Sokrates

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Socrates)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sokrates
Bức tượng đầu Sokrates bằng đá cẩm thạch
Bức tượng đầu Sokrates bằng đá cẩm thạch tại Louvre
Sinhk. 470 BC[1]
Deme Alopece, Athens
Mất399 TCN (khoảng 71 tuổi)
Athens
Nguyên nhân mấtXử tử bằng hình thức uống sâm độc
Thời kỳTriết học cổ đại
VùngTriết học phương Tây
Trường pháiTriết học Cổ điển Hy Lạp
Học sinh nổi bậtPlato
Xenophon
Đối tượng chính
Tri thức luận, đạo đức
Tư tưởng nổi bật
Phương pháp Sokrates, Các khái niệm Sokrates, Tri thức Sokrates

Bản mẫu:Sokrates Sokrates ( /ˈsɒkrətz/;[2] tiếng Hy Lạp cổ: Σωκρᾰ́της, chuyển tự Sōkrátēs, [sɔːkrátɛːs]; tiếng Việt: Xô-crát; k. 470 – 399 TCN)[3][4] là một triết gia người Hy Lạp cổ đại (Người Athens), ông được coi là một trong những người đã sáng tạo ra nền triết học phương Tây, và là nhà triết gia đạo đức đầu tiên[5][6] của nền tư tưởng đạo đức phương Tây.[7][8][9] Ông là một nhân vật rất bí ẩn, không hề viết ra bất cứ điều gì, chỉ được biết đến chủ yếu thông qua các tác phẩm do những tác giả cổ đại cùng thời kể lại, trong đó nổi bật nhất chính là hai môn sinh PlatoXenophon. Một số tác phẩm khác viết về ông đến từ những tác giả đương thời như Antisthenes, AristippusAeschines xứ Sphettos. Aristophanes, một nhà viết kịch, chính là tác gia đương thời chủ yếu đã tạo ra những vở kịch có nhắc đến Sokrates trong suốt cuộc đời của nhà triết học này còn tồn tại đến ngày nay, ngoài ra, một đoạn trong cuốn "Sổ tay Du ký" của Ion xứ Chios cũng cung cấp những thông tin rất quan trọng về thời trẻ của Sokrates.[10][11]

Những mẩu đối thoại của Plato là một trong những bằng chứng toàn diện nhất về Sokrates vẫn còn sót lại từ thời cổ đại tới giờ, từ đó giúp cho Sokrates trở nên nổi tiếng với những đóng góp cho các lĩnh vực đạo đức họctri thức luận. Ông chính là người thầy của Plato, người được đặt tên cho những khái niệm triết học như Sự mỉa mai Sokratesphương pháp Sokrates, hayelenchus. Tuy nhiên, vẫn có những câu hỏi được đặt ra về việc liệu có sự khác biệt nào giữa Sokrates trong đời thực với Sokrates được khắc bởi Plato trong những mẩu đối thoại của mình hay không.[12]

Sokrates có một sức ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ đối với những triết gia sau thời kỳ cổ đạikỷ nguyên hiện đại. Những tác phẩm văn học, nghệ thuật và văn hóa đại chúng miêu tả về Sokrates đã khiến ông trở thành một trong những hình tượng được biết đến rộng rãi nhất trong nền tư tưởng triết học phương Tây.

Vấn đề Sokrates[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vấn đề Sokrates
Bức tượng Sokrates ở phía trước Học viện Athens (hiện đại)

Vì Sokrates không viết lại bất kỳ bài giảng nào của mìnhs,[13][14] hiểu biết của chúng ta về cuộc đời và tư tưởng của ông không còn cách nào khác mà chỉ có thể đến từ những nguồn thông tin thứ cấp. Bản chất đôi khi trái ngược của những nguồn thông tin này về sau đã được đặt với cái tên vấn đề Socrates,[15] hay nghi vấn Socrates.[16][17]

Những cuộc đối thoại của PlatoXenophon là những nguồn tài liệu chủ yếu giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cuộc đời và tư tưởng của Sokrates.[18][19] Những bản ghi chép này được gọi là Sokratikoi logoi, hay đối thoại Socrates, bao gồm các báo cáo về những cuộc trò chuyện rõ ràng có sự tham gia của Sokrates.[20][21]

Tìm kiếm một hình ảnh Sokrates "thật sự" là một điều rất khó khăn bởi những tác phẩm nhắc đến ông (trừ Xenophon) thường mang tính triết lý hay mang tính kịch nhiều hơn là khắc họa lại sự thật lịch sử. Ngoài Thucydides, thật sự không có một tác phẩm tiểu sử thực thụ nào khác của những người cùng thời với Plato. Kết quả tất yếu đó là những nguồn thông tin này đã mâu thuẫn với tính chính xác của lịch sử. Do đó, các nhà sử học đã phải đối mặt với một thách thức rất lớn, đó là đối chiếu các bằng chứng khác nhau từ các văn bản còn tồn tại để cố gắng giải thích chính xác và nhất quán về cuộc sống và công việc của Sokrates. Kết quả của những nỗ lực đó là khi những thông tin được thống nhất, chúng sẽ không nhất thiết phải thực tế.

