Pyrros của Ipiros

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pyrros
Πύρρος
Vua xứ Ipiros;
Vua xứ Macedonia; (chi tiết...)
Pyrrhus.JPG
Tượng bán thân Pyrros.
Vua xứ Ipiros
Tại vị 306 - 302 trước Công nguyên
Tiền nhiệm Alcetas II Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Neoptolemos II Vua hoặc hoàng đế
Vua xứ Ipiros
Trị vì 297 - 272 trước Công nguyên
Tiền nhiệm Neoptolemos II Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Alexandros II Vua hoặc hoàng đế
Vua xứ Macedonia
Trị vì 288 - 285 trước Công nguyên
Tiền nhiệm Demetrios I Poliorketes Vua hoặc hoàng đế
Đồng trị vì Lysimachos Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Lysimachos Vua hoặc hoàng đế
Vua xứ Macedonia
274 - 272 trước Công nguyên
Tiền nhiệm Antigonos II Gonatas Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Antigonos II Gonatas Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Hậu duệ
Triều đại Nhà Aeakides
Thân phụ Aeacides của Ipiros Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫu Phthia
Sinh 319 TCN
Vương quốc Ipiros (Hy Lạp ngày nay)
Mất 272 TCN
Argos (Hy Lạp ngày nay)
An táng Ambracia (Arta, Hy Lạp ngày nay) (?)
Đền thờ Demeter (Argos) (?)

Pyrros, còn gọi là Pyrrhus hay Pyrrhos, (tiếng Hy Lạp: Πύρρος; 319272 trước Công nguyên) là[1][2][3] tướng lĩnh và chính khách Hy Lạp cổ đại, trong giai đoạn Hy Lạp hoá.[4] Ông là vua nhà Aeakid thuộc tộc Molossia ở Hy Lạp cổ đại[3][5] (từ khoảng năm 297 trước Công nguyên), sau đó là vua Ipiros (306 – 302, 297 – 272 Trước Công nguyên) và Macedonia (288 – 284, 273 – 272 trước Công nguyên). Ngoài hai lần làm vua xứ Ipiros và hai lần làm vua xứ Macedonia, ông đã từng làm chúa đảo Sicilia.[6]

Ông đã mở mang quyền lực của mình tại Hy Lạp và được dân chúng Ipiros tôn vinh là "Đại bàng", trong khi người Macedonia cho là ông không khác gì Alexandros Đại Đế năm xưa.[7][8] Với hoài bão lớn lao của mình,[9] ông trở nên nổi bật hơn cả như là một kẻ thù đáng gờm của Cộng hoà La Mã. Trong cuộc chiến tranh chống La Mã, ông áp dụng phương thức chiến tranh thời Hy Lạp hóa,[10] và trong một số trận đánh dù quân đội tinh nhuệ của ông giành chiến thắng[6][11] nhưng bị tổn thất nặng nề, từ đó thuật ngữ "chiến thắng kiểu Pyrros" ra đời để chỉ những thắng lợi đem lại nhiều hậu quả hơn là thành quả.[12][13] Tượng binh đã đem lại cho ông những thắng lợi này và ông trở thành người đầu tiên giới thiệu voi chiến cho người La Mã và Carthage[14]. Sau những thắng lợi đó, ông lại do những tham vọng lớn lao của mình[15] mà chinh phạt xứ Sicilia và nhiều lần đánh bại đồng minh của quân La Mã là quân Carthage.[16][17] Không những thế, ông còn đánh thắng được cả một man tộc dữ tợn ở Ý là người Mamertum.[18]

Song, cuối cùng thì quân La Mã đánh bại ông vào năm 275 trước Công nguyên (khi ấy người La Mã đã không chế được tượng binh của ông), cho dù sự nghiệp quân sự của ông chưa kết thúc sau đó.[7][11] Ông vẫn tiến hành nhiều cuộc chinh chiến ngay tại Hy Lạp,[6] và thậm chí ông đã từng đánh bại vua Antigonos II Gonatas xứ Macedonia và quân Sparta, sau đó ông vây hãm Sparta.[19][20][21] Ông được cho là đã chết do bị một người đàn bà quăng gạch vào đầu trong một cuộc giao chiến tại Argos, nhưng thực hư ra sao cũng chưa thể xác định.[13][22] Là người bà con của nhà chinh phạt Alexandros Đại đế, ông là một trong những vị tướng được ca ngợi nhất thời Hy Lạp cổ đại, và có thể được xem là vị vua tài năng nhất của xứ Ipiros.[7][9][23] Nhà sử học La Mã Plutarchus đã ghi nhận về cuộc đời và sự nghiệp của ông trong bộ "Tiểu sử sóng đôi",[24] trong đó có đoạn kể về sự đề cao của danh tướng Hannibal xứ Carthage đối với ông. Mặc dù có ý kiến cho rằng những chiến công của ông đã khiến cho vương quốc của ông được thế giới vị nể, ông cũng bị phê phán vì không có mục đích cho các cuộc chinh chiến và luôn tuân theo mọi sự thúc đẩy nhất thời.[25]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Pyrros là con của vua Aeakides người Molossia và Phthia. Do mẹ ông - một cô gái Thessalia - là em họ thứ hai của Alexandros Đại đế thông qua bà Olympias - mẹ của Alexandros Đại đế, gia đình ông có họ hàng với Alexandros.[23][26] Cha của Phthia là người hùng trong cuộc chiến tranh giải phóng Hy Lạp khỏi Vương quốc Macedonia, còn gọi là "chiến tranh Lamia". Gia tộc của Pyrros tuyên bố rằng họ là hậu duệ của vị anh hùng Neoptolemos - con của Achilles trong thần thoại Hy Lạp, ù có những ý kiến khác nhau về vị vua đầu tiên của người Molossia.[27] Tên của Pyrros có nghĩa là "nảy lửa".[23]

Vào năm ông hai tuổi (317 trước Công Nguyên), có biến cố xảy ra trong tộc người Molossia: Aeakides bị lật đổ và trục xuất, sau đó bộ lạc Molossia tôn anh khác mẹ của Aekides lên thay. Người Molossia cũng bắt giữ và hành quyết các sủng thần của Aeakides, chỉ có mỗi Androclides và Angelus mang Pyrros đi lánh nạn, dù người Molossia truy kích gay gắt đứa bé. Một vài bà vú và tùy tùng chạy theo Pyrros. Họ phải tháo chạy trên những đoạn đường đầy trắc trở, do đó quân nổi loạn Molossia đã tóm gọn được họ. Trước tình hình nguy kịch như vậy, họ đành phải giao vị đứa trẻ cho những cận thần trẻ tuổi là Androcleon, Hippias và Neander, và kêu gọi tìm con đường tốt nhất để chạy đến Megara, một thị trấn ở nước Macedonia. Trong khi đó, bản thân Androclides và Angelus sẽ vừa thương thuyết vừa cầm cự với quân nổi loạn cho đến tối. Sau khi họ đánh lui cuộc truy kích gắt gao của quân nổi loạn, họ liền ba chân bốn cẳng chạy theo những cận thần đang cưu mang Pyrros. Lúc ấy mặt trời đã lặn xuống và họ đã gần thoát, họ bỗng nhận ra mình bị ngăn cách bởi một con sông chảy qua thị trấn Megara. Khúc sông trông thật hiểm trở khó thể qua nổi, và quả thật khi những người tỵ nạn thử vượt sông, họ đã không thành công. Đó là do nước sông trở nên đầy ắp sau một cơn mưa tuôn mưa xối, vả lại trời tối mịt mù khiến mọi thứ càng trở nên cuồng loạn hơn. Do đó, họ quyết định không vượt qua sông, do họ đang phỉa lo bồng đứa trẻ trong khi các bà vú phải chăm sóc nó.[27]

Song, khi nghe tiếng người ở bên bờ sông kia, họ quỳ xuống cầu xin thần linh nhờ những thị dân kia giúp đỡ. Đồng thời, họ cũng nâng cao Pyrros lên để cầu cứu. Tuy nhiên, do nước sông chạy nhanh và tiếng nước chảy thật to lớn đến mức những thị dân Megara không thể nào nghe thấy tiếng kêu cứu. Điều đó làm cho mọi người rất bối rối, nhưng rồi một trong số họ đã nghĩ ra cách kêu cứu: thấy một cái cây ở gần đó, người này xé một miếng vỏ cây ra và dùng một cái khóa để viết thư cầu cứu, trong đó người này than vãn rằng nhóm người lưu vong và nhất là Pyrros cần được cứu vãn. Sau đó, anh ta buộc vỏ cây vào một hòn đá và ra sức ném nó về phía bên kia sông. Tuy nhiên, người khác kể rằng anh ta buộc vỏ cây vào một ngọn lao rồi phóng nó qua bên kia.[27]

Khi người Megara đọc được thư khẩn cấp, họ liền chặt hết cây cối và làm thành cầu, nhờ đó nhóm người Molossia được vượt qua. Một người đầu tiên về đến nơi an toàn có tên là Achilles: ông ta bế Pyrros chạy qua "cầu", và những người tỵ nạn khác cũng không chần chừ gì mà không chạy qua cầu. Nhờ đó, họ đã hoàn toàn bỏ xa quân truy kích và đến được nơi an toàn.[27] Sau đó, họ đến yết kiến vua Glaukias của bộ lạc Taulanti của người Illyria.[4] Pyrros được nuôi nấng[28] bởi Beroea[29], vợ của Glaukias và là một thành viên nhà Aeakid của Molossia.

Vua nhỏ mất quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ lạc xứ Ipiros thời hậu cổ đại

Năm 306 TCN khi 12 tuổi,[26] ông được Glaukias phong vương ở Ipiros. Tuy nhiên, vị ấu chúa gặp phải sự kháng cự trong bộ lạc Molossia. Vì vậy, khi Pyrros đi dự lễ cưới ở bộc lạc Taulanti, thần dân ông làm loạn và lập Neoptolemos II lên thay. Theo sử sách, Kassandros có díu líu tới vụ nổi dậy này.

Tướng dưới quyền Demetrios[sửa | sửa mã nguồn]

Nhưng Pyrros không trở nên bơ vơ: Năm 307 TCN, chiến tranh Diodochi lần thứ tư bùng nổ. Trong những người kế vị Alexandros Đại đế, một viên tướng tên Antigonos Monophthalmos mong muốn khôi phục lại đế quốc mà Alexandros gầy dựng khi xưa. Antigonus bị chống đối bởi Kassandros của Macedonia, Ptolemaios của Ai Cập, và Seleukos của Babylonia, những người muốn thành lập các nhà nước riêng do họ cai trị. Con của Antigonos là Demetrios chinh phạt Hy Lạp, và liên minh với Glaukias nhằm chống lại Kassandros. Liên minh này được thắt chặt bằng cuộc hôn nhân: Glaukias gả chị gái Pyrros là Deidamia cho Demetrios. Điều này khiến cho Demetrios và Pyrros trở thành anh em rể.[26] Dĩ nhiên, Pyrros trở thành tướng của Demetrios.

Năm 301 trước Công Nguyên, Pyrros đến miền tây Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, để cùng cha con Antigonos đánh trận quyết định Ipsus.[26] Đây là trận chiến đầu tiên trong suốt sự nghiệp của Pyrros, và ngay từ cuộc thử lửa lần đầu này, ông đã thể hiện rõ lòng dũng cảm không ai sánh bằng và tài năng quân sự của mình. Tất cả mọi người đều phải ấn tượng trước sức chiến đấu mãnh liệt của Pyrros. Mọi tên địch giáp chiến với ông đều phải chuốc lấy thất bại thê thảm.[30] Nhưng rồi, 500 con voi chiến của Seleukos I đại thắng. Antigonos trận vong và Demetrios bỏ chạy. Tuy nhiên, Demetrios vẫn làm chủ một hạm đội lớn và nhiều thành phố Hy Lạp. Pyrros được phong làm thống đốc của một trong những thành phố đó. Ít lâu sau, theo một điều khoản trong hoà ước giữa Demetrios và Ptolemaios của Ai Cập, Pyrros phải làm con tin cho Ptolemaios.

Lên ngôi lần hai[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng năm 300 trước Công Nguyên hay 299 trước Công nguyên, Pyrros - tuổi chưa đến đôi mươi -[26] đến kinh đô Alexandria của Ai Cập thuộc Hy Lạp. Tại đây, ông đã cố làm quen với bất kì ai có quyền lực, đặc biệt là hoàng hậu. Qua những chuyến đi săn và tài năng trên chiến trường Pyrros chứng tỏ mình là một chiến binh dũng cảm và hùng mạnh. Điều này khiến pharaon Ptolemaios trở nên ngưỡng mộ ông, và gả con ngoài giã thú là Antigone[31] cho ông. Được Ptolemaios giúp đỡ về tài chính và quân sự, ông có đủ tiền để lập một đội quân. Nhà tiểu sử học La Mã là Plutarchus thật đúng đắn khi nói rằng Pyrros biết"dùng nghệ thuật lấy lòng những Quân vương quyền uy". Mặt khác, những vị vua đó cũng biết phải dùng Pyrros bằng cách nào. Năm 297 trước Công Nguyên, Ptolemaios tuyên bố đảo chính ở Ipiros, và đưa người thủ lĩnh Molossia cùng đội quân đánh thuê về nước.[26] Đây là cuộc đảo chính lần thứ tư trong cuộc đời Pyrros. Khi đó, các thân dân của ông đang rên siết dưới sự cai trị của bạo chúa Neoptolemos II.

