuel Willard Crompton, người Scythia tấn công vào biên giới phía Đông của ông vào năm 530 TCN. Họ cướp phá những pháo đài do ông xây dựng nên ở đấy.[66] Nhưng theo Herodotos, về cuối đời Hoàng đế Cyrus Đại Đế trở nên tự tin về những chiến công hiển hách của ông, do đó ông đánh Massagetae, dù họ không hề gây cho Đế quốc Ba Tư một mối đe dọa nào[67]. Ông gửi thư cho Nữ vương Tomyris của người Massagetae, với mong muốn kết hôn với bà. Tuy nhiên, vị Nữ vương này từ chối, vì bà biết rằng ông muốn xâm chiếm lãnh thổ của bà chứ không phải là yêu bà. Mưu đồ này thất bại và ông quyết định tiến đánh người Massagetae. Ông vượt sông và xây cầu cho ba quân hành quân qua, đồng thời làm thuyền bè để quân sĩ đổ bộ lên lãnh thổ của người Massagetae.[68] Sẽ không khó khăn gì nếu nhà vua sai những danh tướng kiệt xuất nhất của ông đến sông Araxes, còn ông thì ngự tại kinh thành Pasargadae. Tuy nhiên, trong suốt thời gian vừa qua, ông luôn luôn đi chinh chiến và luôn luôn đánh bại các kình địch.[69] Dường như tính thích phiêu lưu, mạo hiểm của ông đã ăn sâu vào tinh thần của ông. Dù gì đây nữa, vào năm 530 TCN, ông bắt đầu thân chinh. Nhà sử học Samuel Willard Crompton có ghi nhận "Nữ hoàng Tomyrisnữ thần báo thù Nemesis của Cyrus":[66]

Nữ thần Nemesis của người Hy Lạp là một vị Nữ thần lạ kỳ. Trong thần thoại Hy Lạp, bà luôn theo dõi mọi người đàn ông trong suốt cuộc đời của họ, để ban cho họ một thay đổi bất ngờ của vận mệnh. Thần thoại này sẽ mang lại cảm giác lạc quan cho những người đã chịu khổ trong suốt cuộc đời, và đem lại sự lo sợ cho những người đã gặp nhiều may mắn trong suốt cuộc đời, vì bản chất đặc trưng của Nữ thần Nemesis là bà xuất hiện bất ngờ và thay đổi mọi thứ chỉ trong chớp mắt.

—Samuel Willard Crompton

Trong suốt cuộc đời mình, Cyrus Đại Đế sinh sống hết sức may mắn. Ông không những khỏe mạnh, lại còn hôn nhân hạnh phúc và có vài đứa con. Không những kế thừa một Vương quốc nhỏ của tiên vương, giờ đây, ông trở thành vị Vua của cả Thế giới, thành công vang dội đúng như các nhà tiên tri đã tâu với ông nội ông năm xưa. Theo Crompton, giờ đây, ông gặp phải Nữ thần báo thù của mình. Nữ vương Tomyris thống trị người Massagetae - một bộ lạc sống trên thảo nguyên ở phía Bắc sông Araxes. Ở một lúc nào đó, họ có thể tập hợp mội đội quân đông đảo.[66] Không thỏa mãn với cuộc chinh phạt xứ Assyria, ông muốn lấy nốt đất của họ để mở rộng Đế quốc Ba Tư. Theo Herodotus, nhà vua thân chinh kéo một đội quân bao gồm cả người Ba Tư lẫn người Media thẳng tiến sông Araxes, và,[66] Tomyris có gửi thư cho ông:[68]

Vua của người Media, hãy từ bỏ những âm mưu của Ngươi. Ngươi không hiểu cái gì sẽ xảy ra nếu Ngươi cứ thế mà làm! Hãy trị vì thần dân của Ngươi và làm ơn để cho Ta cai trị thần dân của Ta. Nhưng, do Ngươi chán sống trong hòa bình rồi, hẳn là Ngươi sẽ không làm theo lời Ta. Và khi đó, nếu Ngươi quá muốn thử sức Ta và ba quân, Ngươi không cần phải tốn công xây cầu. Ta và ba quân sẽ tiến hành hành quân, rời khỏi bờ sông trong vòng ba ngày, và Ngươi có thể sẽ kéo quân về chính quốc của Ngươi...

—Tomyris

Cũng theo Nữ vương Tomyris,[68] nếu ông muốn đánh trận trên lãnh thổ của người Massagetae, bà sẽ rút quân về lãnh thổ Massagetae. Khi đó, hai bên hãy đánh nhau.[66] Theo Herodotus, sau khi nhận được thư như vậy, Cyrus Đại Đế triệu tập các quan đại thần để hỏi ý họ. Ai nấy đều khuyên vua nên để Nữ hoàng Tomyris và đội quân Massagetae tiến vào chính quốc Ba Tư. Tuy nhiên, cựu vương nước Lydia là Kroisos lại phản đối, và tâu:[68]