Về tổng quan, Platon được xem như là nguồn thông tin chắc chắn về cuộc đời và tác phẩm của Sokrates [22]. Tuy nhiên, điều đó cũng được làm sáng tỏ trong các tài liệu và các tác phẩm lịch sử rằng Sokrates không đơn giản chỉ là nhân vật, hay phát minh của Platon. Sự chứng nhận của XénophonAristotle, theo như một số tác phẩm của Aristophanes trong Mây, có thể hữu dụng trong việc liên kết nhận thức về một Sokrates bằng xương bằng thịt bên cạnh các tác phẩm của Platon.

Hai yếu tố nổi bật nhất từ tất cả các nguồn thông tin liên quan đến đặc điểm của Sokrates đó là: ông có tướng mạo xấu xí (ít nhất là vào lúc ông đã lớn tuổi) và một trí tuệ tuyệt vời.[23][24] Ông sống cả cuộc đời mình tại Athens cổ đại (ít nhất là kể từ khi ông gần 40 tuổi, bởi trước đó ông cũng từng tham gia phục vụ quân đội tại các chiến dịch như Potidaea, Delium,...), ông không viết bất cứ thứ gì (ít nhất là những thứ liên quan đến triết học - một đoạn thơ duy nhất do ông sáng tác vẫn còn tồn tại),[25]. Cuối đời, ông bị xử tử bằng hình thức uống sâm độc với cáo buộc bất kính với Athens.[26]

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Đá quý in miêu tả Sokrates, Roma, thế kỉ I TCN-thế kỉ I SCN.

Chi tiết về Sokrates có nguồn gốc từ ba tác phẩm của những người cùng thời: Đối thoại của Platon và Xénophon (đều là người say mê Sokrates), và các vở kịch của Aristophanes. Ông cũng được miêu tả bởi một vài học giả, kể cả Eric HavelockWalter Ong, quán quân của việc kể truyền miệng, đứng sừng sững vào buổi bình minh của văn viết chống lại sự truyền bá bừa bãi.

Vở kịch Mây của Aristophanes miêu tả Sokrates như là một chú hề dạy dỗ học trò của mình cách thức lừa bịp để thoát nợ. Dĩ nhiên hầu hết tác phẩm của Aristophanes đều mang tính chất châm biếm. Vì lẽ đó nó được cho là sự thành công trong việc xây dựng nhân vật tiểu thuyết hơn là miêu tả chân thực.

Theo Platon, cha của Sokrates là Sophroniscus và mẹ là Phaenarete, một bà đỡ. Dù được miêu tả như một mẫu người thiếu sức hấp dẫn bề ngoài và có vóc người nhỏ bé nhưng Sokrates vẫn cưới Xanthippe, một cô gái trẻ hơn ông ta rất nhiều. Cô ấy sinh cho ông ba đứa con trai Lamprocles, Sophroniscus và Menexenus. Bạn của ông là Criton của Athena chỉ trích ông về việc bỏ rơi những đứa con trai của ông khi ông từ chối việc cố gắng trốn thoát khỏi việc thi hành án tử hình.

Không rõ Sokrates kiếm sống bằng cách nào. Các văn bản cổ dường như chỉ ra rằng Sokrates không làm việc. Trong Symposium của Xénophon, Sokrates đã nói rằng ông nguyện hiến thân mình cho những gì ông coi là nghệ thuật hay công việc quan trọng nhất: những cuộc tranh luận về triết học. Trong Mây Aristophanes miêu tả Sokrates sẵn sàng chấp nhận trả công cho Chaerephon vì việc điều hành một trường hùng biện, trong khi ở Apologia và Symposium của Platon và sổ sách kể toán của Xénophon, Sokrates dứt khoát từ chối việc chỉ trả cho giảng viên. Để chính xác hơn, trong Apologia Sokrates đã viện dẫn rằng cảnh nghèo nàn của ông ấy là chứng cớ cho việc ông ấy không phải là một giáo viên. Theo Timon của Phlius và các nguồn sau này, Sokrates đảm nhận việc trông coi xưởng đá từ người cha. Có một lời truyền tụng cổ xưa, chưa được kiểm chứng bởi sự các học giả, rằng Sokrates đã tạo nên bức tượng Three Grace ở gần Acropolis, tồn tại cho đến tận thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên.