Giết Neoptolemos[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Pyrros dùng con bài của mình một cách cẩn thận: ông tuyên bố rằng có thể đồng trị vì với Neoptolemos II, trong khi ông vua này luôn tin tưởng vào người bà con Pyrros của mình. Như vậy, đây là lần thứ hai Pyrros làm vua người Molossia, thủ lãnh của liên minh Ipiros và có vai trò như một "chú chó giữa nhà"[26] của pharaon ở châu Âu, bảo vệ quyền lợi của Ai Cập trước Vương quốc Macedonia của vua Kassandros.

Theo Plutarchus, một trong những những người bạn của Neoptolemos là Gelo thuyết phục Myrtilus, người hầu rượu của Pyrros, đánh thuốc độc chủ của mình. Myrtilus giả vờ nghe theo nhưng sau đó tố cáo âm mưu này với Pyrros. Để có thêm nhân chứng, Pyrros bảo Myrtilus đưa thêm những người bạn của mình tham gia vào âm mưu này. Cả Gelo và Neoptolemus đều bị lừa nên họ huênh hoang khoác lác khắp nơi. Neoptolemus bị một người đàn bà nghe lỏm, bà này nói lại với vợ của Pyrros, hai vị vua tiếp tục giả vờ tử tế với nhau.

Năm 295 trước Công nguyên, khi có cơ hội, Pyrros đã giết Neoptolemos trong một buổi tiệc, rồi công bố với thần dân rằng Neoptolemos là kẻ mưu phản.[26] Quyền lực của Pyrros được củng cố, và ông sắp sửa trở thành một thế lực lớn thời đó là vua Macedonia.[26]

Làm vua Macedonia[sửa | sửa mã nguồn]

Tham gia cuộc xung đột giữa hai anh em vua Macedonia[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 298 TCN, Vương quốc Macedonia bị hai anh em kia phân chia: Antipatros ở miền tây và em là Alexandros V ở miền đông (sông Axios ở ranh giới).[26] Giữa hai vua này xảy ra xung đột, và Alexandros cảm thấy mình bị đe doạ, phải cầu viện Demetrios cùng với Pyrros.

Vào năm 294 TCN, Pyrros chinh phạt xứ Macedonia, và làm cân bằng vương quyền của Antipatros và Alexandros. Đổi lại, Pyrros nhận được một phần của Molossis - vốn bị vua Philipos II của Macedonia xâm chiếm ngày trước - và thành phố Ambrakia (nay là Arta, Hy Lạp). Sau đó, ông dời đô về Ambrakia: một thành phố có đường ra bờ biển không phải là Molossian, Theoprotian, hay Chaonian.[26]

Chiến tranh chống Demetrios[sửa | sửa mã nguồn]

Ít lâu sau, Demetrios giết Alexandros V rồi lên làm vua Macedonia. Hai xứ Ipiros và Macedonia vốn gần nhau, nên giữa Demetrios và Pyrros thường xảy ra xung đột. Cả hai đều không thể tránh khỏi tham vọng thường có của các bậc đế vương: cảm thấy sự bức bách phải mở mang uy quyền của mình. Bấy giờ, chị gái của Pyrros (tức vợ của Demetrios) đã qua đời nên chiến tranh giữa hai vua xảy ra là điều không thể tránh khỏi.

Do Demetrios chủ động tấn công Ipiros nên Pyrros phải mang quân đi đánh, nhưng hai đoàn quân không giáp mặt nhau. Thay vì nghênh chiến với Demetrios, Pyrros chạm trán với hậu quân mà Demetrios để lại tại Macedonia dưới quyền chỉ huy của Pantauchos. Trận đánh diễn ra thật dữ dội, nhất là giữa hai vị chủ tướng. Pantauchos - viên tướng giỏi nhất của Demetrios - thách Pyrros đánh tay đôi. Đứng trước ba quân, Pyrros - vốn không chịu thua bất kỳ một vị vua nào về lòng quả cảm và sự huy hoàng, đồng thời vinh danh người hùng Achilles là để có được lòng dũng cảm của Achilles (còn hơn cả dòng máu của Achilles) - đã chấp nhận đấu tay đôi. Hai đoàn quân ngừng giao chiến để quan sát cuộc tỉ thí giữa hai chủ tướng. Cả hai đều là những viên dũng tướng vô cùng khỏe mạnh và điêu luyện. Thoạt tiên, Pyrros và Pantauchos dùng giáo, rồi họ sáp lại gần nhau hơn và rút kiếm ra. Pyrros bị một vết thương nhưng cũng đáp lại đích đáng với hai cú đánh trời giáng lên Pantauchos, một ở vai và một ở cổ, thế là Pantauchos hoàn toàn thất bại. Tuy nhiên, Pyrros không thể giết chết Pantauchos vì bạn bè đã ùa ra cứu khi Pantauchos ngã, nhưng trước sự cổ vũ của lòng can trường và chiến công hiển hách của nhà vua, toàn quân Ipiros hăng hái xung phong xé nát đội hình phương trận Macedonia, tiêu diệt rất nhiều binh sĩ Macedonia khi họ bỏ chạy và bắt sống 5 nghìn tù binh.[8]

Những người Macedonia đã chứng kiến Pyrros trong trận đánh đó kể rằng trông ông không khác gì Alexandros Đại đế năm xưa, thông qua cử chỉ, thái độ bình tĩnh và sự mau lẹ của ông. Họ không tức giận vì thua trận, và cũng không căm hờn ông, mà trái lại, rất ngưỡng mộ người chiến binh trẻ tuổi này. Theo Plutarchus, các vị vua khác có thể bắt chước sự cao quý của Alexandros Đại Đế với đội cận vệ tinh nhuệ cùng những vương hiệu hoành tráng của mình, và còn bằng nhiều thứ khác, nhưng chỉ có Pyrros mới có thể đạt đến tầm vóc thực sự của Alexandros Đại Đế - thông qua tài năng quân sự xuất sắc của ông. Không những thế, ông còn có kiến thức hết sức thâm sâu về quân sự, góp phần ông trở thành một Alexandros Đại Đế mới. Sau trận đấu với Pantauchus, Pyrros ca khúc khải hoản trở về quê hương với danh tiếng vang lừng, với tinh thần vui sướng và tràn đầy mãn nguyện.[32] Nhân dân Ipiros vui sướng với chiến thắng, đã gọi ông là "chim Đại bàng". Thấy vậy, Pyrros nói:[8]

Ta là đại bàng chính là nhờ các bạn. Đôi tay các bạn chính là đôi cánh của ta.

—Pyrros

Vua Pyrros sẽ còn giữ vững danh tiếng này trong suốt phần còn lại của cuộc đời ông.[33] Vì Demetrios ngã bệnh, thậm chí phải đối mặt với nguy cơ từ giã cõi đời,[32] nên Pyrros chủ động kéo quân vào xứ Macedonia và hầu như chiếm được toàn bộ vương quốc này. Rất nhiều binh sĩ Macedonia chạy sang hàng ngũ của ông. Ông quyết định không mạo hiểm đánh một trận tử chiến mà đề nghị kí kết với Demetrios một hòa ước. Demetrios cũng sẵn sàng hòa hoãn vì không muốn bị suy yếu vì cuộc chiến tranh với Pyrros trong khi có thể chiếm các thành phố giàu có của các vị vua khác.

Demetrios bèn triệu tập 10 vạn quân tinh nhuệ và một hạm đội lên tới 500 chiến thuyền. Qua sự chuẩn bị hùng hậu đó có thể biết được là ông ta sắp đánh chiếm mọt vùng lãnh thổ rộng lớn. Các vị vua xung quanh biết rõ điều đó, nên họ tìm mọi cách gây rối loạn nội bộ buộc ông ta phải ở lại quê nhà. Các quốc gia ấy cũng gửi thư từ và sứ giả đến gặp Pyrros và báo cho ông biết rằng khi Demetrios phát triển được một đội quân hùng hậu và thiện chiến, có thể sẽ trở lại tiêu diệt ông. Vì thế ông nên tận dụng thời cơ Demetrios đang phải chinh chiến ở phương Bắc.

Nhưng lý do thuyết phục Pyrros nhiều hơn là Demetrios đã cướp đi một trong những người vợ của ông là Lanassa cùng với đảo Corcyra. Sau khi Antigone qua đời, Pyrros đã cưới thêm nhiều người vợ khác để mở rộng quyền lực. Lanassa có của hồi môn là hòn đảo Corcyra. Bà ghen tuông khi Pyrros quá chăm chút những bà vợ khác (họ đều là con gái "rợ" trong mắt người tộc Hy Lạp[32]) nên bỏ về Corcyra và mời Demetrios đến. Lập tức, Demetrios phái hải quân đến và lấy luôn cả hòn đảo này lẫn Lanassa.[34] Đó là một vùng đất quan trọng trong vương quốc của Pyrros. Chính vì thế khi Demetrios đang phải chinh chiến ở phương Bắc, Pyrros đã xua quân tấn công xứ Macedonia từ phương Nam.

Một đêm, vua Pyrros nằm mộng thấy mình được Alexandros Đại Đế truyền đến, và khi tới, ông chợt thấy nhà chinh phạt đang nằm ốm trên giường bệnh. Alexandros nhiệt liệt hoan nghênh và tán dương ông, thậm chí còn hứa rằng sẽ hỗ trợ cho ông. Sau đó, Pyrros đánh bạo, ông hỏi lại: "Hỡi vua, Người đang nằm ốm thế này thì giúp con bằng cách nào đây?" Alexandros bèn đáp: "Chỉ với cái tên của Ta". Không những thế, Alexandros còn bất ngờ đứng dậy, lên lưng chiến mã Nisea và phi ngựa tiến thẳng lên phía trước Pyrros để dẫn dắt vị vua - chiến binh trẻ tuổi xung phong trận mạc.[32] Chiêm bao này cổ vũ Pyrros và quân tinh nhuệ tiến lên đánh chiếm thành phố Beroes - một thành phố quan trọng ở miền nam Macedonia. Vì Demetrios thấy binh lính rất bất bình với sự xa hoa, bất công và thái độ trịch thượng của mình nên ông ta quyết định tốt hơn là đưa những người lính này ra khỏi phương Bắc, bởi họ có thể chạy sang hàng ngũ của những chỉ huy Macedonia khác. Demetrios kéo những chiến binh này Nam tiến về giao chiến với Pyrros (ông là một tên ngoại bang trong mắt họ).

Nhưng nhiều người lính Beroea trong quân đội của Demetrios ca ngợi Pyrros là một chiến binh bất khả chiến bại và rất khoan hồng với tù binh. Vua Pyrros cũng gửi một số gián điệp của mình sang giả làm người Macedonia. Những người này gieo rắc vào đầu binh lính niềm tin là đã đến lúc thoát khỏi sự cai trị hà khắc của Demetrios bằng cách đầu quân cho Pyrros - người bạn tốt của binh lính. Ngay lập tức toàn quân Macedonia đều muốn tận mắt nhìn thấy Pyrros. Một hôm vua Pyrros cưỡi ngựa lậi gần họ, nhưng không ai nhận ra cho đến khi ông nhấc mũ giáp lên, cái mũ có mào cao và những cái sừng dê. Ba quân Macedonia tung hô ông và bỏ hàng ngũ để chạy sang phía Pyrros. Vì ba quân nhốn nháo không thể giao chiến nên Demetrios buộ phải cải trang, bỏ trốn để giữ mạng sống.

Bấy giờ Lysimachus đang quấy rối Demetrios ở phương Bắc, và ông ta yêu cầu Pyrros phải chia sẻ Macedonia với ông ta. Vì không tin chắc vào sự trung thành của các thần dân Macedonia nên Pyrros đồng ý. Lúc đó sự phân chia này sẽ ngăn chặn một cuộc chiến tranh trong tương lai. Khi hai người có nhiều tham vọng như thế ở cạnh nhau, cả hai đều là nô lệ cho những ham muốn lớn lao, đến cả đại dương lẫn núi cao đều không so nổi, họ sẽ luôn tìm đến chiến tranh.

Pyrros bèn ký hòa ước với Demetrios, rồi sau đó Demetrios khởi quân tiến đánh Syria. Nhưng khi Demetrios dẫn quân đi, Pyrros liền kích động những thần dân Thessaly của Demetrios nổi loạn. Pyrros cũng vây đánh một số thành phố của Demetrios. Vì thất thật dễ có lòng trung thành của người Macedonia nếu buộc họ tham gia các cuộc chiến tranh liên miên nên Pyrros không bao giờ để họ yên ổn.