Muôn tâu Hoàng thượng, như Hạ thần đã nói kể từ khi thần Zeus đưa Hạ thần về với Người, Hạ thần sẽ làm tất cả những gì có thể để xua đuổi mọi hiểm họa đến với Hoàng thượng và Hoàng gia! Những chiến bại của Hạ thần đã dạy cho Hạ thần một bài học nhớ đời... Hạ thần không đồng ý với các quan cận thần của Người! Nếu Hoàng thượng và chúng thần để cho bọn giặc vượt sông tiến vào nước ta, nếu chúng thắng Người không những bại trận mà còn mất luôn cả một Đế quốc... Mặt khác, nếu Người thắng trận, chiến thắng sẽ không quyết định vì Người không thể truy kích vào lãnh thổ của lũ giặc... thật quá quắt nếu Đức Vua Cyrus - con của tiên vương Cambyses - phải lui quân trước một con đàn bà! Hạ thần khuyên Thánh thượng nên vượt sông, và chừng nào giặc lui thì Người cứ tiến và thực hiện kế này: Thần biết bọn Massagetae chẳng biết cái đinh gì về những thứ tốt đẹp của dân tộc Ba Tư an hưởng, và chẳng cảm thấy những yếu tố của một cuộc sống hạnh phúc! Quân ta nên cung cấp cho giặc một bữa tiệc thịnh soạn nhất ngay tại trại của quân ta, với nhiều con cừu bị giết... rượu... Sau đó, Hoàng thượng hãy kéo đại quân đi, để lại một đám lính tồi tệ... giặc sẽ liên hoan... và đó là thời cơ để Người dáng cho giặc một đòn khủng khiếp.

—Kroisos

Họa phẩm của danh họa Peter Paul Rubens - "Nữ vương Tomyris trước cái đầu của vua Cyrus", cho thấy một người lính đến yết kiến Nữ hoàng Tomyris của người Massagetae, dâng cho bà ta cái đầu của Hoàng đế Cyrus Đại Đế, và bỏ nó vào vũng máu. Trong khi Nữ vương Tomyris nhìn chăm chú vào cái đầu của kẻ đã giết chết con trai của bà ta, toàn quân Massagetae vui mừng với chiến thắng. Bên cạnh vị Nữ hoàng có một đám nữ tỳ đứng hầu.[70]

Lúc này, không có một cái vì khiến Hoàng đế Cyrus Đại Đế phải sợ người Massagetae cả, bởi lẽ họ là những chiến binh du mục, còn ông là một nhà chinh phạt của Ecbatana, Babylon và Sardis. Trong khi ông trở thành một chiến binh văn minh hơn theo đó, người Massagetae lúc bấy giờ chẳng khác gì tổ tiên người Aryan của ông 2500 năm về trước.[71] Ông nghe theo lời của Kroisos và gửi thư cho Nữ hoàng Tomyris, đề nghị bà rút về lãnh thổ của bà, để ông kéo quân đến đánh. Bà giữ đúng lời hứa, và Hoàng đế Cyrus Đại Đế huấn lệnh thiết tha, mong Kroisos hãy tôn kính và vinh danh tân Hoàng đế Cambyses II nếu ông bị đánh bại. Ông để lại cả Kroisos lẫn Thái tử Cambyses ở nước Ba Tư và xuất quân. Một đêm sau khi vượt qua sông Araxes, ông ngủ trên đất của người Massagetae, và ông chiêm bao thấy ác mộng. Ông nằm mộng thấy cậu con trưởng của tướng Hystaspes xòe ra hai cánh ở hai vai, một cánh bao phủ châu Á và một cánh bao phủ châu Âu. Trong lúc ấy, con trưởng của tướng Hystaspes, thuộc dòng dõi nhà Achaemenes, là Công tử Darius, mới 20 tuổi và chưa phải theo vua đánh trận. Khi tỉnh giấc, Hoàng đế Cyrus Đại Đế lo sợ, ông gọi tướng Hystaspes và nói riêng:[72][73]

Này Hystaspes, Quả nhân vừa phát hiện một âm mưu của con trai Khanh, hắn muốn lật đổ Quả nhân. Ái Khanh nghe đây, Trẫm có lý do chính đáng để xác thực điều này! Thánh thần luôn phù hộ cho Trẫm và báo cho Trẫm biết trước là điều gì sẽ xảy ra. Đêm qua, Trẫm nằm mộng thấy con trai Khanh có hai cái cánh ở hai vai của hắn: một cánh bao phủ châu Á và cánh kia bao phủ châu Âu. Chẳng cần phải thắc mắc gì với ý nghĩa của ác mộng này - hắn đang làm phản. Ái Khanh hãy mau chóng trở về Ba Tư, và khi nào Quả nhân chiến thắng trở về, Ái Khanh hãy đem hắn ra xét xử.

—Cyrus Đại Đế

Herodotus có lời bàn rằng, Hoàng đế Cyrus Đại Đế đã không hiểu ý nghĩa thực chất của ác mộng này. Thánh thần đã báo trước cho ông biết rằng, ông sắp qua đời, và Công tử Darius sẽ lên ngôi Hoàng đế sau này. Tướng Hystaspes tâu với vua:[72]

Muôn tâu Chúa thượng, thiết nghĩ không có một người Ba Tư nào sinh ra lại mưu phản, và nếu có, người đó sẽ chết chắc! Lúc Người mới chính vị hiệu, dân ta làm nô lệ và Người đã giải phóng dân ta; Người thấy dân ta phải thần phục người khác thì Người đã đưa dân ta lên trị vì toàn bộ nhân loại. Nếu Chúa thượng được báo mộng rằng con trai của Hạ thần mưu phản, Hạ thần sẽ giao hắn cho Người để Người làm tất cả những gì mà Người mong muốn!