Một số đoạn đối thoại của Platon quy cho việc Sokrates phục vụ trong quân đội. Sokrates nói ông phục vụ trong quân đội Athen trong suốt ba chiến dịch: tại Potidaea, Amphipolis, và Delium. Trong Symposium Alcibiades mô tả sự dũng cảm của Sokrates trong trận Polidaea và Delium, kể lại chi tiết việc Sokrates cứu mạng ông ta như thế nào tại cuộc chiến trước (219e – 221b). Sự phục vụ bất thường của Sokrates ở Delium cũng được đề cập đến trong tác phẩm Laches với vị tướng cùng tên với đoạn đối thoại (181b). Trong Apologia, Sokrates so sánh sự phục vụ trong quân đội với việc ông bị rắc rối ở phòng xử án, và nói với tất cả bồi thẩm đoàn nghĩ rằng việc ông nên từ bỏ triết học cũng phải nghĩ rằng những người lính nên chạy trốn mỗi khi họ thấy họ có thể bị giết trong chiến trận.

Bản án và cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Xét xử Sokrates
Cái chết của Socrate (La Mort de Socrate, 1787), họa phẩm của Jacques-Louis David, hiện được trưng bày ở Metropolitan Museum of Art

Sokrates đã sống trong thời kỳ thịnh vượng của thành bang Athena cho đến lúc nó suy tàn bởi người Spartaliên minh của nó trong cuộc chiến tranh Peloponnesus. Trong lúc Athena tìm kiếm sự ổn định và phục hồi từ thất bại ê chề, nền cộng hòa dân chủ chủ nô của Athen bị nghi ngờ là làm suy yếu sự lãnh đạo của nhà nước. Sokrates xuất hiện để chỉ trích thể chế dân chủ, và một vài học giả giải thích rằng việc xét xử ông là biểu hiện của sự đấu tranh chính trị.

Mặc dù luôn thể hiện sự trung thành đến chết với thành bang, song việc Sokrates theo đuổi đến cùng lẽ phải và đức hạnh của ông đã mâu thuẫn với chiều hướng chính trị và xã hội đương thời của Athena. Ông ca ngợi Sparta, chê bai Athena, trực tiếp và gián tiếp trong nhiều cuộc đối thoại. Nhưng có lẽ hầu hết các sử liệu xác thực đều cho thấy sự đối lập của Sokrates với thành bang là ở quan điểm chỉ trích xã hội và luân lý của ông. Thích bảo vệ sự nguyên trạng hơn là chấp nhận phát triển sự phi đạo đức. Trong lĩnh vực của mình Sokrates cố gắng phá vỡ quan niệm lâu đời "chân lý thuộc về kẻ mạnh" rất thông dụng ở Hy Lạp lúc bấy giờ. Platon cho Sokrates là "ruồi trâu" của nhà nước (như một con ruồi châm chích con trâu, Sokrates châm chọc Athena). Quá đà hơn ông chọc giận các nhà quản lý với ý kiến đòi xem xét các phán quyết toà án và các quyết định. Cố gắng của ông để tăng cường ý thức của tòa án Athena có lẽ là nguồn cơn cho việc hành hình ông.

Tượng Sokrates tại Bảo tàng Vatican.