Sau khi Demetrios thất bại ở xứ Syria, Lysimachos bất ngờ tấn công Pyrros, chiếm được rất nhiều lương thảo và gây ra tổn thất nặng nề cho việc tiếo tế cho quân đội của Pyrros. Sau đó bằng cách hối lộ, tung tin đồn và khơi dậy lòng tự tôn của người Macedonia, ông ta thuyết phục được các thủ lĩnh người Macedonia từ bỏ liên minh với Pyrros và quay sang chống lại ông. Thấy tình thế không thuận lợi, vào năm 284 trước Công Nguyên, ông cùng các chiến binh Ipiros phải rút khỏi xứ Macedonia, để cho Lysimachos làm vua của toàn bộ Vương quốc này.[35] Nữ thần vận mệnh Fortuna đã đem lại may mắn với ông: rời Macedonia, ông trở về trị nước. Nếu ông dốc tâm vào việc cai quản muôn dân, một điều không thể chối cãi là ông và toàn dân sẽ được an hưởng nền thái bình thịnh trị. Thế nhưng, vị vua - chiến binh này lại không như vậy. Ông không thể giành thời gian cho những việc khác ngoài gây hấn với người khác hoặc chấp nhận lời thách đấu của họ. Theo Plutarchus, ông có thể phát bệnh do quá chán đời.[36]

Giúp người Tarentum đánh quân La Mã[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chiến tranh Pyrros

Nhưng rồi, với tinh thần ham muốn binh đao của ông vua - chiến binh tài năng, Nữ thần vận mệnh lại mỉm cười với ông:[36] Vào năm 281 trước Công nguyên, một thành bang Hy Lạp là Tarentum (ở miền nam Ý ngày nay), bị Cộng hoà La Mã xâm lược. Giờ đây, La Mã trở thành một cường quốc và sẵn sàng chinh phạt các thị quốc của người tộc Hy Lạp ở Đại Hy Lạp (Magna Graecia). Chính quyền Tarentum lại bất lực, không có đường lối cai trị hiệu quả và ngu xuẩn, vì vậy họ không thể tổ chức kháng chiến.[37] Họ cho rằng họ cần phải có một danh tướng sang giúp, thế là họ bèn mời vua Pyrros sang lãnh đạo họ kháng chiến chống quân thù. Người Tarentum cũng hứa sẽ xây dựng một đội quân mạnh bao gồm các chiến binh Lucania, Messapia, Samnium và cả chính bản thân người Tarentum, tổng cộng có 2 vạn Kỵ binh và 35 vạn Bộ binh.[4][18]

Vua Pyrros được lời tiên tri ở Delphi khuyến khích tới Tarentum. Tuy nhiên, thực chất ông không muốn hỗ trợ cuộc kháng chiến của người Tarentum mà lại muốn thiết lập một đế quốc lớn tại Ý, cũng như bao người Ipiros khác và người bác họ của ông là Alexandros I của Ipiros 40 năm về trước.[9][18] Song, theo nhà sử học nổi tiếng của Đức là Leopold von Ranke, Pyrros đến Ý với tư cách là minh chủ của thế giới Hy Lạp. Vả lại, cũng theo Ranke, ông không đến như một vị tướng đánh thuê, mà là một vị lãnh đạo tài ba và chạm trán với người La Mã vì quyền lợi chung của người Hy Lạp, chứ không phải là vì ích lợi của riêng ông.[38] Sau đó, ông thiết lập liên minh với vua Macedonia là Ptolemaios Keraunos, láng giềng mạnh nhất của ông, và đến Ý vào năm 280 TCN.

Những cuộc hành binh của vua Pyrros trong cuộc Chiến tranh cùng tên (280-275 TCN).

Năm ấy, Pyrros đã 38 tuổi.[39] Theo Plutarchus, trước khi lên đường sang Ý, cố vấn thân cận nhất của nhà vua là Cineas đã có cuộc trò chuyện với ông. Pyrros vốn trọng dụng Cineas đến mức ông cho rằng tài năng hùng biện của Cineas giúp ông chinh phạt được nhiều thị trấn hơn cả lưỡi gươm sáng loáng của ông.[39] Cineas bắt đầu:[40]

"Hỡi nhà vua, nghe bảo người La Mã là những chiến binh tài năng và đã chinh phục được nhiều dân tộc hiếu chiến và quả cảm. Nếu thánh thần phù hộ cho chúng ta chiến thắng được họ thì chúng ta sẽ sử dụng thắng lợi đó như thế nào".

"Câu hỏi của Ngài thật dễ trả lời". Pyrros trả lời"Một khi chúng ta đã tiêu diệt được người La Mã thì sẽ không có bất kỳ một thành phố Hy Lạp hay là man rợ nào trên toàn cõi Ý dám chống lại chúng ta".

Cineas ngừng lời, rồi lại hỏi:"thế sau khi đã có Ý, chúng ta sẽ làm gì nữa"

"Sicilia, một hòn đảo giàu có, sẽ dễ chiếm thôi".Pyrros trả lời

Cineas tiếp:"Điều Ngài nói có thể thật hoàn hảo, nhưng liệu việc chiếm được đảo Sicilia có thể chấm dứt được chiến tranh không?" [41]

Đến lúc đó xứ Carthage và châu Phi sẽ nằm trong tầm ngắm", Pyrros nói,"Một khi đã chiếm được những chỗ đó, thì còn ai trên đời này dám chống lại chúng ta nữa?"

"Chắc chắn là không có ai rồi" Cineas nói "thế sau đó, chúng ta sẽ làm gì"?

Pyrros không ngời mình bị dẫn dắt theo lối này nên ông nói: "Sau đó thì, Cineas thân mến ạ, chúng ta sẽ nghỉ ngơi, uông rượu cả ngày và giải trí với những cuộc đàm đạo thú vị."

"Hỡi nhà vua, vậy điều gì ngăn cản chúng ta làm việc đó ngay bây giờ"? Cineas hỏi "Chúng ta đã có đủ mọi thứ để hưởng thụ mà không cần đến những công việc nặng nhọc, những đau khổ và hiểm nguy nữa."

Lô gíc của luận giải này làm Pyrros rất bối rối nhưng ông vẫn không muốn từ bỏ những hy vọng lớn lao, dù rằng thời tiết năm ấy thật là không tốt.[18] Trước kia Alexandros Đại Đế đã dẹp tan mối họa Ba Tư ở Đông phương, nay ông muốn tiêu diệt hiểm họa La Mã ở Tây phương để hoàn thành công cuộc chinh phạt của Alexandros Đại Đế.[42]

Đầu tiên nhà vua sai Cineas kéo 3 nghìn chiến binh lên đất Ý, sau đó đến lượt ông thân chinh xuất đại binh tinh nhuệ bao gồm 3 nghìn kị binh, 2 nghìn cung thủ, 500 lính ném đá, 20 nghìn bộ binh và 20 voi chiến và lên những chiến thuyền của người Tarentum để đổ bộ vào đất Ý. Con của Pyrros và Antigone là Ptolemaios phải thay cha trị vì xứ sở. Đoàn thuyền đang chạy trên biển khơi, bỗng một cơn bão lớn ập đến. Nhà vua đến được bờ biển Ý, nhưng nhiều con tàu bị đắm, nhiều chiếc còn lại phải cố gắng đổ bộ lên Ý với tình cảnh hết sức khó khăn. Chỉ có một vài Kỵ binh thoát chết, trong khi 2 nghìn Bộ binh cùng với 2 con voi chiến bị thiệt mạng. Thế rồi, cùng với những chiến binh còn lại, Pyrros lên bờ và tiến vào thành Tarentum.[18] Ông nhận thấy người Tarentum chỉ có muốn phó mặc cho ông và các chiến binh phải xông pha trận mạc để bảo vệ cho họ, còn họ chỉ có muốn được sống bình yên ở nhà. Do đó, ông truyền lệnh cho niêm phong không chừa một nơi giải trí nào, cấm mọi cuộc tụ tập và tiệc tùng, nói rằng đây không phải lúc để chời đùa. Không còn chỗ nào để người Tarentum tập hợp và bàn luận chiến tranh nữa. Chưa kể, Pyrros còn bắt tất cả đàn ông phải lao động. Rất nhiều người Tarentum không chấp nhận được kỉ cương đã phải rời khỏi thành phố. Họ gọi đó là chế độ nô lệ không thể làm cho họ hài lòng.

Có tin báo rằng quan Tổng tài La Mã là Publius Valerius Laevinus và tinh binh của mình đã đi qua xứ Lucania khi đang trên đường hành binh, và đã cướp bóc xứ này. Viện binh mà các xứ tộc Hy Lạp ở Ý khác hứa với Pyrros vẫn chưa tới, nhưng ông quyết định không chờ họ nữa. Vì cho rằng không khôn ngoan nếu để quân La Mã tiến vào quá sâu mà không chặn lại nên ông chỉ xông ra cùng với quân đội của mình và người Tarentum. Thế là họ chạm chán với quân La Mã trên cánh đồng Heraclea vào năm 280 trước Công nguyên.

Pyrros tiến đánh Ý, tranh vẽ của John Leech trong bộ Truyện tranh lịch sử La Mã.

Khi nhìn thấy doanh trại của quân La Mã, Pyrros phải sững sờ bởi trình độ tổ chức và kỉ luật nghiêm ngặt của họ. Ông phải nói với cận tướng Megacles: "Kỷ luật này là của một dân tộc man rợ, nhưng nó thật chẳng man rợ tẹo nào. Nhưng ta và ba quân sẽ sớm thử thách nó!"[43] Trước tình hình này, ông phải thay đổi quyết định và trông chờ liên minh tới giúp. Trong thời gian chờ đợi, ông tiến hành đàm phán với người La Mã. Pyrros viết thư cho Laevinus đòi viên Tổng tài này phải tiến hành hòa giải giữa người La Mã và các đồng minh Ý của ông, nhưng Laevinus hồi đáp buộc ông nên quay trở về cố quốc Ipiros để mà lo trị vì trăm họ.[39] Thế rồi, do cho rằng tình hình sẽ nguy hiểm nếu mình cứ thụ động chờ liên quân Ý kéo đên để giúp, nên vua Pyrros buộc phải dàn quân chống trả.[39]

Theo Plutarchus, trên trận tiền, ông chiến đấu dũng mãnh, làm cho bất kỳ ai cũng phải kính sợ. Ông vài lần đấu tay đôi, và hạ sát không ít chiến binh giỏi nhất của La Mã. Bảy lần dòng thác tấn công bị đẩy lùi, và người truy đuổi trở thành kẻ bị truy đuổi. Pyrros đoán rằng trận đánh này sẽ làm hao tổn rất nhiều thời gian và sinh mạng của ông sẽ lâm nguy một khi quân La Mã nhận ra ông, do đó ông bèn đổi áo cho một người bạn hữu. Do đó, ông đã được cứu sống ông nhưng rồi ông suýt nữa thì thua trận. Ấy là do người mặc áo giáp của Pyrros bị giết và quân La Mã cầm cái mũ dễ nhận của ông mà rêu rao khắp chiến trường. Quân La Mã reo hò mừng rỡ, còn ba quân Hy Lạp thì kinh hoàng than khóc và trở nên hoảng loạn. Trước tình cảnh ấy, vua Pyrros buộc phải ngẩng cao đầu, cưỡi ngựa chạy khắp hàng quân, và hét lên với các chiến binh biết ông vẫn còn sống.

Cuối cùng, tượng binh của của ông tiến công và đập tan địch thủ. Quá sợ hãi, quân Kỵ binh La Mã phải bỏ chạy, và Pyrros thừa thắng xua đội Kỵ binh tinh nhuệ Thessalia đánh tan tàn quân La Mã, gây tổn thất lớn cho họ. Người La Mã chạy tháo thân để lại doanh trại của họ và Pyrros chiếm ngay lấy nó.[39] Có sự mâu thuẫn giữa các nguồn về thương vong. Hieronymus của Cardia ghi nhận là quân La Mã mất khoảng 7.000 người trong khi quân đội của Pyrros mất khoảng 3.000 người. Nhưng Dionysius đưa ra số lượng thương vong là 15.000 quân La Mã và 13.000 quân Hy Lạp. Trong số đó có không ít chiến binh trung dũng của Pyrros và bè bạn của ông.[43] Sau chiến thắng, nhà vua đứng quan sát thây tử sĩ La Mã, và nói rằng mặt của những tử sĩ này vẫn nhìn về phía kẻ thù của họ.[44] Nhà vua còn buộc tù binh La Mã nhập quân ngũ Ipiros, nhưng họ từ chối. Pyrros khen họ là kiên quyết, và trao trả 200 người La Mã về xứ. Do phải trả giá cho thắng lợi của mình bằng sự hy sinh của những chiến binh giỏi nhất của ông, Pyrros bảo rằng nếu ông giành thêm một thắng lợi như vậy nữa, ông sẽ phải quay trở về Ipiros.[18] Ông cũng chôn cất tử tế các tử sĩ Ipiros cũng như tử sĩ La Mã và hậu đãi tù binh La Mã.[39]