—Hystaspes

Như vậy là tướng Hystaspes vượt qua sông trở về nước để theo dõi con trai mình. Về phần mình, nhà vua tiếp tục tiến hành chiến dịh của ông. Theo lời cựu hoàng Kroisos, Ông kéo quân chủ lực đi và để lại một số binh sĩ yếu ớt tại nơi mà ông biết người Massagetae sẽ tiến tới. Một cánh quân Massagetae đã tấn công và tiêu diệt đạo quân này, bất chấp sự kháng cự yếu ớt của đạo quân Ba Tư kia. Nhưng, quả như ông đoán, người Massagetae nhìn thấy lương thực của Quân đội Ba Tư, bao gồm thịt, rượu. Họ chè chén linh đình, ăn thịt, uống rượu cho đến say và ngủ thiếp đi. Nhà vua mới kéo quân chính quy quay lại đó, và tấn công người Massagetae. Quân đội của ông thẳng tay tàn sát người Massagetae, bắt được vô số tù binh (số lượng tù binh còn nhiều hơn cả số người Massagetae tử vong). Không những thắng trận mà Hoàng đế Cyrus Đại Đế còn bắt sống được Spargapises - con trai của Nữ vương Tomyris.[72][73]

Tên khát máu Cyrus kia, đừng có mà tự hào với chiến thắng vớ vẩn của Ngươi: đó là một thứ nước ép nho... Ngươi đã dùng độc dược này để đánh lừa con trai của Ta, rồi bắt sống nó, chứ không chiến đấu công bằng, là đánh một trận hẳn hoi... hãy nhớ, Ta khuyên Ngươi là để giúp Ngươi làm điều tốt. Hãy trao trả con cho Ta, và rút hết toàn quân của Ngươi ra khỏi lãnh thổ của Ta... Nếu Ngươi từ chối, Ta thề trước Mặt Trời - vị Chúa tể tối cao của người Massagetae... Ta sẽ cho Ngươi tha hồ uống máu.

—Tomyris

Nhưng ông không thèm chú ý gì đến lá thư của Nữ vương Tomyris,[74] và ngay khi nhận thấy thời cơ, Hoàng tử Spargapises liền tự sát. Như vậy, một trận đánh nữa nhất định sẽ diễn ra. Trong suốt cuộc đời chinh chiến của mình, nhà vua thường tính toán sáng suốt và xuất sắc; thế nhưng ông đã sai lầm khi tiến đánh người Massagetae. Năm xưa, tiên vương Cambyses I có lẽ đã khuyên ông không nên giao chiến với những chiến binh du mục như vậy trên thảo nguyên; nhưng, xưa nay ông liên tục thắng trận nên không còn lo sợ gì nữa. Nữ vương Tomyris triệu tập tất cả các đội quân của người Massagetae,[74] và theo Herodotus đây là trận chiến khốc liệt và ghê tởm nhất trong tất cả các trận chiến vào thế kỷ này. Hai bên đánh nhau cả ngày, và cuối cùng thì người Massagetae thắng lợi. Nữ vương Tomyris cho đám cận vệ tìm thi hài của Hoàng đế Cyrus Đại Đế, và bà chặt đầu ông, bỏ cái đầu ông vào một cái thùng to chứa đầu máu:[73]

Ta sống sót và đánh bại Ngươi, nhưng Ta đã suy sụp vì Ngươi dùng thủ đoạn mà bắt sống con trai của Ta; tuy nhiên, Ta sẽ làm theo lời đe dọa của Ta, và cho Ngươi tha hồ uống máu.

—Tomyris

Nghi vấn xung quanh cuộc chiến tranh Ba Tư - Massagetae[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng đế Cyrus Đại Đế - vị "Vua của các vị vua" - đã bị vị Nữ vương trên thảo nguyên - Tomyris tiêu diệt.[73] Nhà sử học Diodorus Siculus có ghi nhận gần giống với Herodotus,[75] đại ý như sau: ông là vị vua hùng mạnh hơn cả trong thời ấy, và thân chinh thống lĩnh một lực lượng Quân đội hùng cường đi đánh xứ Scythia. Nữ vương của người Scythia đánh bại Quân đội Ba Tư, bắt sống và hành quyết vua Cyrus Đại Đế, thể hiện lòng dũng cảm của những nữ chiến binh Amazon.[76][77] Diodorus có lẽ ghi rõ hơn Herodotus, rằng vị Nữ vương người Scythia đã trực tiếp bắt sống và giết ông, chứ Herodotus không ghi rõ là Nữ vương Tomyris có trực tiếp giết ông và trực tiếp đi tìm thi hài của ông hay không? [78]