Theo Apologia của Platon, cuộc đời như "ruồi trâu" của Athen bắt đầu khi bạn ông Chaerephon hỏi nhà tiên triDelphi rằng liệu có ai thông thái hơn Sokrates; nhà tiên tri trả lời rằng không ai thông thái hơn. Sokrates tin rằng nhà tiên tri đã nói đến một nghịch lý, bởi vì ông tin ông không biết gì cả. Sau đó ông giải đáp bí ẩn bằng cách hỏi những người được cho là khôn ngoan ở Athena, như là chính khách, thi sĩ hay thợ thủ công nhằm bác bỏ những lời nhà tiên tri nói. Nhưng khi hỏi họ Sokrates đi đến kết luận, khi một người cho rằng anh ta biết rất nhiều thì thực ra anh ta biết rất ít và không thông thái tẹo nào. Sokrates nhận ra rằng nhà tiên tri đã đúng, những người được cho là khôn ngoan nghĩ rằng họ biết nhiều trong khi thực tế thì ngược lại, tự ông cũng biết rằng mình chả thông thái chút nào, nghịch lý thay, lại khiến ông là người khôn ngoan duy nhất vì ông nhận thức được sự ngu dốt của mình. Nghịch lý sự khôn ngoan của Sokrates đã khiến những người đứng đầu ở Athena mà ông từng đố công khai cảm thấy mình trở nên ngốc nghếch, nên họ đã quay lại chống lại ông và dẫn tới việc buộc tội những hành vi sai trái. Sokrates bảo vệ vai trò của ông như ruồi trâu đến cùng; trong tù, khi ông được hỏi về đề xuất với hình phạt của chính ông, ông đề nghị được chính phủ trả lương tuần và bữa tối miễn phí để bù vào khoảng thời gian ông phải nghỉ, cung cấp tiền cho thời gian ông giúp ích cho thành Athen. Tuy thế ông vẫn bị khép vào tội làm hư hỏng đầu óc của thanh niên Athen và bị kết án tử hình bằng việc uống một loại độc dược bào chế từ cây độc cần. Theo như sử liệu của Xénophon, Sokrates có chủ đích thách thức bồi thẩm đoàn vì "ông ấy tin rằng ông ấy nên tự tử thì hơn". Xénophon tiếp tục mô tả sự kháng cự Sokrates như là giải thích sự nghiêm khắc của người già và Sokrates vui mừng như thế nào khi lừa được họ kết án ông tử hình. Điều đó giúp ta hiểu ra rằng Sokrates cũng ước muốn được chết bởi ông "thật sự tin cuộc đời thực của ông sẽ đến khi ông chết" Xénophon và Platon đồng ý rằng Sokrates có một cơ hội giải thoát và những người tin theo ông có thể đút lót lính coi ngục. Ông chọn ở lại bởi mấy lý do sau:

  1. Ông tin rằng sự trốn chạy là biểu hiện của sự sợ hãi cái chết, bởi ông tin không triết gia nào làm thế.
  2. Nếu ông trốn khỏi Athena, sự dạy dỗ của ông không thể ổn thỏa hơn ở bất cứ nước nào khác như ông đã từng truy vấn mọi người ông gặp và không phải chịu trách nhiệm về sự không vừa ý của họ.
  3. Bằng sự chấp thuận sống trong khuôn khổ luật của thành bang, ông hoàn toàn khuất phục chính bản thân ông để có thể bị tố cáo như tội phạm bởi các công dân khác và bị tòa án của nó phán là có tội. Mặt khác có thể ông bị kết tội vì phá vỡ sự "liên hệ cộng đồng" với Nhà nước, và gây tổn hại đến Nhà nước, một sự trái ngược so với nguyên lý của Sokrates.

Lý do đầy đủ ẩn chứa sau lời từ chối trốn chạy của ông là chủ đề chính của vở kịch Criton

Cái chết của Sokrates được diễn tả ở phần cuối của cuốn Phaedon của Platon. Sokrates bác bỏ lời cầu xin của Criton để cố gắng thử trốn khỏi tù. Sau khi uống độc dược, ông vẫn được dẫn đi dạo cho đến khi bước chân ông trở nên nặng nề. Sau khi ông gục xuống, người quản lý độc dược véo thử vào chân ông. Sokrates không còn cảm giác ở chân nữa. Sự tê liệt dần dần lan khắp cơ thể ông cho đến khi nó chạy vào tim ông. Không lâu trước khi ông chết, Sokrates trăng trối với Criton "Crito, chúng ta nợ một con gà trống với Asclepius. Làm ơn đừng quên trả món nợ đó". Asclepius là thần chữa bệnh của người Hy Lạp, và những lời cuối cùng của Sokrates nghĩa là cái chết là cách chữa bệnh và sự tự do là việc tâm hồn thoát ra khỏi thể xác. Nhà triết học La Mã Seneca đã thử bắt chước cái chết của Sokrates khi bị ép tự tử bởi Hoàng đế Nero.

Triết học[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp Sokrates[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Phương pháp Sokrates

Có lẽ đóng góp quan trọng nhất của ông cho tư tưởng phương Tây là phương pháp truy vấn biện chứng, được biết đến dưới tên gọi "phương pháp Sokrates" hay phương pháp "bác bỏ bằng logic" (elenchus). Ông đã áp dụng phương pháp này chủ yếu cho việc kiểm nghiệm các khái niệm quan trọng về mặt đạo đức như Tốt đẹp và Công bằng. Platon là người đầu tiên miêu tả phương pháp này với tác phẩm "Các cuộc hội thoại của Sokrates". Để giải quyết một vấn đề, người ta chia nhỏ nó thành một hệ thống các câu hỏi, các câu trả lời sẽ dần dần kết tinh ra lời giải mà ta tìm kiếm. Ngày nay, ảnh hưởng của cách tiếp cận này có thể thấy rõ nhất ở việc sử dụng phương pháp khoa học, mà bước đầu tiên là đặt ra giả thuyết. Sự phát triển và sử dụng phương pháp này là một trong những đóng góp bền vững nhất của Sokrates, đó là thành tố chính trong việc đánh giá ông là cha đẻ của triết học chính trị, luân lý học, và là người khởi đầu của các xu hướng chính trong triết học phương Tây.