Sau đó, ông kéo đại binh đến cách Roma 300 Xtađiom. Thắng lợi đầu tiên đã mang lại cho ông nhiều ý nghĩa quan trọng.[39] Một số bộ lạc bao gồm Lucani, Bruttii, Messapia, và các thành bang Hy Lạp là CrotonLocri thiết lập liên minh với vua Pyrros. Không những thế, nhiều người dân La Mã cũng có thái độ ủng hộ Pyrros.[39] Người La Mã sau lần bại trận và mất đồng minh này đã xây dựng một đội quân mới. Pyrros lại không muốn chinh phạt hay là tàn phá thành Roma do rút kinh nghiệm từ chiến thắng vừa qua mà ông đã phải hy sinh biết bao chiến binh tinh nhuệ,[39] nhưng muốn giàn hòa với họ mà theo đó thắng lợi thuộc về ông. Pyrros liền huấn lệnh cho Cineas sang Roma để đàm phán, trong khi ông thì tập hợp các đồng minh Ý của mình. Theo lệnh vua, Cineas phải đề nghị người La Mã ký kết hiệp ước hòa bình với người Ipiros và người Tarentum, và tất cả những người tộc Hy Lạp tại Ý đều phải được giải phóng. Nghị viện La Mã còn do dự, cho đến một chính trị gia nổi tiếng là Appius Claudius, dù đã bị mù, hùng hồn đứng lên kêu gọi nhân dân La Mã quyết phải phá vỡ thỏa thuận với Pyrros và tống cổ Cineas ra khỏi Roma. Cineas trở về và nói với Pyrros rằng ông không thể nào làm hòa được với người La Mã.[39] Thế rồi, nhà vua liền kéo quân đến Anagnia và chiếm lĩnh được vùng Praeneste. Ông tàn phá mọi vùng đất đã in dấu châm ông trong chuyến hành binh này, trong khi các chiến binh của ông, đã cướp được biết bao nhiêu là chiến lợi phẩm, song trở nên vô kỷ luật. Trong khi đó, người La Mã đã giảng hòa với người Etruscan, do đó họ đã rảnh tay để chuẩn bị một chiến dịch mới đánh Pyrros tại Ý. Trước tình cảnh này, ông đành phải rút quân về vùng Campania, tại đây ông nhận thấy Tổng tài Laevinus đang đóng quân, nhưng cả hai đoàn quân hùng mạnh đều không nghĩ đến việc đánh trận, và thế là nhà vua nghỉ đông tại Tarentum. Trong mùa đông năm ấy, tướng La Mã là Caius Fabricius có đến yết kiến Pyrros để xin trao trả tù binh (xin xem phần Tư cách để biết thêm về cuộc gặp gỡ giữa Pyrros và Fabricius).[18]

Sang năm sau (279 trước Công Nguyên), ông dẫn quân vào Apulia. Tại đây, quân ông chạm trán với quân La Mã do các Tổng tài là Publius Decius MusPublius Sulpicius Saverrio chỉ huy trong trận Asculum.[18] Nhà vua đã chiến đấu dữ dội,[18] ông tiên phong chọc thủng hàng ngũ quân La Mã. Trong khi đó, người La Mã lại không thể nào phá vỡ được đội hình phương trận của người Hy Lạp.[18] Không những thế, đội voi chiến hùng hậu cũng xông vào đè bẹp mọi sự kháng cự khiến quân La Mã buộc phải rút về trại. Sau trận này quân La Mã mất 6 nghìn binh sĩ còn Pyrros mất 3500 quân. Tuy nhiên, sử cũ Dionysus không đưa ra một con số thương vong nào giữa hai bên, và cho rằng hai đoàn quân chỉ phải kết thúc trận Asculum khi trời tối.[43] Tuy Pyrros đã chiến thắng nhưng giới sử học La Mã thường hoặc là kể rằng trận đánh này bất phân thắng bại, hoặc là kể rằng quân La Mã chiến thắng.[39] Sau khi hai đoàn quân chấm dứt cuộc chiến, lúc có ai đó ca ngợi thắng lợi của Pyrros, ông luôn nói:[45]

Nếu chúng ta thắng quân La Mã thêm một trận nữa, chúng ta sẽ tan nát.

—Pyrros

Có bản ghi nhận khác câu nói này: "Nếu chúng ta thắng một trận như thế nữa, chúng ta thất bại".[25] Hầu hết các chiến binh tinh nhuệ Ipiros theo chân ông đều đã bị thương, hoặc tử trận, trong đó có rất nhiều tướng lĩnh và bạn hữu của ông. Bản thân nhà vua cũng bị thương ở tay do bị trúng lao trong trận chiến. Ông không thể tuyển mộ thêm quân do nội bộ người Molossia bất hòa và rợ Gallia xâm lược miền Bắc Ipiros[18], không những thế liên quân Ý của ông cũng không thực sự đoàn kết[43]. Trái lại, quân La Mã có khả năng nhanh chóng bù đắp sự mất mát bằng những tân binh. Nhờ đó, cứ sau mỗi thất bại, quân La Mã lại tiến đến gần chiến thắng hơn. Thế rồi, dù thắng trận như Pyrros phải rút quân về thành Tarentum.[18] Ông trở nên tuyệt vọng vì khó thể thắng nổi La Mã.[46]

Giúp xứ Sicilia đánh quân Carthage[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời điểm khăn này, những viễn cảnh mới lại làm cho Pyrros phân tâm. Một phái bộ sứ thần xứ Sicilia có ý định dâng nộp các thành phố bao gồm Syracuse, Leontini, Agrigentum nếu ông chấp nhận chức thống lĩnh quân đội Sicilia, giúp họ đánh tan tác quân Carthage, đánh đuổi những tên bạo chúa ra khỏi hòn đảo Sicilia.[18] Cùng lúc đó, có người báo cho ông tin từ Hy Lạp rằng, quân Macedonia đã bị rợ Gaul đánh tan tác, bản thân vua Ptolemaios Keraunos cũng ngã xuống trên trận tiền, do đó tình hình xứ Macedonia thể hiện rõ rằng ông có thể dễ làm chủ cả vương quốc - một điều rất cần thiết đối với ông. Ông bèn than thở vì sao cùng một lúc có quá nhiều cơ hội đến với mình đến thế, nếu thực hiện cái này lại bỏ lỡ cái kia. Nhưng ông quyết định kéo quân đến xứ Sicilia vì vùng đất này gần và đó sẽ là bàn đạp dẫn đến những vùng đất giàu có ở Bắc Phi.[43]

Ông bèn hoãn lại cuộc chiến tranh với Công hòa La Mã và để lại một binh đoàn ở lại trông giữ xứ Tarentum, do tướng Milo thống lĩnh.[39] Người Tarentum đòi Pyrros phải hoặc là chấm dứt chiến tranh với La Mã hoặc là rút binh đoàn này về. Nhưng rồi, Pyrros không hề có lời hồi đáp ổn thỏa nào, thay vào đó, ông bắt họ câm miệng và đợi đến khi ông quay lại. Ông cũng ra huấn lệnh cho con mình là Alexandros trấn thủ Locri.[18] Rồi ông vượt biển lên đường chinh phục xứ Sicilia, với hào khí hừng hực.[43][46]

Và rồi, ước mơ của ông đã hoàn toàn trở thành sự thực. Hầu như phần lớn các thành phố xứ Sicilia đều mở cửa cho ông kéo đại binh vô.[18] Ông thân chinh thống lĩnh 3 vạn quân, đánh tan tác quân Carthage và chiếm được nửa hòn đảo. Eryx là pháo đài kiên cố nhất của quân đội Carthage, lại được nhiều chiến binh tinh nhuệ có thủ, và không những thế, theo thần thoại đây là thành phố của thần Heracles. Để chiếm thành Eryx, Pyrros cung cấp đầy đủ phương tiện vây hãm, và tiến hành phong tỏa khắp thành phố. Nhưng nếu tiến hành vây hãm thì Pyrros phải có thời gian, và ông có đủ đầy đủ lý do để chiếm lĩnh thành Eryx một cách nhanh chóng. Thế rồi quyết định tấn công trực diện chứ không bỏ đói chờ một tên giặc nào trong pháo đài ra hàng, để cho đỡ phải tốn thời gian và tận dụng lợi thế vốn có của mình.[47] Theo Plutarchus, khi sĩ khí quân đội lên đến tột đỉnh, nhà vua binh giáp chỉnh tề, tiến về phía những bức tường thành Eryx và hứa với Heracles rằng nếu Thần phù hộ cho ông được chiến thắng và được thể hiện xuất sắc tài năng của mình trước tòan dân Hy Lạp tại đảo Sicilia (Pyrros luôn tự hào vì mình là con cháu của thần), ông sẽ tổ chức yến tiệc linh đình và làm lễ cung tế Thần.[47] Theo Diodorus Siculus, ông muốn được sánh vai với thần Heracles - người đã lập nên chiến công hiển hách tại Eryx năm xưa.[48] Sau đó, Pyrros lệnh cho quân thỏi kèn trompet để mở đầu trận chiến, và một cơn mưa đá và tên nõ quét sạch những tên lính bảo vệ ra khỏi tường thành. Thế rồi Pyrros cùng các chiến binh của ông trèo lên thang. Chính ông là người đầu tiên lên được mặt thành. Ngay lập tức xác người quanh ông chất đống. Chỉ cần nhìn Pyrros, đối phương thù cũng đã kinh hoàng đến tê liệt.[15]

Pyrros vây hãm thành Lilybaeum, tranh vẽ trong tiểu sử Pyrros của John Abbott, ấn bản 1901.

Sau khi chiếm lĩnh được thành Eryx, ông hiến tế rất nhiều cho Heracles, theo như lời hứa trước đó của nhà vua đối với Thần. Đây là lễ cúng giỗ linh đình của "Đại bàng" giành cho vị tổ tiên huyền thoại, người mà ông kính trọng đến mức ông luôn tưởng mình là một con người khổng lồ chứ không phải là người thường. Giờ đây, trên thực tế ông đã làm chủ toàn bộ Sicilia mà không vấp phải sự kháng cự mạnh.[47] Trong những rợ tộc sống ở đất Ý khi đó có người Mamertum là một dân tộc hung hãn và thiện chiến, thậm chí họ còn bắt nhiều người Hy Lạp phải cống nạp cho. Tuy nhiên, Pyrros đã bắt giữ và giết sạch những người thu cống vật, đồng thời xua quân đánh bại người Mamertum và hạ được nhiều thành trì cuả họ.[15]

Giờ đây, người Carthage chỉ còn giữ được một thành trì kiên cố là Lilybaeum, và Pyrros tiến hành vây hãm ngôi thành này.[18] Chiến thắng huy hoàng vừa qua của Pyrros đã làm cho họ thật quá lo sợ. Dù họ chỉ có một thời gian ngắn trước khi phải ký Hiệp ước với người La Mã[39], họ phải cầu hòa, xin được cống tiền và chiến thuyền cho Pyrros, đổi lại ông phải lập nên quan hệ hữu nghị với họ. Họ cũng xin được giữ lại chỉ mỗi pháo đài này và rút toàn bộ quân đội ra khỏi những nơi khác. Tuy nhiên, do tham vọng lớn lao của mình, vả lại theo lời khuyên của những thủ lĩnh người Sicilia,[18] nhà vua phản hồi rằng cách duy nhất để thiết lập quan hệ hữu nghị, đó là người Carthage phải rút lui hết ra khỏi xứ Sicilia, đồng thời phải lập vùng biển Libya làm biên giới giữ họ và người Hy Lạp. Hành động này cuả Pyrros bị đánh giá là ngu xuẩn vì bỏ qua cơ hội tiếp tục theo đuổi chiến tranh với người La Mã.[39] Hãnh diện bởi sức mạnh và những chiến công hiển hách vừa qua của ông, Pyrros chẳng muốn làm gì ngoài việc theo đuổi cái tham vọng đã đưa ông đến xứ Sicilia này.[15]

Thế rồi nhà vua vây đánh thành Lilybaeum thật lâu dài, nhưng rồi ông vẫn không thể chiếm lĩnh được pháo đài này.[18] Do đó, người Sicilia trở nên mất lòng tin hơn vào Pyrros[39]. Giờ đây, ông đành hướng tầm nhìn của ông sang châu Phi. Ông có đủ những chiến thuyền hùng hậu, nhưng lại cần phaỉ có lính thủy. Để làm được điều đó, ông tiến hành chiêu mộ hải quân bằng việc biểu dương sức mạnh và sự đe dọa. Người Sicilia tỏ thái độ bất hợp tác, do đó ông đẩy họ vào khuôn phép, bắt buộc họ phải cung cấp thủy binh cho ông. Và rồi, ông thiết lập nên các đơn vị đồn trú tại Sicilia và tuyên bố mình là nhà độc tài quân sự của xứ này.[49] Cách suy nghĩ của người Sicilia về Pyrros giờ đây đã thay đổi, họ coi ông là một kẻ độc tài tàn bạo và một tên bạo chúa lừa dối. Ngôi vua xứ Sicilia của ông bị họ xem là một sự ô nhục của họ, chứ không phải là sự vinh hiển. Một số người Sicilia lại mời kẻ thù cũ của họ là quân Carthage đến giúp, một số khác lại mời người Mamertum - những kẻ đã đàn áp họ năm xưa, còn toàn thể các thành phố Sicilia khác đều nhất loạt nổi dậy chống lại ách thống trị độc đoán của Pyrros.[15] Điều này khiến người Carthage tận dụng cơ hội để trả đũa cho thất bại của họ trước đây. Họ liền tích cực theo đuổi chiến tranh hòng gạt Pyrros ra khỏi đảo Sicilia. Thế rồi các chiến binh tinh nhuệ Carthage kéo đến chống nhau với Pyrros, và bị ông đập nát. Bất chấp thắng lợi vang dội này, người Sicilia ngày càng căm ghét ông.[50][51]

Khi vua Pyrros nhận được những bức thư khẩn cấp của người Samnium và người Tarentum báo cho ông biết quân La Mã đã đánh bại họ nên họ phải co cụm trong thành phố, tuyệt vọng chờ cứu viện. Đó là một lý do quá tốt để ròi khỏi xứ Sicilia như thể đưa con tàu tránh khỏi một cơn bão sắp xảy ra. Người ta nói rằng, lúc giương buồm trở về đất Ý, ông nói với các võ tướng:[15]

Đó là chiến địa mà Ta giao lại cho người La Mã và Carthage!