Theo Trogus Pompeius và Jornandes thì chính Hoàng đế Darius Đại Đế - vị vua trong cơn ác mộng của Hoàng đế Cyrus Đại Đế (theo Herodotos)[79] - mới là ông vua đã đề nghị kết hôn với một vị Nữ vương người Scythia.[80] Diodorus là nhà sử học duy nhất bảo ông bị tra tấn. Tuy nhiên, một lăng tẩm tại kinh đô Pasargadae, đã được xác nhận là lăng mộ của ông, nên điều này dấy lên tranh cãi.[63] Chính Herodotus cũng không hề giải thích về việc Quân đội Ba Tư có giành lấy thi hài của nhà vua và đem về kinh thành Pasargadae hay không?[76] Một pháo đài được ông xây dựng gần sông Araxes (Jarxates), tồn tại cho đến thời vua Alexandros Đại Đế, có thể cho thấy nhà vua Ba Tư đã hoạt động tích cực ở biên giới với người Massagetae. Tuy nhiên, ngay cả bằng chứng có sẵn cũng không thể khẳng định rằng ông đã một vị Nữ vương du mục giết. Sau trận đánh, quân lính Ba Tư nhất định phải mang thi hài ông về kinh đô Pasargadae. Ngay cả đối với Nữ vương Tomyris, người ta không thể khẳng định rõ là bà ta có thật hay không? [64]

Qua đời bình yên ở kinh đô Pasargadae?[sửa | sửa mã nguồn]

Và, nhà sử học Xenophon là người duy nhất ghi nhận ông qua đời bình yên trên đất Ba Tư, và có thể Xenophon nói đúng hơn cả.[63]

Theo cuốn Cyropaedia của nhà sử học. Xenophon, ông không tử trận, mà chỉ đột ngột qua đời ở kinh thành của ông.[81] Theo Xenophon, sau khi chinh phạt xứ Ai Cập, ông cùng thần dân sinh sống trong hòa bình trong bảy năm cuối thịnh trị của triều đại ông. Thần dân Ba Tư thuộc tất cả mọi tầng lớp đều tôn kính và yêu mến ông.[53] Ghi nhận về những năm tháng huy hoàng này trong tác phẩm "Cyropaedia" cũng giống như giai đoạn tương tự trong triều đại vua Kay Khosrow, theo huyền sử Ba Tư. Đại khái huyền sử Ba Tư cũng ghi vua hiền Kay Khosrow thương dân, dựng nước, lập pháp, v.v...[82]

Tử trận khi đánh người Derbices?[sửa | sửa mã nguồn]

Câu chuyện về cái chết của ông theo Herodotus không hề có giá trị cao hơn câu chuyện của những nhà sử học khác.[83] Tác phẩm "Persica" của nhà sử học Ctesias có ghi nhận khác về cái chết của ông. Ctesias viết có theo trình tự thời gian, và nửa giống Herodotus, nửa giống Xenophon.[3] Theo đó, đi đánh người Derbicae. Không hề có một vị Nữ vương nào trong câu chuyện này, và người Derbicae do vua Amoraios thân chính thống lĩnh.[3] Trong trận đánh này, người Derbicae được hỗ trợ bởi những cung thủ và kỵ sĩ người Scythia khác, và cả quân Ấn Độ cùng với những voi chiến của họ.[84] Tượng binh Ấn Độ phục kích, làm cho lực lượng Kỵ binh Ba Tư phải bỏ chạy. Hoàng đế Cyrus Đại Đế cũng ngã ngựa, và, một tên lính Ấn Độ phóng lao vào phần dưới của bắp đùi của ông. Theo Ctesias, đó là nguyên nhân khiến ông qua đời.[85]

Những chiến binh của Đế quốc Ba Tư cổ đại.

Tuy nhiên, trong lúc đó ông vẫn còn sống sót, các bạn hữu và thân quyến của ông mang ông ra khỏi trận và đưa ông vào trại của Quân đội Ba Tư. Cả hai bên đều có 10.000 quân thiệt mạng trong trận đánh, cả Quân đội Ba Tư lẫn người Derbicae đều chịu tổn thất nặng nề.[85][86] Theo Ctesias, trận chiến giữa Quân đội Ba Tư và người Derbices diễn ra ở phía Đông Bắc của thượng nguồn sông Syr Darya.[87] Điểm giống duy nhất của câu chuyện này với câu chuyện của Herodotos về cái chết của nhà vua Ba Tư, là trận chiến bùng nổ tại biên giới phía Đông của Đế quốc Ba Tư.[3]

Đồng minh của ông - vua Amorges người Sacae - nhận được tin dữ về ông[85]. Ngay lập tức, vị vua này mang 20.000 Kỵ binh Sacae đến tiếp viện. Với sự hỗ trợ của người Sacae hùng mạnh,[3] Quân đội Ba Tư tiếp tục chiến đấu quả cảm, giao chiến ác liệt với người Derbicae,[88] và cuối cùng, chiến thắng thuộc về liên quân Sacae - Ba Tư, đội quân Derbicae bị hủy diệt.[3][89] Công cuộc chinh phạt người Derbicae đã kết thúc thắng lợi.[3] Vua Amoraios người Derbicae cùng với hai cậu con trai đều chết trận; và, 3 vạn quân Derbicae tử vong trong chỉ có 9 nghìn quân Ba Tư thiệt mạng. Người Derbicae tuyên thệ trung thành với Hoàng đế Cyrus Đại Đế.[85] Và, theo nhà sử học Ctesias, không phải là ông không nói lời chia tay cuối cùng với Hoàng gia Ba Tư và cận thần trước khi về cõi vĩnh hằng:[3]

