Biển Marmara

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Biển Marmara
Marmara Denizi
Sea of Marmara map.png
Bản đồ biển Marmara
Vị trí Châu Âu và châu Á
Tọa độ 40°41′12″B 28°19′7″Đ / 40,68667°B 28,31861°Đ / 40.68667; 28.31861Tọa độ: 40°41′12″B 28°19′7″Đ / 40,68667°B 28,31861°Đ / 40.68667; 28.31861
Loại Biển nội địa
Dòng chảy vào Sông Simav, Biga Çayı, sông Nilüfer
Dòng thoát nước Các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ
Diện tích mặt nước 11.500 km2 (4.400 sq mi)
Lưu vực quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ
Diện tích bề mặt 11.350 km2 (4.380 sq mi)
Độ sâu trung bình 494 m (1.621 ft)
Độ sâu tối đa 1.370 m (4.490 ft)
Thể tích nước 3.378 km3 (810 cu mi)
Các đảo Đảo Marmara, Avşa, İmralı, quần đảo Hoàng Tử, Paşalimanıđảo Ekinlik
Khu dân cư Istanbul, Bursa, İzmit, Tekirdağ, Balıkesir, Çanakkale, và Yalova
Ảnh biển Marmara nhìn từ không gian (STS-40, 1991). Quầng nước xanh nhạt là biển Marmara.

Biển Marmara (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Marmara Denizi), còn gọi là biển Marmora, trong văn kiện cổ đại Hy-La mang tên Propontis, là một biển nội địa, nằm hoàn toàn trong biên giới Thổ Nhĩ Kỳ, là biển tiếp nối giữa biển Đenbiển Aegea. Eo biển Bosphorus nối nó với biển Đen còn eo Dardanelles nối ra biển Aegea. Eo Bosphorus còn tách Istanbul ra phần châu Âu và châu Á. Biển Marmara là biển nhỏ nhất thế giới. Nó có diện tích bề mặt 11.350 km2 (4.380 sq mi), kích thước 280 × 80 km (170 × 50 mi).[1] Biển này đạt độ sâu tối đa 1.370 m (4.490 ft).

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Biển Marmara lấy tên từ đảo Marmara, mà lại bắt nguồn từ μάρμαρον (marmaron), "đá hoa" trong tiếng Hy Lạp, do đó là thứ đá dồi dào trên đảo.[2]

Tên tiếng Hy Lạp cổ Propontis tạo nên từ tiền tố pro- (trước) và gốc từ pontos (biển), do người Hy Lạp từng phải chèo thuyền qua đây để đến biến Đen, Pontos.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Độ mặn nước mặt trung bình của biển là 22‰, cao hơn của biến Đen một chút, nhưng chỉ bằng 2/3 của hầu hết đại dương. Lớp nước đáy mặn hơn nhiều, đạt trung bình 38‰, xấp xỉ độ mặn của Địa Trung Hải. Thứ nước mặn này không trồi lên nước mặt, giống với ở biển Đen. Nước từ sông Simav, Biga (Granicus) và Gonen cũng làm nhạt nước. Trừ một ít nước từ Thrace đổ vào, biển Marmara nhận nước chủ yếu từ Tiểu Á.

Trong biển có quần đảo Hoàng Tử, đảo Marmara, AvşaPaşalimanı.

Vùng ven bờ mạn nam Marmara bị cắt xẻ mạnh, có các vịnh İzmit (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: İzmit Körfezi), vịnh Gemlik (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Gemlik Körfezi), vịnh Bandırma (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Bandırma Körfezi) và vịnh Erdek (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Erdek Körfezi). Trong một cơn bão ngày 29 tháng 12, 1999, tàu chở dầu Nga Volgoneft đắm trên biển Marmara, làm đổ 1.500 tấn dầu xuống biển.

Thị trấn, thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Những thị trấn và thành bố nằm dọc bờ biển Marmara là:

Tỉnh Istanbul
Istanbul
Adalar
Bakırköy
Bostancı
Kadıköy
Kartal
Kumkapı
Pendik
Üsküdar
Yeşilköy
Zeytinburnu
Büyükçekmece
Kumburgaz
Silivri
Tuzla
Tỉnh Balıkesir
Bandırma
Erdek
Gönen
Marmara

Tỉnh Bursa

Gemlik
Karacabey
Mudanya

Tỉnh Çanakkale

Biga
Gelibolu
Lapseki
Tỉnh Kocaeli
Derince
Eskihisar
Gebze
Gölcük
Hereke
İzmit (Pr. Cap)
Karamürsel
Körfez

Tỉnh Tekirdağ

Marmara Ereğli
Şarköy
Tekirdağ (Pr. Cap)
Tỉnh Yalova
Altınova
Armutlu
Çiftlikköy
Çınarcık
Termal
Yalova (Pr. Cap)

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Marmara, Sea of - Dictionary definition of Marmara, Sea of - Encyclopedia.com: FREE online dictionary”. www.encyclopedia.com. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2018. 
  2. ^ Liddell, Henry George; Scott, Robert. A Greek-English Lexicon. Henry Stuart Jones and Roderick McKenzie. Perseus. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]