—Pyrros

Nhưng ngay sau khi ông căng buồm thì rợ Mamertum bắt đầu gây hấn, đúng như Pyrros đã đoán trước. Không những thế, hạm đội Carthage đã chặn lối đi và đánh đắm 70 chién thuyền của ông. Khi ông và những chiến binh còn lại lên bờ thì người Mamertum đã kéo nhau vượt đến từ Sicilia và chờ sẵn để tấn công. Người Mamertum lúc này có dịp để báo thù cho thất bại trước Pyrros mà họ từng phải hứng chịu. Khoảng 1 vạn quân Mamertum dựng chiến lũy và xé lẻ quân đội của ông. Pyrros tấn công quân Mamertum và buộc họ phải rút lui. Trong cuộc chiến này ông bị kiếm chém ở đầu và được đưa về cứu chữa ở hậu phương. Một chiến binh to khỏe nhất và được trang bị tốt nhất của quân Mamertum xông lên thách đấu với Pyrros. Không để ý đến lời khuyên của thầy thuốc và đám tùy tùng, Pyrros lao qua đám đông chiến binh bảo vệ và bằng một nhát kiếm dũng mãnh, ông đã chém đứt đôi người khổng lồ suốt từ đỉnh đầu đến chân. Khi chứng kiến sức mạnh kinh khủng của nhát chém này mà chỉ có thần thánh mới làm được, người Mamertum phải bỏ chạy. Chiến tịch này khiến cho trên đoạn đường trở về Tarentum không còn ai dám ngăn trở Pyrros và những chiến binh tinh nhuệ của ông nữa, nhờ đó họ được yên bình trở về.[15][18][39] Sự kiện này khiến hòn đảo Sicilia trở nên vô chủ. Trong cuộc chinh chiến vừa qua, dưới trướng vua Pyrros có một cận tướng xuất sắc là Hiero, ông này được nhân dân Sicilia tôn làm Bạo chúa Hiero II.[52]

Thua quân La Mã và lui binh khỏi Ý[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi Pyrros đang phải chinh chiến với quân Carthage tại Sicilia, La Mã đã xây dựng lại quân đội của họ và tuyển mộ thêm nhiều tân binh. Khi Pyrros trở về từ xứ Sicilia, ông phát hiện ra mình đang chuẩn bị đối đầu với một đội quân La Mã đông đảo hơn. Trong khi đó, Pyrros đã mất những chiến binh trung thành và đại đa số binh lính của ông hiện giờ là quân đánh thuê đắt giá.[39] Không những thế, do liên tục bị quân La Mã đánh bại, người Tarentum đã nản chí. Họ còn găm ghét nhà vua vì ông bỏ mặc họ mà lên đường chinh chiến tại Sicilia. Dù người Samnium có đến họp binh với Pyrros nhưng thật ra họ chỉ là những kẻ cứ thấy sóng rã là dễ ngã tay chèo, và ông đã đóng quân tại Samnium để đánh quân La Mã.[18] Ông quyết định chia quân làm hai đạo: ông phái một đạo đến Lucania để tiêu diệt viên Tổng tài La Mã đang đóng quân tại đó, và để ông này không thể tiếp viện cho đạo quân La Mã khác.[20]

Theo Plutarchus, đạo quân thứ hai do nhà vua thân chinh chỉ huy, và ông kéo đại binh tấn công quan Tổng tài Manius Curius Dentatus - người đang đồn trú kiên cố tại Beneventum và không tiến hành giao tranh. Cùng với những chiến binh giỏi nhất, và tượng binh của mình, Pyrros tiến quân, với dự định sẽ đánh úp Manius Curius vào ban đêm.[20] Thế nhưng, trên quãng đường vòng dài, đường toàn cây và bụi rậm làm khó cho ba quân, làm cho các chiến binh Ipiros bị lạc để rồi kế hoạch của Pyrros bị phá sản. Lúc tờ mờ sáng, ông nhìn thấy quân La Mã tràn xuống đồi, gây cho trại lính của họ lâm vào tình thế hỗn loạn. Tuy nhiên, do Manius Curius thấy có điềm lành khi ông ta cúng viếng chư thần, và để đỡ phải tốn thời gian, bèn xua quân tấn công đội tiền quân của Pyrros, làm họ phải tháo chạy. Quân đội của Pyrros bị nhốn nháo, nhiều chiến binh trận vong và một vài con voi chiến bị rơi vào tay giặc. Thành công ban đầu này khuyến khích các chiến binh La Mã xông lên làm một trận đánh lớn chiến binh Ipiros bị nhốn nháo. Trong trận quyết đầu này, tuy một cánh quân Ipiros bị một cánh quân La Mã đánh bại, phần còn lại của quân La Mã bị lực lượng tượng binh hùng hậu của Pyrros đánh đuổi về trại. Nhưng trong tình thế bất lợi, Manius Curius kêu những tân binh thiên chiến và vũ trang hoàn hảo đang canh gác trại quân ra đánh, và đám tân binh tinh nhuệ này phóng lao gây thiệt hại cho lực lượng tượng binh, làm cho quân đội của Pyrros bị loạn lớn.[15] Pyrros đã thua trận Beneventum (275 trước Công Nguyên),[7][17] sau đó ông cầu nguyện thần Zeus:[25]

Con đã đánh thắng những kẻ mà đến giờ chưa ai thắng được, nhưng họ cũng đã thắng con.

—Pyrros

Chiến thắng tại Beneventum nâng cao sức mạnh của Quân đội La Mã, trong khi xua tan những tham vọng lớn lao của Pyrros về Ý và Sicilia. Sau suốt 6 năm chinh chiến, Pyrros đã thất bại hoàn toàn, với thắng lợi của các Binh đoàn Lê dương La Mã hùng hậu, kỷ cương trước những đội hình phương trận dày đặc của ông.[15][53] Pyrros phải chạy về thành Tarentum cùng với một vài Kỵ binh. Nhưng ông không tuyệt vọng,[18] mà còn thỉnh cầu Hy Lạp, Macedonia cũng như các Vương quốc Hy Lạp hóa của triều đại Ptolemaios và triều đại Seleukos cho quân sang giúp. Tuy vua xứ Macedonia là Antigonos II Gonatas chối từ, vua nhà Seleukos là Antiokhos I Soter thề sẽ giữ lời hứa. Tin tức về một đạo quân đánh thuê đang kéo đên họp binh với Pyrros đã làm cho người La Mã không dám tiến công, và nhờ đó Pyrros có thể căng buồm trở về cố quốc.[18][54] Tuy ông có để lại một binh đoàn tại xứ Tarentum do tướng Milo và Hoàng tử Helenus chỉ huy,[18] nhưng không bao giờ quay trở lại đó nữa.[7] Khi Pyrros rút quân khỏi Ý, vua nhà Ptolemaios là Ptolemaios II Philadelphos gửi thư đến chúc mừng người La Mã thắng trận.[55]

Đánh bại Antigonos II và chiếm Macedonia[sửa | sửa mã nguồn]

Pyrros về nước với 8.000 Bộ binh và 500 Kỵ binh, nhưng ngân khố quốc gia đã kiệt quệ khiến cho ông không thể trả lương cho họ. Do đó, đầu năm 276 trước Công Nguyên, để giải quyết vấn đề này, Pyrros đem quân đi đánh xứ Macedonia, và hội quân với một nhóm rợ Gallia.[56] Sau thất bại ở Ý, ông trở nên căm thù Antigonos II Gonatas - con của Demetrios I và là người không ủng hộ chiến tranh chống La Mã. Ông cũng tiến hành cướp bóc ở Macedonia để quân mình có thêm chiến lợi phẩm. Một lần nữa nữ thần vận mệnh lại mỉm cười với ông, mang lại thắng lợi nhanh chóng cho ông. Do đó, Pyrros nghĩ rằng mình sắp lập một chiến tích vẻ vang hơn nữa và từ bỏ hẳn những dự định trở lại đất Ý, đồng thời triệu hồi Helenos con ông về cùng ông chiến đấu, dù vậy Milo hãy còn đóng quân ở Ipiros.[18] Trong trận chiến dọc theo vùng Aoös, gần Antigoneia, quân đánh thuê Gallia của Antigonos thua lớn và gần như là bị tận diệt, gây rối loạn cho quân đội của Antigonos II. Trận đánh này quy mô không lớn nhưng diễn ra ác liệt. Đội tượng binh của Antigonos cũng bị vây tứ phía, do đó những người quản tượng phải khuất phục Pyrros và giao nộp voi chiến cho ông. Có thêm voi chiến, Pyrros hết sức vui sướng, do đó ông rất tự tin và trực tiếp tiến công đạo quân Macedonia của Antigonos II. Thảm họa của lính đánh thuê Gallia đã khiến cho quân Macedonia hoàn toàn chán nản, e sợ Pyrros và không thể chiến đấu nữa. Do đó, họ nhất tề ngả theo phe Pyrros khi nhận được lời kêu gọi của ông.[18][57][58] Không còn lựa chọn nào khác, Antigonos II, cùng với đội kỵ binh hộ tống phải trốn chạy khỏi Macedonia, và đến Thessalonike mà an trí.[57]

Đồng tiền cổ của vua Pyrros xứ Ipiros.

Sau chiến thắng này, Pyrros làm chủ được phần lớn Macedonia và Thessaly, trong khi kình địch Antigonos chỉ còn giữ được hai thành phố ven biển và một hạm đội hùng hậu.[57] Thắng lợi đã khiến cho Pyrros một lần nữa trở thành vua xứ Macedonia.[39] Trong mọi chiến công hiển hách của ông ở Macedonia, Pyrros cho rằng thắng lợi của ông trước quân Gallia là lớn nhất và xứng đáng nhất để phục hồi thanh danh của mình. Quân ông thu giữ những chiếm lợi phẩm báu bỡ nhất của người Gallia, và theo lệnh của ông họhọ hiến dâng những cống phẩm này lên đền thờ Minerva Itonida, tại đó có dòng bi văn ca ngợi trận Pyrros đánh tan quân Gallia trước thần nữ Minerva. Bi văn này tôn vinh lòng quả cảm của Pyrros đã mang lại thắng lợi cho ông, và tán dương ông thật xứng đáng là con cháu của Aeacus. Trước kia Antigonos đã đánh bại người Gallia dữ tợn, nhưng theo những dòng bi văn hùng hồn này thì thắng lợi ấy không đáng kể, so với đại thắng của vua Pyrros anh hùng.[20][58] Tuy nhiên, tiếng tăm của Pyrros tại Macedonia vốn đã từng lên đến tột đỉnh đã nhanh chóng xuống dốc. Số là do ông để cho những người lính đánh thuê Gaul của mình tha hồ nhào vô chiếm đóng các thị trấn xứ Macedonia, không những thế lính đánh thuê của ông lại còn cướp phá khu lăng tẩm các vị tiên vương xứ Macedonia tại điện Vergina, cố đô Aegae. Họ vô cùng tham lam, cướp sạch mọi đồng tiền và vàng tại khu lăng tẩm này.[19][20]

Người Macedonia bất bình kêu gọi Pyrros trừng trị lính đánh thuê Gallia, nhưng ông lại không ra tay. Có lẽ là do nhà vua còn phải bận bịu với những cuộc chiến chinh nên không rảnh tay, hoặc cũng có thể vì ông bao che cho họ vì họ nằm dưới quyền ông. Dù gì đi nữa, toàn dân Macedonia đều trở nên căm hờn Pyrros.[20]

Những trận đánh cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc vây hãm Sparta[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 272 trước Công Nguyên, một hoàng thân xứ SpartaCleonymos đến gặp ông tại Ipiros, và cẩn thiết thỉnh cầu ông tiến đánh Sparta. Tuy quân Ipiros đã chiếm được gần hết Vương quốc Macedonia, Pyrros đã bỏ nhỡ thời cơ mà dẫn quân nam chinh.[23] Người Sparta tôn vua Areus I lên ngôi trong khi họ chán ghét Cleonymus vì Cleonymos quá độc đoán và hung bạo. Nhưng Cleonymos rất tham vọng nên vô cùng giận dữ vì không được làm vua.[59] Không những thế, Cleonymos giờ đã già nhưng có người vợ trẻ đẹp là Chilonis - con gái của vua Leotychides. Song, bà lạnh lùng, bỏ mặc Cleonymos mà lại mê say con trai của Areus là Acrotatus - một chàng trai tráng kiện. Điều này làm cho Cleonymos trở nên tức giận, mà dân chúng cũng khích bác về giữa vợ Cleonymos với Acrotatus, làm Cleonymons lại càng nổi điên. Thế là Cleonymos mời Pyrros đến cùng với 25.000 bộ binh, 2.000 kỵ binh và 24 tượng binh để trả thù cho mình.[58]

Cuộc vây hãm Sparta, vẽ bởi Jean-Baptiste Topino-Lebrun.