Phương pháp Sokrates có thể được diễn tả như sau; một loạt câu hỏi được đặt ra để giúp một người hay một nhóm người xác định được niềm tin cơ bản và giới hạn của kiến thức họ. Phương pháp Sokrates là phương pháp loại bỏ các giả thuyết, theo đó người ta tìm ra các giả thuyết tốt hơn bằng cách từng bước xác định và loại bỏ các giả thuyết dẫn tới mâu thuẫn. Nó được thiết kế để người ta buộc phải xem xét lại các niềm tin của chính mình và tính đúng đắn của các niềm tin đó. Thực tế, Sokrates từng nói, "Tôi biết anh sẽ không tin tôi, nhưng hình thức cao nhất của tinh túy con người là tự hỏi và hỏi người khác" [27]

Niềm tin triết học[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta khó phân biệt giữa các niềm tin triết học của Sokrates và của Platon. Có rất ít các căn cứ cụ thể cho việc tách biệt quan điểm của hai ông. Các lý thuyết dài biểu đạt trong đa số các đoạn hội thoại là của Platon, và một số học giả cho rằng Platon đã tiếp nhận phong cách Sokrates đến mức làm cho nhân vật văn học và chính nhà triết học trở nên không thể phân biệt được. Một số khác phản đối rằng ông cũng có những học thuyết và niềm tin riêng. Nhưng do khó khăn trong việc tách biệt Sokrates ra khỏi Platon và khó khăn của việc diễn giải ngay cả những tác phẩm kịch liên quan đến Sokrates, nên đã có rất nhiều tranh cãi xung quanh việc Platon đã có những học thuyết và niềm tin riêng nào. Vấn đề này còn phức tạp hơn nữa bởi thực tế rằng nhân vật Sokrates trong lịch sử có vẻ như nổi tiếng là người chỉ hỏi mà không trả lời với lý do mà ông đưa ra là: mình không đủ kiến thức về chủ đề mà ông hỏi người khác.[28]

Nếu có một nhận xét tổng quát về niềm tin triết học của Sokrates, thì có thể nói rằng về mặt đạo đức, tri thức, và chính trị, ông đi ngược lại những người đồng hương Athena. Khi bị xử vì tội dị giáo và làm lũng đoạn tâm thức của giới trẻ Athena, ông dùng phương pháp phản bác bằng lôgic của mình để chứng minh cho bồi thẩm đoàn rằng giá trị đạo đức của họ đã lạc đường. Ông nói với họ rằng chúng liên quan đến gia đình, nghề nghiệp và trách nhiệm chính trị của họ trong khi đáng ra họ cần lo lắng về "hạnh phúc của tâm hồn họ". Niềm tin của Sokrates về sự bất tử của linh hồn và sự tin tưởng chắc chắn rằng thần linh đã chọn ông làm một phái viên có vẻ như đã làm những người khác tức giận, nếu không phải là buồn cười hay ít ra là khó chịu. Sokrates còn chất vấn học thuyết của các học giả đương thời rằng người ta có thể trở nên đức hạnh nhờ giáo dục. Ông thích quan sát những người cha thành công (chẳng hạn vị tướng tài Pericles) nhưng không sinh ra những đứa con giỏi giang như mình. Sokrates lập luận rằng sự ưu tú về đạo đức là một di sản thần thánh hơn là do sự giáo dục của cha mẹ. Niềm tin đó có thể đã có phần trong việc ông không lo lắng về tương lai các con trai của mình.

Sokrates thường xuyên nói rằng tư tưởng của ông không phải là của ông mà là của các thầy ông. Ông đề cập đến một vài người có ảnh hưởng đến ông: nhà hùng biện Prodicus và nhà khoa học Anaxagoras. Người ta có thể ngạc nhiên về tuyên bố của Sokrates rằng ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai người phụ nữ ngoài mẹ ông. Ông nói rằng Diotima, một phù thủy và nữ tu xứ Mantinea dạy ông tất cả những gì ông biết về tình yêu, và Aspasia, tình nhân của Pericles, đã dạy ông nghệ thuật viết điếu văn. John Burnet cho rằng người thầy chính của ông là Archelaus (người chịu ảnh hưởng của Anaxagoras), nhưng tư tưởng của ông thì như Platon miêu tả. Còn Eric A. Havelock thì coi mối quan hệ của Sokrates với những người theo thuyết Anaxagoras là căn cứ phân biệt giữa triết học Platon và Sokrates.

