Bước tới nội dung

Bosporus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Eo biển Bosporus
İstanbul Boğazı (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ)
Eo biển Bosporus trên bản đồ Istanbul
Eo biển Bosporus
Eo biển Bosporus
Eo biển Bosporus trên bản đồ Thổ Nhĩ Kỳ
Eo biển Bosporus
Eo biển Bosporus
Eo biển Bosporus trên bản đồ Châu Âu
Eo biển Bosporus
Eo biển Bosporus
Eo biển Bosporus trên bản đồ Châu Á
Eo biển Bosporus
Eo biển Bosporus
LoạiEo biển
Một phần củaCác eo biển Thổ Nhĩ Kỳ
Lưu vực quốc giaThổ Nhĩ Kỳ
Chiều dài tối đa30 km (19 mi)
Chiều rộng tối đa3,7 km (2,3 mi)
Độ sâu trung bình65 m (213 ft)
Độ sâu tối đa124 m (407 ft)
Bosporus trên bản đồ Châu Âu
Bosporus
Dardanelles
Bản đồ vị trí của Các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, với Bosporus màu đỏ và Dardanelles màu vàng. Lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ màu xanh.

Bosphorus hay Eo biển Bosphorus[b] là một eo biển tự nhiên và tuyến đường thủy quan trọng của Thổ Nhĩ Kỳ, đi qua Istanbul. Eo biển nối Biển Marmara với Biển Đen và một địa giới lục địa giữa châu Âu và châu Á, đồng thời chia tách Thổ Nhĩ Kỳ thành Tiểu ÁĐông Thracia. Eo biển Bosporus dài 30 km, điểm rộng nhất là 3,7 km ở lối vào phía bắc, điểm hẹp nhất là 0,75 km giữa hai pháo đài Anadoluhisari và Rumelihisari. Độ sâu dao động trong khoảng từ 36 đến 124 mét tính theo giữa luồng.

Trên các bờ của eo biển này có khá đông dân cư sinh sống, do thành phố (dân số ít nhất là 11 triệu người) nằm ở cả hai bờ của nó.

Có hai cầu xuyên qua eo biển Bosphore. Cây cầu đầu tiên là cầu Bogazici (Bosphore I) dài 1.074 mét được xây dựng xong vào năm 1973. Cây cầu thứ hai là cầu Fatih Sultan Mehmed (Bosphore II) dài 1.090 mét được hoàn thành năm 1988 cách cầu thứ nhất khoảng 5 km về phía bắc.

Marmaray- tuyến đường sắt dài 13,7 km chạy theo đường hầm đang được xây dựng và dự kiến hoàn thành vào tháng 10 năm 2013. Khoảng 1.400 mét của đường hầm sẽ chạy dưới đáy eo biển này ở độ sâu khoảng 55 mét.

Truyền thuyết

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi này gắn liền với thần thoại Hy Lạp về chuyến đi của Io sau khi thần Zeus biến nữ thần này thành một con để bảo vệ nàng.

Trong thần thoại, người ta cũng kể rằng các tảng đá di động đã từng nghiền nát bất cứ tàu thuyền nào có ý định vượt qua eo biển Bosphore cho đến khi người anh hùng Jason tìm được lối đi nhờ các mưu kế tinh khôn làm cho các tảng đá bị cố định lại và lối đi của người Hy Lạp vào biển Đen đã được thông suốt.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Eo biển Bosphore đã hình thành vào khoảng năm 5600 TCN khi mực nước biển của Địa Trung Hải/biển Marmara lên cao đã tràn qua nó vào biển Đen - vào thời kỳ đó là một khu vực chứa nước ngọt rất nông.

Một số người cho rằng các trận ngập lụt diện rộng diễn ra ở các khu vực bờ phía bắc của biển Đen khi đó có người sinh sống và cày cấy là nền tảng lịch sử của các câu chuyện về ngập lụt trong sử thi GilgameshKinh Thánh. (Xem thuyết đại hồng thủy biển Đen.)

Như là điểm hẹp nhất trong hành lang nối biển Đen với Địa Trung Hải, vịnh Bosphore luôn có tầm quan trọng chiến lược và thương mại lớn. Nhà nước Athena cổ đại của người Hy Lạp vào thế kỷ 5 TCN đã rất phụ thuộc vào ngũ cốc nhập khẩu từ Scythia, vì thế sự liên minh với các thành phố kiểm soát eo biển này, chẳng hạn như thuộc địa Megara của Byzantine là cần phải được duy trì và bảo vệ.

Tầm ảnh hưởng chiến lược của eo biển này đã là một trong các yếu tố quan trọng trong quyết định của hoàng đế La Mã là Đại Đế Constantine khi ông thiết lập thủ đô mới của mình vào năm 330Constantinopolis. Thành phố này vào năm 1453 đã trở thành thủ đô của Đế quốc Ottoman và những pháo đài trên cả hai bờ của eo biển gần với thành phố của Đế quốc Byzantine mà người Ottoman đã xây dựng là Anadoluhisari (1393) và Rumelihisari (1451).

Tầm quan trọng chiến lược của eo biển Bosphore vẫn là rất đáng kể và sự kiểm soát nó đã từng là chủ đề của một loạt các cuộc chiến trong lịch sử cận đại và hiện đại, nổi tiếng nhất là Chiến tranh Nga-Thổ (1877-1878), cũng như là cuộc tấn công của khối Liên ước vào Dardanelles năm 1915 trong tiến trình của Chiến tranh thế giới thứ nhất. Một số hiệp ước quốc tế được đưa ra để quản lý việc đi lại của tàu thuyền qua eo biển, bao gồm công ước Montreux về chế độ của các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, được ký kết năm 1936.

  1. The spelling Bosporus is listed first or exclusively in all major British and American dictionaries (e.g. Lexico.com,[1] Collins English Dictionary,[2] Longman Dictionary of Contemporary English,[3] Merriam-Webster, American Heritage Dictionary,[4] and Random House) as well as the Encyclopædia Britannica and the Columbia Encyclopedia.[5] The American Heritage Dictionary's online version has only this spelling and its search function does not find anything for the spelling Bosphorus. The Columbia Encyclopedia specifies that the pronunciation of the alternative spelling ph is also /p/, but dictionaries also list the pronunciation /f/ for this spelling.
  2. /ˈbɒspərəs, ˈbɒsfərəs/ BOSS-pər-əs, BOSS-fər-əs;[a] tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: İstanbul Boğazı, n.đ.'Istanbul strait', colloquially tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Boğaz, n.đ.'The strait', tiếng Hy Lạp: Βόσπορος, đã Latinh hoá: Vósporos

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Bosporus". Lexico.com. Oxford University Press. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2020.
  2. "Bosporus". Collins English Dictionary. HarperCollins.
  3. "Bosporus". Longman Dictionary of Contemporary English. Pearson.
  4. "Bosporus". American Heritage Dictionary of the English Language. HarperCollins.
  5. "Bosporus". Columbia Encyclopedia. Columbia University Press.