Cleonymus khẳng định với Pyrros rằng ông ta sẽ dấy loạn chống Areus I. Thế nhưng, Pyrrosa lo sợ rằng ông sẽ không phải đối phó với ai, nhưng với một vị tướng khá nổi danh (Cleonymus từng tấn công Ý trước cả Pyrros).[59] Và cuộc tiến công Sparta cho thấy mục tiêu của ông không phải là giúp Cleonymos, mà là đoạt lấy vùng Peloponnesus cho riêng mình. Tuy nhiên, Pyrros không hề thổ lộ ý định ấy và nói với sứ thần là ông là ông muốn tấn công lực lượng của Antigonos II và giải phóng các thành phố Hy Lạp khỏi tay Antigonos, người vẫn muốn cai quản những vùng đất cũ của xứ Macedonia. Không những thế, ông còn tuyên bố rằng nếu người Sparta cho phép, ông sẽ gửi các con trai nhỏ nhất của ông đến xứ Sparta, để được học hỏi tinh thần quân phiệt và kỷ luật khắt khe của Sparta, để chúng khác hẳn với các vương tôn.[21][58]

Nói vậy nhưng ngay từ khi ông mới đến, đại binh của ông bắt đầu cướp phá Sparta.[58] Khi các sứ thần Sparta phàn nàn rằng chiến sự chưa bùng nổ mà Pyrros đã ra quân, ông đáp:[58]

Rất phải, làm sao ta và ba quân lại không biết rằng những người Sparta đây thường không chính thức công bố ý định của mình?

—Pyrros

Trong lúc đó, một người Sparta có mặt tại đây tên là Mandricias đã nói với nhà vua:[58]

Nếu Ngài là một vị Thần, thì Ngài sẽ không làm hại chúng tôi vì chúng tôi không làm hại ai. Nhưng nếu nhà vua là người trần thế thì sẽ có người mạnh hơn Ngài.

—Một người Sparta nói với Pyrros

Song, theo các tác giả PausaniasPolyaenos, ông đánh bại quân Sparta trong một trận đánh đẫm máu ngoài thành phố. Đáng tiếc là không có chi tiết nào về trận đánh còn tồn tại. Sau đó, ông kéo rốc đại quân vào Sparta.[21] Đúng vào đêm Pyrros kéo đại quân đến thành phố, Cleonymos khuyên ông nên tấn công ngay, nhưng Pyrros e sợ binh lính của mình khó giao đấu trong bóng tối nên quyết định đợi cho đến sáng hôm sau. Và ông cũng biết rằng thành phố Sparta không có pháo đài, còn số quân còn lại là quá ít để bảo vệ lâu dài. Hơn nữa, phần lớn quân đội Sparta đã được Areus I mang đi chinh phục người Gortynia tại đảo Crete.[58]

Đêm hôm đó, thị dân Sparta họp bàn về vấn đề có nên gửi vợ con của mình đến lánh nạn ở đảo Crete không, nhưng những người phụ nữ đều từ chối không chịu đi. Họ cử một người đại diện đến Hội đồng Dân chúng. Bà ta mang một thanh gươm trong tay đến gặp những người đàn ông và hỏi liệu họ có nghĩ rằng phụ nữ xứ Sparta còn sống sau khi thành phố bị chiếm đóng không. Thế là người ta quyết định cho phụ nữ sẽ ở lại. Khi những người chiến binh trẻ tuổi nghỉ ngơi chờ trận đánh ngày hôm sau, phụ nữ vận trang phục rất mỏng ra chiến lũy.[58][60]

Đêm đó người Sparta đào một đường hào sâu 1,8 mét, rộng 2,7 mét và dài tới 240 mét. Họ cũng dựng những chướng ngại lớn để ngăn voi chiến. Khi bình minh lên người Sparta trang bị vũ khí cho những chàng trai trẻ và khích lệ họ bằng cách nói rằng mọi người sẽ chứng kiến họ chiến đấu và hy sinh vì sự sống còn của xứ Sparta. Và song khi họ đã đấu tranh anh dũng, họ có thể vui sướng và vinh dự vì được ngã xuống trong tay những người vợ yêu của họ.[58]

Mở đầu trận chiến, Pyrros kéo Bộ binh xông lên giáp chiến với người Sparta. Nhưng, tuy hào rất dễ qua, ông nhận thấy ba quân khó có thể hành binh qua hào bởi có chiến ngại vật ngăn chặn. Thấy vậy, con trai của nhà vua là Hoàng tử Ptolemaios kéo 2 nghìn quân đánh thuê Gaul và một nhóm chiến binh Chaonia mà thử đi vòng qua hào, nhưng những chiến ngại vật được chôn sâu dưới đất và sát nhau đến nỗi họ phải dào chúng lên và đẩy chúng ra. Hoàng tử trẻ tuổi Acrotatus nhìn thấy mối đe dọa này bèn cùng với 300 quân Sparta đi vòng đánh tập quân của Ptolemaios. Cuộc tập kích bất ngờ này đã giết chết nhiều chiến binh của Pyrros và bảo vệ được trận địa. Ở nơi Pyrros trực tiếp chiến đấu, trận đánh diễn ra rất khốc liệt. Một chiến binh Sparta là Philitus sau khi đã nhiều lần đánh lùi và gây thiệt hại nặng cho quân đội của Pyrros, do bị thương quá nặng nên đã nhờ một chiến hữu giúp mình tự sát để bảo vệ khí tiết.[22]

Trận chiến kéo dài suốt cả ngày, chỉ có đêm mới chấm dứt được cuộc chiến đấu. Đêm đó, Pyrros ngủ trên giường và có chiêm bao thấy những đợt sấm sét trút xuống thành phố, làm cho cả Sparta rực sáng lên.[58] Được điềm báo này khích lệ, ông hết sức vui sướng, và ngày hôm sau ông tiếp tục ra lệnh tấn công thành phố, lại còn kể về chiêm bao cho các tướng lĩnh của ông nghe. Tuy nhiên, riêng một vị tướng tên là Lysimachos không vui mừng như Pyrros và ba quân. Lysimachos đã giải thích rằng giấc mơ đó là thông điệp của chư thần phán rằng Sparta sẽ không thất thủ và những chỗ sét đánh là những chỗ linh thiêng bất khả xâm phạm.[58] Nhưng nhà vua trả lời:[22]

Cái này đáng tranh cãi, khó thể thống nhất cách hiểu giữa mọi người. Vì không thể chắc chắn là vấn đề này như thế nào được. Nhưng rồi, mọi chiến binh đều phải cầm lấy vũ khí, và đặt đoạn thơ này trước mặt mình: Đó là điềm lành rằng ông sẽ đổi đời/Trong cuộc chiến đấu vì việc trong đại bằng cây giáo và thanh gươm đẫm máu.

—Pyrros

Đây là đoạn thơ của thi hào Hómēros được Pyrros trích ra. Nói vậy, ông đứng lên và phát động tấn công. Sự táo tợn và lòng can đảm của người Sparta bù đắp cho sự ít ỏi của họ. Những xác người và đống đổ nát đầy lòng hào. Pyrros quyết định cưỡi ngựa qua lòng hào và bắt đầu xông vào thành phố nhưng một chiến binh người Crete bắt tên trúng con ngựa của ông và ngựa hất ngã ông. Người Sparta kéo lại và khiến kẻ thù phải dừng bước.[22]

Sau đó, Pyrros ngừng tiến. Ông nghĩ đến lúc này người Sparta có thể đã muốn đầu hàng vì phần lớn người của họ đã bị thương và rất nhiều người đã chết. Nhưng đúng lúc đó, Areus I trở về từ đảo Crete cùng với 2.000 quân Sparta tinh nhuệ. Không những thế, từ thành phố Corinth, một cận tướng của Antigonos II là Aminias người Phocia kéo đại binh đến đánh Pyrros. Có viện binh hùng hậu, người già và phụ nữ Sparta rút hết về, nghĩ rằng họ đã được bình an.[22]

Thấy thế, Pyrros nổi điên lên và quyết định bằng mọi giá phải chiếm lấy Sparta. Nhưng nhận thấy mất mát quá lớn trong toàn quân, nhà vua đành phải rời bỏ xứ Sparta mà đến thành phố Argos, nơi thủ lĩnh Aristeas cầm đầu một phe trong cuộc nội chiến ở đó cầu viện ông. Phe kia do thủ lĩnh Aristippus cầm đầu thì nhờ đến Antigonos II kẻ thù cũ của Pyrros. Pyrros luôn con thắng lợi là bậc thang tiến đến những điều vĩ đại hơn và cần những chiến công mới để xóa đi thất bại. Do đó ông tìm mọi cách có thể để lao vào những cuộc phiêu lưu và những khó khăn mới.[22]

Báo thù cho con[sửa | sửa mã nguồn]

Nhưng Areus I đã cho quân mai phục ông ở nhiều nơi khác nhau, và chiếm giữ các con đường chất hẹp nhất mà Pyrros sẽ đi, đồng thời đánh úp hậu quân người Molossia và Gallia của ông. Theo Plutarchus, cùng ngày, một thầy tu nhìn thấy có con vật được đem tế thần linh bị nhiễm độc, bèn khuyên ông nên cẩn thận kẻo bị mất một thân quyến, theo như thông điệp của chư thần. Thế nhưng Pyrros lại không nghe mà sai Ptolemaios chỉ huy các cận vệ cuả ông mà yểm trợ cho đội hậu quân, trong khi bản thân ông thì nhanh chóng rút quân và đẩy phần còn lại của Quân đội Ipiros ra khỏi những con đường nguy hiểm.[22]

Trong lúc đó, Ptolemaios đã tử trận khi giao phong với một viên tướng Sparta là Evalcus. Thắng thế, quân Sparta truy kích nhưng không đuổi kịp Bộ binh Ipiros. Nghe tin con chết, Pyrros vô cùng đau khổ và nổi trận lôi đình, nên bất ngờ kéo quân Molossia quay lại và một người một ngựa xông vào giết nhiều kẻ thù. Theo Plutarch, tuy từ lâu Pyrros với thanh bảo kiếm trong tay đã thể hiện sức mạnh và sự bất bại cuả mình, khả năng và lòng quả cảm của ông được thể hiện sâu sắc hơn cả trong lần này. Tướng Evalcus vừa né vừa vung gươm chém Pyrros. Evalcus không chém trúng tay cầm dây cương của Pyrros, nhưng lại trúng dây cương. Song, Pyrros lấy giáo đâm xuyên qua người Evalcus, và dù ngã ngựa nhưng ông vẫn tiếp tục chiến đấu, giết sạch quân Sparta tử thi của Evalcus và trả thù cho con mình.[18] Theo Plutarchus, thất bại này của các lãnh đạo Sparta là do tham vọng quá lớn của họ: đáng nhẽ Pyrros sẽ rút quân trước khi có cuộc giao đấu này. Sau thắng lợi, ông làm lễ tế cho Ptolemaios.[22]

Trận vong tại Argos[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau đó, ông liền kéo quân đến Argos.[22] Nhận thấy Antigonos II đang đóng quân trên một bãi đất cao gần thành phố Argos, Pyrros đóng quân tại Naupalia. Ngày hôm sau, ông gửi tối hậu thư đến Antigonos II, với những lời lẽ xúc xiểm Antigonos: bảo Antigonos là một kẻ đê tiện,[22] và yêu cầu Antigonos giao phong với ông để giành nhau Vương quốc Macedonia. Antigonos bảo:[61]

Thời gian là vũ khí của Ta, cũng như thanh kiếm của Ta vậy. Nếu Pyrros chán sống, có nhiều cách để kiết liễu đời hắn.