Nghịch lý Sokrates[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều niềm tin triết học cổ xưa cho rằng tiểu sử của Sokrates đã được biểu thị như một « nghịch lý » bởi chúng có vẻ như mâu thuẫn với nhận thức thông thường. Những câu sau nằm trong số những nghịch lý được cho là của Sokrates:[29]

  • Không ai muốn làm điều ác
  • Không ai làm điều ác hay sai trái có chủ ý
  • Đạo đức - tất cả mọi đạo đức - là kiến thức
  • Đạo đức là đủ cho hạnh phúc

Cụm từ Nghịch lý Sokrates cũng có thể đề cập đến một nghịch lý tự phủ nhận, bắt nguồn từ một thành ngữ của Sokrates, "Tôi biết rằng tôi không biết gì cả" (tiếng Hy Lạp cổ: ἓν οἶδα ὅτι οὐδὲν οἶδα hen oída hoti oudén oída; tiếng Latinh: scio me nihil scire hay scio me nescire) [30]

Nhận thức[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Sokrates tại Bảo tàng Khảo cổ học Palermo.

Sokrates thường nói sự khôn ngoan của ông ấy rất hạn chế để có thể nhận thức được sự ngu ngốc của ông. Sokrates tin rằng những việc làm sai là kết quả của sự ngu ngốc và những người đó thường không biết cách làm tốt hơn. Một điều mà Sokrates luôn một mực cho rằng kiến thức vốn là "nghệ thuật của sự ham thích" điều mà ông liên kết tới quan niệm về "Ham thích sự thông thái",[31]. Ông ấy không bao giờ thực sự tự nhận rằng mình khôn ngoan, dù chỉ là để hiểu cách thức mà người ham chuộng sự khôn ngoan nên làm để theo đuổi được điều đó. Điều đó gây nên tranh lụân khi mà Sokrates tin rằng con người (với sự chống đối các vị thần như Apollo) có thể thật sự trở nên khôn ngoan. Mặt khác, ông cố gắng vạch ra một đường phân biệt giữa sự ngu ngốc của con người và kiến thức lý tưởng; hơn nữa, Symposium của Platon (Phát biểu của Diotima) và Cộng hòa (Ngụ ngôn về Cái hang) diễn tả một phương pháp để tiến đến sự khôn ngoan.

Trong Theaetus của Platon (150a) Sokrates so sánh bản thân với một người làm mối đúng đắn như là sự phân biệt với một tên ma cô. Sự phân biệt này lặp lại trong Symposium của Xénophon (3.20), khi Sokrates bỡn cợt về một điều chắc chắn để có thể tạo một gia tài, nếu ông chọn để thực hành nghệ thuật ma cô. Với vai trò là một nhà truy vấn triết học, ông dẫn dắt người đối thoại tới một nhận thức sáng rõ khôn ngoan, dù cho ông không bao giờ thừa nhận mình là một thầy giáo (Apologia). Theo ông thì vai trò của ông có thể hiểu đúng đắn hơn là một bà đỡ. Sokrates giải thích rằng bản thân ông là một thứ lý thuyết khô khan, nhưng ông biết cách để làm cho thuyết của người khác có thể ra đời và quyết định khi nào họ xứng đáng hoặc chỉ là "trứng thiếu" [32]. Có lẽ theo một cách diễn đạt đặc biệt, ông ấy chỉ ra rằng những bà đỡ thường hiếm muộn do tuổi tác, và phụ nữ không bao giờ sinh thì không thể trở thành bà đỡ; một người phụ nữ hiếm muộn đúng nghĩa nhưng không có kinh nghiệm hay kiến thức về sinh sản và không thể tách đứa trẻ sơ sinh với những gì nên bỏ lại để đứa bé có thể chào đời. Để phán đoán được điều đó, bà đỡ cần phải có kinh nghiệm và kiến thức về việc mà bà đang làm.