Lúc lâm chung, ông nhường ngôi Hoàng đế cho người con trưởng của ông. Con thứ của ông là Tanyoxarkes được phong làm lãnh chúa của người Bactria và các miền đất của họ, đồng thời, trị vì cả những người Chorasmia, Parthia và Carmania. Nhà vua cũng khuyên con nên để cho những người này khỏi phải nộp thuế. Không những thế, đối với những người con của Spitamas - chồng cũ của Hoàng hậu Amytis vợ ông - ông phong Spitakes làm quan Tổng trấn của người Derbicae. Nhà vua cũng phong em Spitakes là Megabernes làm quan Tổng trấn của người Barcania. Ông khuyên họ phải luôn luôn nghe lời mẹ; ông cũng dùng tay phải mà bắt tay với vua Amorges cùng với mọi người khác, siết chặt tình bạn của ông đối với bọn họ. Ông còn hứa hẹn họ sẽ luôn luôn hạnh phúc nếu họ chung sống thân thiết với nhau, và họ sẽ đáng nguyền rủa nếu họ đối xử tệ bạc với nhau.[85]

Sau những lời răn dạy cuối cùng này, nhà vua qua đời vào ngày thứ ba sau khi ông bị thương. Kết thúc 30 năm trị vì của ông.[85] Về việc ông bắt tay với vua Amorges và tất cả mọi người, nhà sử học Xenophon cũng có ghi nhận về việc nhà vua bắt tay với tất cả những ai xung quanh ông trước khi ông tạ thế.[85] Trong sử sách của Ctesias, vua Amorges - một kẻ thù từng bị Hoàng đế Cyrus Đại Đế đánh bại - trở nên người bạn thân thiết cuả ông, và có vai trò tương đương với Quốc vương Kroisos xứ Lydia trong bộ sử của Herodotos. Trong khi theo Herodotos, ông căn dặn cựu vương Lydia phò tá vua con Cambyses II khi đánh người Massagetae, theo Ctesias ông cũng căn dặn vua Amorges phải thân thiết với các con của ông trước khi ông về cõi vĩnh hằng.[75]

Cuốn sử thứ 12 của Ctesias mở đầu với cuộc đăng quang của vua Cambyses II. Ngay sau đó, vị tân Hoàng đế truyền lệnh cho quan Thái giám Bagapates mang thi hài vua cha Cyrus Đại Đế trở về Ba Tư để làm lễ an táng, và huấn lệnh Bagapates làm theo tất cả những lời trăn trối của ông. Quan Thái giám Bagapates - vốn từng là sủng thần của ông - tiếp tục ảnh hưởng lớn đến Hoàng đế Cambyses II. Với việc tân Hoàng đế Cambyses làm lễ an táng ông, sử sách của Ctesias đã phần nào trùng khớp với những ghi nhận về Lăng mộ của Cyrus Đại Đế trong cuộc chinh phạt Ba Tư của vua Alexandros Đại Đế.[80][90]

Những ghi nhận khác[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà sử học Berrosus lại cho rằng ông tử trận khi đánh người Dahae (Daai) ở phía Tây Bắc thượng nguồn của sông Syr Darya. Người Dahae một tộc người Scythia ở miền Tây Trung Á. Sự khác biệt giữa các nhà sử học khi nói về tộc người nào đã giết nhà vua Ba Tư có thể là do: trên thực tế, người Derbices là một phần của liên minh các bộ lạc hùng mạnh của tộc người Massagetae sống trên những thảo nguyên giữa các biển Caspian và Aras. Trong thời của nhà sử học Ctesias, họ là những người hùng mạnh hơn cả trong số những người Massagetae. Nhưng đến thời của Berossus, người Dahae đã hạ thấp vai trò của người Massagetae trong lịch sử. Vì vậy, Berrosus cho rằng Hoàng đế Cyrus Đại Đế tử trận khi ông giao chiến với người Dahae.[88]

Johannes Melach xứ Antioch thì dẫn nguồn từ một tác phẩm bị lãng quên được cho là của nhà toán học Pythagoras xứ Samos, cho rằng ông tử trận trong một trận thủy chiến với người Samos. Không những thế, bản chất đáng ngờ của nguyên nhân cái chết của ông còn thể hiện như sau: theo Lucian (dẫn nguồn của nhà văn Onesicritus), khi đã hơn 100 tuổi, ông qua đời do buồn bã, vì Hoàng thái tử Cambyses đã sát hại phần lớn những bạn hữu của ông. Tuy nhiên, Hoàng đế Cambyses II lên nối ngôi đã vinh danh ông, xây dựng lăng tẩm cho ông tại kinh thành Pasargadae - nơi ông đã đánh bại Hoàng đế Astyages.[91][92]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Ở một mức độ và phạm vi nào đó, những thành tựu của ông còn đáng đánh giá cao hơn nhiều so với các thành tựu của vua Alexandros Đại Đế xứ Macedonia - vị vua đã đánh đổ đế quốc của ông vào năm 320 trước Công Nguyên nhưng không thể tiêu diệt hoàn toàn đế quốc này.