—Antigonos II Gonatas

Theo Plutarchus, bấy giờ, quần chúng Argos cầu xin cả hai vị vua rút quân khỏi thành phố của họ, để giữ thái độ trung lập thay vì phải thần phục một trong hai vị vua, trong khi thành phố này cũng không có gì để các vua dòm ngó.[22] Antigonos đồng ý và gửi con mình để làm con tin cho người Argos để chứng minh sự thành thật của mình. Trong khi đó, vua Ipiros cũng đồng ý rút quân nhưng ông không gửi một hoàng tử nào đến làm con tin tại Argos, do đó dân Argos không thể tin tưởng vào ông. Theo Plutarchus, lúc này sau khi binh lính của ông chặt đầu những con vật tế thần, đầu của chúng dường như lè lưỡi dài ra và liếm máu của chính chúng, khiến Pyrros sửng sốt tột độ.[22][61] Theo bộ Naturalis Historiæ của sử gia La Mã Plinius Già, hiện tượng kỳ lạ này là điềm lành cho người La Mã.[9] Đồng thời, một nữ tu thành Argos chạy trên khắp phố phường và hô hào rằng bà tiên đoán thấy xác súc vật và máu thấm toàn bộ thành phố, và một con đại bàng sẽ tấn công thành phố, nhưng nó sẽ bị tiêu diệt bất ngờ, và sẽ không có ai biết mạng sống của nó ra sao.[22][61]

Đêm hôm ấy, Pyrros đem quân đến tường thành Argos, và nhận thấy cánh cổng Diamperes đã được Aristeas mở cho ông vào.[22] Người ta chưa nhận ra là đại quân Ipiros kéo đến, trước khi ông xua quân đánh thuê Gallia chiếm giữ khu chợ búa thành phố.[22] Tuy nhiên, cổng thành không đủ cao để cho đội tượng binh hùng hậu của ông kéo vào. Các chiến binh bèn phải tháo các cái thùng chở línhh trên lưng voi ra, để cho tượng binh dễ tiến vào thành, sau đó họ đặt lại các thùng lên lưng voi vào đêm khuya. Điều này đã hao tổn thời gian của họ và gây tiếng ồn, làm lộ ý đồ xâm lược của Pyrros. Dân Argos chạy vào thành Aspides và những nơi khác để cố thủ, đồng thời viết thư cầu cứu Antigonos II. Antigonos đã nhận lời và dẫn quân đến tường thành, nhưng không tiến vào mà phái các tướng giỏi nhất của Macedonia và con mình đem tinh binh vào giúp dân Argos.[22] Không những thế, vua Areus I xứ Sparta cũng kéo hàng nghìn quân Crete và những chiến binh tinh nhuệ nhất của Sparta đến hội quân với Antigonos II, và khi tất cả các kẻ thù của Pyrros hội đủ, họ tấn công và đập nát quân đánh thuê Gallia, gây hỗn loạn rất lớn cho lực lượng này. Qua cánh cổng Cylarabis, Pyrros thúc ngựa vào thành phố và nghe thấy những tiếng gào thét của lính Gallia gây nên tiếng ồn cực lớn, nhưng nhà vua cho rằng những tiếng hò la này không có nghĩa là quân đánh thuê của ông đang hăng hái xông pha - mà đúng hơn, nó thể hiện họ đang kinh sợ và buồn bã.[22][61]

Hình vẽ cái chết của Pyrros

Theo Plutarchus, Pyrros lập tức ứng chiến. Ông thúc quân Kỵ binh tiến thật nhanh, vượt lên trước chính ông. Điều này gây khó khăn cho họ bởi vì Argos có nhiều hố, vũng lầy và ống dẫn nước. Do đó, quân đội của Pyrros bị náo loạn. Trước tình cảnh ấy, quân đội hai bên đều ngưng tay và đợi đến sáng ngày mai sẽ kịch chiến. Lúc tờ mờ sáng, trước khi đụng độ có thể xảy ra, nhà vua thấy thành Aspides - nơi các kẻ thù hùng mạnh của ông đang trú.[22] Không những thế, lúc ông thúc ngựa vào khu thương trường của thành phố, trong những bức vẽ đẹp mắt trên tường thành, ông thình lình nhận ra những bức tranh vẽ một con sói đánh nhau với một con bò. Ông đâm ra lo sợ, vì từng nghe có lời tiên tri rằng, ông sẽ kết thúc sự nghiệp hoặc chết khi nhìn thấy một tranh vẽ như vậy. Và, Pyrros gặp bất lợi nên quyết định rút lui. Nhưng do những cánh cổng thành quá chật hẹp, ông sai con là Helenus, người chỉ huy đạo quân lớn nhất của ông đang ở ngoài thành phố, phá vỡ một cổng để ông có thể triệt thoái và dễ dàng chống trả nếu bị chặn đánh. Nhưng, người đưa tin cho Helenos do đang hoảng sợ và rối trí nên làm sai lệnh của nhà vua. Do đó, Helenos không hiểu rõ lệnh của vua cha và kéo những chiến binh mạnh nhất và đội tượng binh của mình vào thành để ứng chiến.[22]

Cũng theo Plutarchus, trong khi khu thương trường thuận lợi khiến cho ông có hể chiến đấu trên đường rút, ông phải đương đầu với hàng loại cuộc tiến công. Khi quân ông đang chen chân vào một con đường hết sức chật hẹp dẫn đến cổng thành, ông tiếp cận viện binh của Helenos. Ông bèn thét lớn để họ rút hết đi nhưng vô ích. Tiếng gào của nhà vua rất lớn, nhưng chỉ một số chiến binh của Helenos nghe được và có ý tuấn theo, song họ họ bị những chiến binh theo sau đẩy vô. Chưa kể, con voi chiến lớn nhất của Helenus đã đi qua cổng thành và bị kẹt lại tại đó. Nó kêu gào bừa bãi và gây khó khăn cho ba quân. Một con voi khác tên là Nicon, khi người lính cưỡi nó chết, nó vùng vằng lao vào phía đoàn quân đang rút của Pyrros để tìm xác chủ, và dẫp đạp lên cả kẻ thù lẫn chiến hữu. Khi tìm thấy xác chủ, Nicon cắn lấy người lính trong nỗi đau đớn khủng khiếp và giày xéo tất cả những gì nó đi qua khi về vị trí.[22] Trước sự nhốn nháo của ba quân và hiểm họa từ kẻ thù, Pyrros đánh bỏ chiếc vương miện mà ông đội trên mũ trụ của ông để các chiến binh đứng xa nhận ra ông và giao nó cho một cận tướng của mình. Sau đó, ông thúc ngựa tấn công những kẻ thù đang cản đường ông để nhanh chóng chạy thoát.[22]

Khi ấy, một ngọn giáo bất ngờ đâm trúng Pyrros khiến ông bị thương, nhưng vết thương không thật sự đáng kể. Tuy nhiên, ông quyết định trừng trị người đã đâm ông - một thường dân Argos, con của một người phụ nữ nghèo đang quan sát chiến sự trên mái nhà cũng với những người phụ nữ Argos khác. Theo Plutarchus, thấy Pyrros muốn giết con mình, bà ta hoảng hốt nên lấy ngay hai tay ném một viên ngói trúng ngay đầu ông. Do chạm phải mũ trụ, viên đá rơi xuống gáy, làm gãy xương gáy của Pyrros. Tay ông buông cương ngựa ra, và ông bị ngã xuống mộ của Licymmias - đến lúc này người ta mới nhận ra ông (mọi người không nhận ra ông từ khi ông tháo vương miện). Đây được xem là là một kết thúc chẳng vinh quang của một vĩ nhân như Pyrros.[19] Cuối cùng, một toán lính của Antigonos II bao gồm Zopyros và vài người nữa vốn biết ông đã kéo lê vị tướng bất tỉnh vào một cái cổng thành, dù ông gắng gượng tỉnh dậy từ cơn hôn mê. Zopyros tuốt gươm chém Pyrros, nhưng ông nhìn chằm chằm vào mặt Zopyros khiến chiến binh này sợ hãi và run tay nên chỉ chém trúng cằm ông. Phải mất một thời gian trước khi Zopyrus chém chết Pyrros.[22]

Nhưng theo Zonaras, Pyrros trong lúc đó đang kéo quân khải hoàng vào thành phố Argos, khiến một người phụ nữ Argos đang cầm một viên ngói quan sát chiến sự trên mái nhà trở nên hoảng sợ nên lập tức ném viên ngói xuống đầu Pyrros và ông chết. Nhìn chung, mọi tác giả viết về Pyrros đều đồng ý là ông bị một người đàn bà giết chết. Năm ấy, Pyrros đã 46 tuổi và trị vì được 23 năm.[39][62] Tuy nhiên, cuốn The Romans: New Perspectives của tác giả hiện đại Kevin McGeough, đây là một "phép tu từ" quen thuộc trong cổ văn. Để bôi nhọ các chiến binh, người ta đặt ra nhiều câu chuyện về cái chết của họ do phụ nữ ném vật dụng trong nhà vào đầu từ trên cao. Do đó, không rõ Pyrros thực sự đã chết như thế nào.[13] Sau khi Pyrros chết, quân ông bị đánh tan.[45]

Theo Plutarchus, Alcyoneos thấy vậy liền chạy đến mang đầu Pyrros về dâng Antigonos II và đặt nó dưới chân vua cha. Antigonos thấy thế liền lấy trượng đánh Alcyoneus, quở trách Alcyoneus là một kẻ man rợ, phi nhân tính và đuổi Alcyoneus đi. Nhớ khi xưa Antigonos I tử trận và Demetrios I tử tù, Antigonos II lấy vạt áo lau nước mắt vì thấy bi kịch tương tự cũng đến với Pyrros. Toàn bộ quân đội và doanh trại của Pyrros bị Antigonos II bắt giữ và tiếp đãi nồng hậu. Khi gặp Helenos, Alcyoneos liền khoác cho con Pyrros một chiếc áo choàng không tay, sau đó chào mờ và dẫn Helenos đến gặp. Antigonos II nói:[22]

Giờ đây con làm tốt hơn trước nhiều, Ta vui hơn hẳn. Mà này, sao con lại khoác cho anh ta một chiếc áo choàng tầm thường thế, thật ô uế cho những kẻ thắng trận chính là chúng ta ?

—Antigonos II

Nói đoạn Antigonos II khen ngợi Helenus, hỏi thăm chu đáo và cấp cho Helenos một cỗ xe về nước.[22] Con thứ của Pyrros lên làm vua Alexandros II.[63] Ở nơi thi hài Pyrros được hỏa thiêu, người ta xây một khu tưởng niệm chứa vũ khí của ông và tranh vẽ con voi chiến. Tuy nhiên, đến nay người ta vẫn không rõ là xác của ông được đưa vào an táng ở dền Demeter tại Argos hay là đem về táng tại Hoàng cung Pyrheum của ông ở Ambracia.[19] Ít lâu sau khi hay tin Pyrros chết, người Tarentum đầu hàng La Mã. La Mã xem họ như một đồng minh hải quân, và cho phép lực lượng đồn trú Ipiros dưới quyền Milo về nước.[19]

Vai trò trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Minh họa về Pyrrhus trong Young Folks' History of Rome, được Charlotte Mary Yonge thực hiện.

Ông được xem là vị vua nổi tiếng nhất của Vương quốc Ipiros cổ xưa.[64] Không những thế, ông còn là một trong những vị quân vương tài năng nhất, và là vị tướng giõi nhất trong thời đại của ông.[39] Nhà sử học nổi tiếng người Anh Norman Davies gọi Pyrros là một "ông vua mạo hiểm" (adventurer-king).[65] Năm xưa, các nhà sử học cổ thường chú ý hơn cả đến vai trò lãnh tụ quân sự của ông[66]. Vở bi kịch Pyrrhus, King of Epirus (1695) của Charles Hopkins đã nâng cao tiếng vang của Pyrros và "chiến thắng kiểu Pyrros".[25] Thế nhưng, tuy là một danh nhân lịch sử rất được yêu thích, ở thời hiện đại, số lượng các cuốn tiểu sử vua Pyrros bằng tiếng Anh thật quá ít.[66] Theo lời bàn của Geoffrey Bolton, khi nói đến một "chiến thắng kiểu Pyrros":

Ít người khi nói vậy hiểu về điển tích xuất phát của từ này, do có biết ít nhiều về trận đánh của Pyrros...

—Geoffrey Bolton[67]

Năm 1967, R. Devambez nhìn nhận rằng cuộc đời Pyrros có thể được dựng thành một bộ phim phiêu lưu hoành tráng với "những cuộc viễn chinh xa xôi, lòng dũng cảm và hào hiệp, những cuộc chiến tuyệt vời gồm thâu một trận đánh lớn trong đó một cuộc tấn công của voi chiến đã gây hỗn loạn trong quân ngũ La Mã".[25]

Thiên tài quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy là một quân vương hiếu động và không quyết đoán, thậm chí không hẳn là một vị minh quân, ông được xem là một trong những danh tướng thời cổ đại. Ngay từ thời đại của ông, và sau này nữa, người ta ca ngợi ông về sự tinh thông và kiến thức quân sự uyên thâm của ông. Ông còn nổi tiếng hơn cả về những chiến thắng mà ông đạt được với tổn thất hết sức nặng nề của quân đội mình (hai trận thắng quân La Mã tại Heraclea và Asculum[17])[45] - đó gọi là "chiến thắng kiểu Pyrros".[7] Câu nói nổi tiếng của ông sau thắng lợi tại Asculum (đã đề cập) đã phản ánh bản chất của "chiến thắng kiểu Pyrros".[23]

Trên thế giới, ít ai có tên tuổi được lưu truyền trong suốt hai nghìn năm, nhưng với Pyrros - vua xứ Ipiros sống từ năm 319 trước Công Nguyên cho đến năm 272 trước Công Nguyên, thì điều này là không thể tránh khỏi. khi chúng ta kể đến một chiến thắng "kiểu Pyrros", nghĩa là một thành quả phải trả giá đắt đến mức gần như là thua thiệt...

—Geoffrey Bolton[67]

Có lẽ chính cái danh tiếng mà ông đạt được qua hai chiến thắng này đã khiến cho các nhà sử học cổ luôn đề cao tài dụng binh của ông.[66] Dù không đẩy được quân Carthage ra khỏi xứ Sicilia và thất bại trong cuộc chiến tranh chống quân La Mã, ông được xem là một nhà chiến thuật đại tài.[68] Ông cũng là người ưa chuộng giao phong.[69] Năm 1853, Jacob Abbott có viết: "Thời kỳ hoạt động của Pyrros tiếp sau thời kỳ Alexandros Đại đế, Pyrros sinh khoảng 4 năm sau cái chết của Alexandros".[25] Kình địch của Pyrros - Antigonos II Gonatas - khi được hỏi ai là người chiến binh xuất sắc nhất, bèn trả lời như sau:[8]

Pyrros, nếu ông ta sống tới già.