Đối thoại Sokrates[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đối thoại Sokrates

Phương pháp giảng dạy[sửa | sửa mã nguồn]

Các bài dạy của ông thường được chia làm hai phần dựa trên sự đối thoại:

  • Phần thứ nhất: Phần hỏi và trả lời cho đến khi người đối thoại nhận thức là mình sai.
  • Phần thứ hai: Đây là phần lập luận: Ông giúp cho người đối thoại hiểu và tự tìm lấy câu trả lời. Ông nói: "Mẹ tôi đỡ đẻ cho sản phụ, còn tôi đỡ đẻ cho những bộ óc"

Tư tưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Hãy tự biết lấy chính mình."
  • "Con người không hề muốn hung ác tàn bạo."
  • "Việc gọi là tốt khi nó có ích."
  • "Đạo đức là khoa học là lối sống."
  • "Hạnh phúc có được khi nó dung hòa với đạo đức."
  • "Điều bị bắt buộc phải làm cũng là điều hữu ích."

Câu nói nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Tôi biết rằng tôi không biết gì cả" (Hy Lạp cổ: ἓν οἶδα ὅτι οὐδὲν οἶδα hen oída hoti oudén oída; tiếng Latinh: scio me nihil scire hay scio me nescire)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kraut, Richard (16 tháng 8 năm 2017). “Socrates”. Encyclopedia Britannica. Encyclopedia Britannica, Inc. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2017. 
  2. ^ Jones, Daniel; Roach, Peter, James Hartman and Jane Setter, eds. Cambridge English Pronouncing Dictionary. 17th edition. Cambridge UP, 2006.
  3. ^ Easterling, P. E. (1997). The Cambridge Companion to Greek Tragedy. Cambridge University Press. tr. 352. ISBN 978-0-521-42351-9. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2017. 
  4. ^ Smith, Nicholas D.; Woodruff, Paul (2000). Reason and Religion in Socratic Philosophy. Oxford University Press. tr. 154. ISBN 978-0-19-535092-0. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2017. 469 or 468 (corresponding to the fourth year of the 77th Olympiad), according to Apollodorus...But the year of Socrates's birth is probably only an inference from...Plato [who] has Socrates casually describe himself as having lived seventy years. 
  5. ^ James Rachels, The Legacy of Socrates: Essays in Moral Philosophy Columbia University Press, 2007 ISBN 0-231-13844-X Accessed November 24, 2017
  6. ^ Gregory Vlastos (1991). Socrates, Ironist and Moral Philosopher. Cornell University Press. tr. 43. ISBN 978-0-8014-9787-2. 
  7. ^ Moral Philosophy – The Discovery of Ethics : Sokrates Jacques Maritain Center Accessed November 24, 2017
  8. ^ Peter Singer (1985) – Encyclopædia Britannica Chicago, 1985, pp. 627–648 Accessed November 24, 2017
  9. ^ Anne Rooney – The Story of Philosophy: From Ancient Greeks to Great Thinkers of Modern Times (search page) Arcturus Publishing, 2014 ISBN 1-78212-995-2 Accessed November 24, 2017
  10. ^ Charles H. Kahn (1998) – Ethicsp. 42, Cambridge University Press. 1998 ISBN 0-521-38832-5 Accessed December 22, 2017
  11. ^ Stern, T (2013) – Philosophy and Theatre: An Introductionix Routledge 2013 ISBN 1-134-57591-2 Accessed December 22, 2017
  12. ^ Kofman, Sarah (1998). Socrates: Fictions of a Philosopher. tr. 34. ISBN 978-0-8014-3551-5. 
  13. ^
  14. ^ C. Salutati in Renaissance Debates on Rhetoric Cornell University Press, 2000 ISBN 0-8014-8206-2
  15. ^ Roberson, C. (2009). Ethics for Criminal Justice Professionals. CRC Press. tr. 24. ISBN 978-1-4200-8672-0. 
  16. ^ Rubel, A.; Vickers, M. (11 tháng 9 năm 2014). Fear and Loathing in Ancient Athens: Religion and Politics During the Peloponnesian War. Routledge. tr. 147. ISBN 978-1-317-54480-7. 
  17. ^ Dorion, Louis-André (2010). “The Rise and Fall of the Socratic Problem”. The Rise and Fall of the Socratic Problem (pp. 1–23) (The Cambridge Companion to Socrates). Cambridge University Press. tr. 1–23. ISBN 978-0-521-83342-4. doi:10.1017/CCOL9780521833424.001. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |hdl= (trợ giúp)
  18. ^ May, H. (2000). On Socrates. Wadsworth/Thomson Learning. tr. 20. 
  19. ^ ISBN 978-0-674-99695-3 catalogue of Harvard University Press – Xenophon Volume IV. Retrieved 2015-3-26.
  20. ^ Kahn, CH', Plato and the Socratic Dialogue: The Philosophical Use of a Literary Form, Cambridge University Press, 1998, p. xvii.
  21. ^ Many other writers added to the fashion of Socratic dialogues (called Sokratikoi logoi) at the time. In addition to Plato and Xenophon, each of the following is credited by some source as having added to the genre: Aeschines of Sphettus, Antisthenes, Aristippus, Bryson, Cebes, Crito, Euclid of Megara, and Phaedo. It is unlikely Plato was the first in this field (Vlastos, p. 52).
  22. ^ Có một vài lý do để giải thích điều này. Thứ nhất, trong tất cả các thư tịch cổ còn lưu giữ được, Sokrates được cho là một triết gia. Điều đó cho thấy một triết gia cùng thời (như Platon) có khả năng hiểu quan điểm của Sokrates hơn là một sĩ quan quân đội như Xénophon (dù cho Sokrates cũng là một quân nhân được tặng huân chương. Hơn nữa, Sokrates được miêu tả trong cách tác phẩm của Xénophon, không tỏ ra dấu hiệu nào để có thể thấy rằng ông ta có thể là một nhà cách mạng hay là mối đe dọa của Athens. Sokrates của Platon cư xử theo cách có thể dễ dàng lý giải tại sao ông lại bị tuyên án vì tội bất kính với Athena (May, On Socrates).
  23. ^ Morrison, D.R. (2011). The Cambridge Companion to Socrates (p. xiv). Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-83342-4. 
  24. ^ Nails, D. Socrates:Socrates's strangeness. The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Spring 2014 Edition), Edward N. Zalta (ed.). Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2015. 
  25. ^ El Murr, Dimitri (27 tháng 7 năm 2016). “Socrates”. Oxford Bibliographies. doi:10.1093/obo/9780195389661-0211. 
  26. ^ Peter J. Ahrensdorf – The Death of Socrates and the Life of Philosophy: An Interpretation of Plato's Phaedo p. 17 SUNY Press, 1995 ISBN 0-7914-2634-3 Accessed November 23, 2017
  27. ^ Coppens.
  28. ^ Platon, Cộng hòa 336c & 337a, Theaetetus 150c, Apologia Socratis 23a; Xenophon, Memorabilia 4.4.9; Aristoteles, De Sophisticis Elenchis 183b7.
  29. ^ p. 14, Terence Irwin, The Development of Ethics, vol. 1, Oxford University Press 2007; p. 147, Gerasimos Santas, "The Socratic Paradoxes", Philosophical Review 73 (1964), pp. 147-64.
  30. ^ Πλάτων, Πολιτεία. Βιβλίο Α'.
  31. ^ Tức là Triết học, Philosophia trong tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là "Ham thích sự thông thái. Xin xem thêm bài Triết học
  32. ^ Nguyên văn "wind egg" trứng không có trống, có đực