—Charles Freeman trong cuốn 'The Greek Achievement'[93]

Cyrus Đại đế là một nhà chinh phạt tài ba, một quân nhân tuyệt vời, và là người sáng lập một đế quốc rộng lớn chưa từng thấy. Sau này, các tác gia CiceroScipio Africanus đã thể hiện sự hâm mộ đối với những chiến công hiển hách của ông.[94] Tuy nhiên, với Trụ Cyrus và một loạt văn bản của người Do Thái, cộng thêm những bài viết của Xenophon, ông được ca tụng như một người giải phóng hơn là một ông hoàng chinh phạt.[7] Nhà vua được đề cập đến 22 lần trong kinh Cựu Ước, nơi ông được tôn vinh vô điều kiện. Việc đề cập này bắt đầu sau khi ông giải phóng người Do Thái khỏi Babylon và cho hơn 40.000 người Do Thái trở về quê hương.

Cho đến ngày nay, nhiều người cho rằng ông vĩ đại hơn cả vua Alexandros Đại đế, xét về những thành tựu của ông. Trên thực tế, bản thân thiên tài quân sự xứ Macedonia này cũng vô cùng mến mộ và thán phục Hoàng đế Cyrus Đại Đế - vị vua vĩ đại đã thống nhất hai dân tộc Media và Ba Tư:[95] ngay từ khi còn trẻ, vua Alexandros Đại Đế đã đọc tác phẩm "Cyropaedia" của nhà sử học Xenophon, trong đó thể hiện chí khí hào hùng của ông khi đánh trận và khi trị quốc, đồng thời thể hiện tài năng làm vua và nhà lập pháp của ông.[96] Từ đó vua Alexandros Đại Đế ngưỡng mộ ông, và trong chuyến viếng thăm đến cố đô Pasargadae, vị vua xứ Macedonia đã tỏ lòng hết sức kính trọng ông, qua việc truyền lệnh cho Aristobulus trang hoàng cái phòng bên trong lăng tẩm của ông.[96]

Trụ của Kourosh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trụ của Kourosh

Trụ của Kourosh, một trong những hiến chương đầu tiên về nhân quyền. Bảo tàng Anh Quốc.]] Trụ của Kourosh được phát hiện năm 1878 tại địa điểm Babylon. Nó được ghi bằng chữ hình nêm của người Akkad. Bây giờ trụ của Kourosh được đặt ở Bảo tàng Anh Quốc. Nó đề cập đến cuộc chinh phạt Babylon năm 539 TCN của Kourosh Đại đế cũng như xự cư xử khoan hồng của ông đối với thần dân các miền đất bị ông chinh phạt.[7]

Phả hệ của Kourosh[sửa | sửa mã nguồn]

 
 
 
Achaemenes
Vua Ba Tư
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Teispes
Vua Ba Tư
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ariaramnes
Vua Ba Tư*
 
Cyrus I
Vua Anshan
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Arsames
Vua Ba Tư*
 
Cambyses I
Vua Anshan
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Hystapes
Hoàng tử
 
Cyrus II
Vua Ba Tư
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Darius I
Vua Ba Tư
 
Cambyses II
Vua Ba Tư
 
Smerdis
Hoàng tử (Thấy tế Gaumata lấy tên Smerdis và cướp ngôi)*
 
Artystone
Công chúa
 
Atossa
Công chúa
 
 
 
* Những ông vua chưa được xác định, chỉ được biết thông qua Bia văn Behistun.


Cyrus Đại đế
Sinh: khoảng 599 TCN hay 576 TCN Mất: 530 TCN
Tiền vị:
Kambujiya I
Vua Ba Tư
559 TCN–530 TCN
Kế vị
Kambujiya II
Tiền vị:
Ishtovigu
Vua Mada
550 TCN–530 TN

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 79
  2. ^ Ghasemi, Shapour. “The Cyrus the Great Cylinder”. Iran Chamber Society. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2009. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h i Vivienne J. Gray, Xenophon, trang 447
  4. ^ Vivienne J. Gray, Xenophon, trang 448
  5. ^ Vivienne J. Gray, Xenophon, trang 449
  6. ^ Vivienne J. Gray, Xenophon, trang 450
  7. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n Cyrus the Great
  8. ^ a ă Philip De Souza, The Greek and Persian Wars, 499-386 BC, trang 19
  9. ^ George Sarton, Ancient science through the golden age of Greece, trang 159
  10. ^ Ghias Abadi, R. M. (2004). Achaemenid Inscriptions lrm; (bằng Persian) (ấn bản 2). Tehran: Shiraz Navid Publications. tr. 19. ISBN 964-358-015-6. 
  11. ^ Kent, Ronald Grubb (1384 AP). Old Persian: Grammar, Text, Glossary (bằng Persian). translated into Persian by S. Oryan. tr. 393. ISBN 964-421-045-X. 
  12. ^ Dandamaev 1989, tr. 71
  13. ^ Jona Lendering. “livius.org”. livius.org. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2009. 
  14. ^ "Ba Tư" - Mục từ trong Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam
  15. ^ Xenophon, Anabasis I. IX; see also M.A. Dandamaev "Cyrus II", in Encyclopaedia Iranica.
  16. ^ a ă â Schmitt Achaemenid dynasty (i. The clan and dynasty)
  17. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 78
  18. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 44
  19. ^ Kuhrt, Amélie (1995). “13”. The Ancient Near East: C. 3000-330 BC. Routledge. tr. 647. ISBN 0-4151-6762-0. 
  20. ^ Muḥammad Ḥusayn Ḥusaynī Farāhānī, Hafez F. Farmayan, Elton L. Daniel, A Shiʻite pilgrimage to Mecca, (1885-1886): the Safarnâmeh of Mirzâ Moḥammad Ḥosayn Farâhânî, trang 81
  21. ^ Cambridge Ancient History IV Chapter 3c. p. 170. The quote is from the Greek historian Herodotus
  22. ^ Pierre Briant, From Cyrus to Alexander: A History of the Persian Empire, trang 62
  23. ^ The Greeks in Bactria & India, trang 285
  24. ^ Beckwith, Christopher. (2009). Empires of the Silk Road: A History of Central Eurasia from the Bronze Age to the Present. Princeton and Oxford: Princeton University Press. ISBN 978-0-691-13589-2. Page 63.
  25. ^ Cyrus's date of death can be deduced from the last two references to his own reign (a tablet from Borsippa dated to 12 August and the final from Babylon 12 September 530 BC) and the first reference to the reign of his son Cambyses (a tablet from Babylon dated to 31 August and or 4 September), but a undocumented tablet from the city of Kish dates the last official reign of Cyrus to 4 December 530 BC; see R.A. Parker and W.H. Dubberstein, Babylonian Chronology 626 B.C. - A.D. 75, 1971.
  26. ^ Vivienne J. Gray, Xenophon, trang 361
  27. ^ Dandamayev Cyrus (iii. Cyrus the Great) Cyrus’ religious policies.
  28. ^ a ă â b c d History of Iran: Cyrus The Great
  29. ^ The Cambridge Ancient History Vol. IV p. 42. See also: G. Buchaman Gray and D. Litt, The foundation and extension of the Persian empire, Chapter I in The Cambridge Ancient History Vol. IV, 2nd Edition, Published by The University Press, 1927. p. 15. Excerpt: The administration of the empire through satrap, and much more belonging to the form or spirit of the government, was the work of Cyrus...
  30. ^ Lawrence Heyworth Mills (1906). Zarathustra, Philo, the Achaemenids and Israel. Open Court. tr. 467. 
  31. ^ “Isaiah 45:1-7 (Passage)”. Bible gateway (New International Version). 2010. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2010. 
  32. ^ Vesta Sarkhosh Curtis, Sarah Stewart (2005). Birth of the Persian Empire. I.B.Tauris. tr. 7. 
  33. ^ Margaret Christina Miller (2004). Athens and Persia in the Fifth Century BC: A Study in Cultural Receptivity. Cambridge University Press. tr. 243. 
  34. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 46
  35. ^ Max Mallowan p. 392. and p. 417
  36. ^ Phần lớn sử sách đều xem năm 600 TCN hay 575 TCN là năm sinh của vua Cyrus Đại Đế; kinh Torah nói ông đã 40 tuổi vào năm 599 TCN (theo như các học giả Kinh Thánh đời sau), nhưng một nguồn ít chính xác hơn xem ông sinh năm 600 TCN, cho thấy có thể sai sót một năm. Các tài liệu bằng chữ hình nêm cho thấy có khả năng ông đã sinh năm 576 TCN, nhưng một lần nữa, một số nguồn khác lại cho một năm tiêu chuẩn là 575 TCN
  37. ^ Otto Rank, Gregory C. Richter, E. James Lieberman, The myth of the birth of the hero: a psychological exploration of myth, trang 228
  38. ^ Donald K. Sharpes, Lords of the scrolls: literary traditions in the Bible and Gospels, trang 168
  39. ^ Gary Forsythe, A Critical History of Early Rome: From Prehistory to the First Punic War, trang 95
  40. ^ Louis H. Feldman, Gōhei Hata, Josephus, Judaism and Christianity, trang 35
  41. ^ Louis H. Feldman, Jew and Gentile in the ancient world: attitudes and interactions from Alexander to Justinian, trang 246
  42. ^ Otto Rank, Gregory C. Richter, E. James Lieberman, Otto Rank, Gregory C. Richter, E. James Lieberman, trang 28
  43. ^ E. H. Whinfield, The Quatrains of Omar Khayyam, trang 293