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bernas, Richard, cond. Socrate. By Erik Satie. LTM/Boutique, 2006
  • Bruell, C. (1994). "On Plato’s Political Philosophy," Review of Politics, 56: 261-82.
  • Bruell, C. (1999). On the Socratic Education: An Introduction to the Shorter Platonic Dialogues, Lanham, MD: Rowman and Littlefield.
  • Grube, G.M.A.(2002). " Plato, Five Dialogues". Hackett Publishing Company, Inc.
  • Hanson, V.D. (2001). "Socrates Dies at Delium, 424 B.C.," What If? 2, Robert Cowley, editor, G.P. Putnam's Sons, NY.
  • Egan, K. The educated mind: how cognitive tools shape our understanding. (1997) University of Chicago Press, Chicago. ISBN 0-226-19036-6 p. 137-144
  • Kierkegaard, Søren (1968). The Concept of Irony: with Constant Reference to Socrates. Bloomington: Đại học Indiana Press. ISBN 9780253201119. 
  • Levinson, Paul (2007). The Plot to Save Socrates. New York: Tor Books. ISBN 0765311976. 
  • Luce, J.V. (1992). An Introduction to Greek Philosophy, Thames & Hudson, NY.
  • Maritain, J. (1930, 1991). Introduction to Philosophy, Christian Classics, Inc., Westminster, MD.
  • Robinson, R (1953). Plato's Earlier Dialectic. Oxford: Clarendon Press. ISBN 9780198247777.  Ch. 2: "Elenchus", Ch. 3: "Elenchus: Direct and Indirect"
  • Taylor, C.C.W., Hare, R.M. & Barnes, J. (1998). Greek Philosophers — Socrates, Plato, and Aristotle, Oxford University Press, NY.
  • Taylor, C.C.W. (2001). Socrates: A very short introduction. Oxford: Oxford University Press.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]