  44. ^ a ă Bộ sử "Historiai" của Herodotos, cuốn thứ nhất
  45. ^ Roberto, Michael (2005). Why Great Leaders Don't Take Yes for an Answer. Nhà xuất bản Wharton School. tr. 304. ISBN 0131454390.  p. 3.
  46. ^ Croesus vua thứ 5 và cuối cùng của vương triều Mermnad
  47. ^ Samuel Willard Crompton, Alexander the Great, trang 30
  48. ^ Frank Northen Magill, Christina J. Moose, Alison Aves, Dictionary of World Biography: The ancient world, trang 311
  49. ^ Những người Do Thái vốn đã bị bắt về Babylonia bởi vua Nebuchadrezzar II của Babylonia, sau khi ông vua này tàn phá thánh địa Jerusalem.
  50. ^ Sebastian Adams, Adam's Syn Chronological Chart of Map of History, trang 14
  51. ^ Eric Mitchell, Archie England, Old Testament Survey: A Student's Guide, trang 344
  52. ^ Martin Sicker, The pre-Islamic Middle East, trang 79
  53. ^ a ă Charles Rollin, Ancient history: History of the Persians, trang 51
  54. ^ Max Duncker, The history of antiquity, Tập 6, trang 121
  55. ^ Amélie Kuhrt, The Persian Empire, Tập 2, trang 58
  56. ^ Once a week, Tập 10, trang 348
  57. ^ Amélie Kuhrt, The Persian Empire, Tập 2, trang 59
  58. ^ Deborah Levine Gera, Warrior women: the anonymous Tractatus de mulieribus, trang 89
  59. ^ Sir William Smith, Dictionary of Greek and Roman biography and mythology, trang 922
  60. ^ East India Company, The Asiatic journal and monthly miscellany, Tập 3, trang 20
  61. ^ John Bell, Bell's New Pantheon Or Historical Dictionary of the Gods, Demi Gods, Heroes and Fabulous Personages of Antiquity, trang 216
  62. ^ Jacob Abbott, Cyrus the Great, trang 270
  63. ^ a ă â Diodorus (Siculus.), Edwin Murphy, The antiquities of Asia: a translation with notes of book II of the Library of history, of Diodorus Siculus, trang 58
  64. ^ a ă Deborah Levine Gera, Warrior women: the anonymous Tractatus de mulieribus, trang 203
  65. ^ Henri Daniel-Rops, Sacred history, trang 310
  66. ^ a ă â b c Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 83
  67. ^ Vivienne J. Gray, Xenophon, trang 444
  68. ^ a ă â b Herodotus, Samuel Shirley, James S. Romm, On the war for Greek freedom: selections from the Histories, trang 47
  69. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 82
  70. ^ Herodotus, Donald Lateiner, G. C. Macaulay, The histories, trang 506
  71. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 84
  72. ^ a ă â Herodotus, Samuel Shirley, James S. Romm, On the war for Greek freedom: selections from the Histories, trang 48
  73. ^ a ă â b Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 85
  74. ^ a ă Andrew Burke, Mark, Iran, trang 29
  75. ^ a ă Vivienne J. Gray, Xenophon, trang 446
  76. ^ a ă David Asheri, Alan B. Lloyd, Aldo Corcella, Oswyn Murray, Alfonso Moreno, A commentary on Herodotus, Sách 1-4, trang 216
  77. ^ Diodorus (Siculus.), The historical library of Diodorus the Sicilian: in fifteen books. To which are added the fragments of Diodorus, and those published by H. Valesius, I. Rhodomannus, and F. Ursinus, Tập 1, trang 137
  78. ^ Deborah Levine Gera, Warrior women: the anonymous Tractatus de mulieribus, trang 202
  79. ^ Samuel Willard Crompton, Cyrus the Great, trang 87
  80. ^ a ă George (Manchester, Duke), The times of Daniel, trang 44
  81. ^ Xenophon, Cyropaedia VII. 7; M.A. Dandamaev, "Cyrus II", in Encyclopaedia Iranica, p. 250. See also H. Sancisi-Weerdenburg "Cyropaedia", in Encyclopaedia Iranica, on the reliability of Xenophon's account.
  82. ^ A New Analysis of Chronology, in which an Attempt is Made to Explain the..., trang 107
  83. ^ David Asheri, Alan B. Lloyd, Aldo Corcella, Oswyn Murray, Alfonso Moreno, A commentary on Herodotus, Sách 1-4, trang 212
  84. ^ A history of Greece, Volume 2, By Connop Thirlwall, Longmans, 1836, p. 174
  85. ^ a ă â b c d đ Amélie Kuhrt, The Persian Empire, Tập 2, trang 101
  86. ^ Jan P. Stronk, Ctesias' Persian History: Part 1: Introduction, Text, and Translation, Phần 1, trang 317
  87. ^ A history of Greece, Volume 2, By Connop Thirlwall, Longmans, 1836, p. 174
  88. ^ a ă János Harmatta, History of Civilizations of Central Asia: The development of sedentary and nomadic civilizations, 700 B.C. to A.D. 250, trang 371
  89. ^ Louis-Ellies Du Pin, The universal library of historians... containing an account of their lives...done into English from the Paris edition, trang 80
  90. ^ Jan P. Stronk, Ctesias' Persian History: Part 1: Introduction, Text, and Translation, Phần 1, trang 323
  91. ^ James Ussher, The Annals of the World, trang 119
  92. ^ Andrei Codrescu, Thus spake the Corpse: an Exquisite corpse reader, 1988-1998, trang 286
  93. ^ Freeman 1999: tr. 188
  94. ^ Frank Northen Magill, Christina J. Moose, Alison Aves, Dictionary of World Biography: The ancient world, trang 312
  95. ^ Samuel Willard Crompton, Alexander the Great, trang 37
  96. ^ a ă Ulrich Wilcken (1967). Alexander the Great. W. W. Norton & Company. tr. 146. 

Sách đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu cổ

Tài liệu hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]