—Antigonos II Gonatas

Antigonos II chỉ so sánh Pyrros với các danh tướng đương thời. Ngược lại, theo lời kể của nhà tiểu sử học Plutarchus, danh tướng Hannibal xứ Carthage - khi kể về mọi kiệt tướng trong lịch sử - nói Pyrros là "vị tướng đại nhất mà cả thế giới chưa từng có" (sau đó đến danh tướng La Mã Scipio và bản thân Hannibal)[8][70] dù theo Appian, Hannibal xem ông là vị tướng giỏi thứ hai chỉ sau vua Alexandros Đại đế.[71] Một vị tướng khác của thành Carthage là Procles còn cho rằng về binh pháp, Pyrros giỏi hơn cả Alexandros Đại Đế.[39] Pyrros đã đấu tranh bảo vệ người tộc Hy Lạp tại miền Nam Ý và Siciia, đồng thời nỗ lực giải phóng các thành bang Hy Lạp khỏi vua Antigonos Gonatas xứ Macedonia. Ông mất, nhưng đã xây dựng được đất nước thành một liệt cường thời đó.[7] Nhưng rồi, sau khi vị vua năng động mất đi, xứ Ipiros cũng không giữ vai trò liệt cường được lâu.[72] Rõ ràng, cuộc chinh chiến của ông ở Ý hoàn toàn là cơ hội duy nhất để nền văn minh Hy Lạp cổ đại đẩy lùi âm mưu thống trị vùng Địa Trung Hải của Đế quốc La Mã. Trong lịch sử phương Tây cổ đại, ông là vị tướng Hy Lạp đầu tiên đã giao tranh với quân La Mã.[23] Thế nhưng, các cường quốc Hy Lạp hóa lại không liên minh với nhau, thay vì đó, họ đánh lẫn nhau, hủy hoại tiềm năng về quân sự và kinh tế của người Hy Lạp và thu hẹp lãnh thổ của họ đến mức chỉ còn Vương quốc Macedonia và một thế giới Hy Lạp lớn mạnh hơn. Vào năm 197 TCN, Vương quốc Macedonia và Hy Lạp đều bị Đế quốc La Mã chinh phạt, kết thúc giai đoạn huy hoàng của nền văn minh Hy Lạp cổ đại. Cho đến năm 188 TCN, Vương quốc Seleukos bị buộc phải nhường phần lớn vùng Tiểu Á cho Đế quốc La Mã. Từ đó, nhà Ptolemaios của Ai Cập trở thành Vương quốc kế thừa cuối cùng của Alexandros Đại đế và Đế quốc Macedonia xưa kia.

Pyrros đã gầy dựng vùng Dodona trở thành một trung tâm văn hóa lớn của nền văn minh Hy Lạp cổ đại. Không những thế, ông còn xây dựng Hoàng cung tại thành Ambracia và những địa điểm khác trên toàn quốc.[19] Tuy nhiên, di sản lâu dài nhất của ông đối với nền văn hóa Hy Lạp cổ đại là những chiến công hiển hách của ông (nhất là trước quân La Mã và quân Carthage). Không những đã làm rung chuyển Hy Lạp,[7][45] ông còn viết quyển Hồi ký và một vài binh pháp. Những tác phẩm này giờ đây đã mất; tuy nhiên, theo nhà sử học Plutarch, những tác phẩm này đã ảnh hưởng đến Hannibal,[70] không những thế, nhà sử học Cicero ngợi khen một trong những cuốn binh pháp của ông là một tác phẩm rất tuyệt hảo.[73] Những tác phẩm này góp phần đem lại vinh danh cho ông, Hannibal phải coi ông như một người thầy (dù chưa hề được gặp ông)[6], và 200 năm sau khi ông mất, quân đội La Mã phải đọc những cuốn này để nghiên cứu binh pháp.[66]

Tư cách[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn chung Pyrros là con người có khát vọng mãnh liệt, và gần như hoàn toàn được các vấn đề quân sự và chiến tranh lôi cuốn. Ông được khen ngợi vì thân thiết với bạn bè, có tài lấy lòng cấp trên nhưng hách dịch và tàn bạo với cấp dưới xã hội.

—Jeff Champion, Pyrrhus of Epirus, trang 21

Theo Plutarchus, một trong những nhược điểm chính trị lớn nhất của vị tướng này là không không tiết kiệm được ngân khố ở quê nhà (ông đã thu nạp nhiều lính đánh thuê đắt tiền). Những cuộc chinh phạt tại Ý và Sicilia nêu bật tinh thần dũng cảm bất diệt cuả ông, với phép dụng binh xuất sắc và sức mạnh vượt trội hơn mọi quân vương đương thời. Song, trong các cuộc chiến, cái dở của ông là không biết tập trung vào một mục đích nào đó khi có lợi thế, mà tha hồ phát huy, do ông không thể thỏa mãn được tham vọng quá ư là lớn lao của mình sau khi đạt được bất kỳ một thắng lợi này. Thế nên, Pyrros đạt được biết bao chiến công nhưng rồi cũng thất bại. Như kình địch Antigonos II Gonatas của ông nhận định, ông là một kẻ chuyên chơi súc sắc, người đã ném một cách xuất sắc, nhưng không biết làm thế nào để sử dụng chúng. Nếu như ông biết tập trung thật tích cực vào việc đạt một mục đích nào đó tới cùng, hẳn ông sẽ trở thành vị vua hùng mạnh nhất của thế giới thời đó.[15][39] Như Abbott kết luận, Pyrros "không làm nên điều gì. Ông không có kế hoạch, không có ý định, không có mục tiêu, nhưng tuân theo mọi sự thôi thút nhất thời... Ông đã thành công... trong việc giết vô số người, và chinh phạt, dù chỉ tạm thời và không vì mục đích gì,, rất, nhiều vương quốc".[25]

Tiếc thay, xem ra ông không có nhiều đặc điểm của một nhà chiến lược dài hạn. Các cuộc chinh phạt của ông đều mang tính chất cơ hội chủ nghĩa, giành lợi thế từ cái yếu tạm thời của một láng giềng hay để tìm cách giành lới thế giữa những liên minh dễ xoay chuyển của các Vương quốc kế tục Alexandros Đại Đế...

—Geoffrey Bolton[67]

Ông bị tố cáo với ít tội ác hơn cả so với các nhà thống trị đương thời. Chính quyền Ipiros của ông xem ra thật khoan dung và đạo đức tốt, do họ vẫn luôn trung quân dù nhà vua đi chinh chiến ở phương xa thật quá ư là lâu.[39] Với bạn bè, Pyrros tỏ ra rất rộng rãi và luôn giữ được sự điềm tĩnh, sẵn sàng tha tội cho những kẻ báng bộ ông. Ông luôn cố đền đáp công ơn của người khác. Một lần Pyrros được một người bạn tên là Aeropus giúp đỡ nhưng người này mất khi ông chưa kịp đền đáp. Điều này làm cho Pyrros đau khổ hơn là cái chết của người bạn đó. Chúng ta có thể trả nợ cho con cháu của chủ nợ nhưng cái chết đã khép lại cơ hộ cho ta nói lời cảm ơn. Điều này làm cho những con người chân chính buồn bã. Một lần khác, khi nhà vua còn ở thành Ambracia, bạn bè Pyrros khuyên ông nên trục xuất một kẻ chẳng biết làm gì ngoài việc nói xấu ông, nhưng Pyrros trả lời:

Tốt hơn hết là nên để hắn ở đây và công khai nói những điều đó hơn là đi gieo rắc những tin nhảm nhí ở những nơi khác.

—Pyrros

Trong một bữa tiệc rượu, vua Pyrros có hỏi một số người rằng họ có bình phẩm gì về ông không. Một người trả lời:

Có, chúng tôi có nói về Ngài, nhưng nếu có thêm rượu chúng thần còn nói nhiều hơn nữa.

Nghe vậy, Pyrros mỉm cười và để họ đi mà không trừng phạt. Theo Plutarchus, Pyrros là người chỉ lo việc quân sự và viết nên những cuốn binh pháp xuất sắc mang ảnh hưởng lâu dài đối với các chiến binh Hy - La về sau, chứ không màng đến nghệ thuật. Khi có người hỏi ông rằng ai là người thổi sao hay nhất trong hai nhạc sĩ cung đình của ông, thì ông hồi đáp rằng Polyperchon là một tướng giỏi.[74]

Như đã nêu, sau khi Pyrros đánh bại người La Mã tại Heraclea, ông nghỉ đông ở Tarentum. Trong thời gian này, cựu Tổng tài La Mã Gaius Fabricius - nổi tiếng là vị tướng tài giỏi và trung thực - từ Roma đến trại quân của Pyrros để thương nghị về việc thả các tù binh La Mã. Fabricius rất nghèo, nhưng theo lời Ceneas nói với nhà vua thì Fabricius là một trong những người La Mã vĩ đại hơn cả. Pyrros tỏ ra rất quý trọng Fabricius, cố thuyết phục Fabricius nhận một số vàng, nói đó chỉ là một cử chỉ biểu lộ lòng kính trọng và hiếu khách chứ không có mục đích xấu xa nào nhưng Fabricius lại từ chối mọi quà tặng.[75] Ngày hôm sau, Pyrros bố trí một con voi chiến trang bị đầy đủ vũ khí phục bên ngoài lều phía sau Caius Fabricius sau khi họ nói chuyện với nhau. Khi Pyrros ra hiệu, cửu lều được nâng lên và con voi này rống lên rất khủng khiếp ngay trên đầu Fabricius. Fabricius nhẹ nhàng nhìn quanh rồi mỉm cười nói với Pyrros:

Cả tiền của nhà vua hôm qua lẫn con thú này ngày hôm nay cũng đều không làm tôi mảy may bận tâm.

—Fabricius

Đêm đó, cuộc trò chuyện chuyển sang đề tài các nhà triết học Hy Lạp. Cineas giải thích quan điểm của các nhà Khoái lạc chủ nghĩa tin rằng các vị thần không quan tâm đến những gì xảy ra trên Trái Đất, mà thích hưởng thụ một cuộc sống an nhàn, thảnh thơi, nên hạnh phúc lớn nhất là sự thỏa mãn các giác quan, và do đó, con người nên tránh mọi trách nhiệm. Trước khi Cineas kết thúc lời giải thích của mình Fabricius đã kêu lên:"Hỡi thần linh ! Cầu sao cho Pyrros và người Samnium luôn nghĩ vậy chừng nào họ còn chiến đấu với chúng tôi!". Ngưỡng mộ sự thông thái tuyệt vời của Fabricius, Pyrros mời ông sang làm cố vấn của mình để đổi lại nhà vua sẽ thương lượng chấm dứt chiến tranh, nhưng Fabricius trả lời:[43]

Hỡi vua, điều này không mang lại điều tốt cho ngài đâu. Một khi những chiến binh - vốn đang sùng kính và trung thành với Ngài - lại biết rõ tôi, họ sẽ chọn tôi làm vua thay cho Ngài!.

—Fabricius

Pyrros không hề biểu thị sự tức giận nào khi nghe Fabricius nói vậy mà ngược lại, giữa các bạn hữu của mình, ông ca ngợi trí tuệ vĩ đại của Fabricius, rồi cho Fabricius dẫn tất cả tù binh La Mã về Roma trong dịp lễ Saturnalia. Fabricius cam đoan rằng tất cả những chiến binh này sẽ trở lại nếu như viện Nguyên lão La Mã vẫn muốn tiếp tục chiến tranh sau những ngày lễ này. Hết dịp lễ, tất cả những chiến binh đó đều trở lại, đúng như lời hứa của Fabricius.[43]

Sau đó, Caius Fabricius một lần nữa trở thành quan Tổng tài La Mã. Một hôm, vào ăm 278 trước Công Nguyên, có người đến tiếp kiến và đưa thư cho vị tân Tổng tài. Đây là thư của một thầy thuốt của Pyrros gửi cho Fabricius hứa sẽ đầu độc Pyrros, đổi lại người này đòi trả công xứng đáng. Nhưng Fabricius lại chê trách người thầy thuốc bất trung này. Không những thế, vị Tổng tài còn khuyên cộng sự là Quintus Aemilius cùng nhau gửi thư cho vua Pyrros:[43]

Caius Fabricius và Quintus Aemilius - các quan Tổng tài La Mã gửi Pyrros. Hỡi vua, dường như ngài đã lẫn lộn kẻ thì với bạn bè của mình. Khi đọc bức thư này, ngài sẽ hiểu rằng ngài đang gây chiến với những người chính trực, trong khi ngài chỉ tin vào những tên khốn nạn. Chúng tôi cho ngài biết điều này mà không cần gì cả bởi chúng tôi không muốn ngào bỏ mạng vì một trò lừa dối. Điều đó sẽ làm ô uế vinh quang chiến thắng của chúng tôi.

Tin chắc bức thư này là đúng, Pyrros đã truyền lệnh hành quyết người thầy thuốc phản bội.[43] Sau đó, ông sai Cineas sang Roma để trao trả những tù binh La Mã bị bắt sau khi ông đánh bại họ tại Asculum.[39] Và rồi người La Mã thỏa thuận với người Ipiros để Pyrros được rảnh tay sang xứ Sicilia mà chinh chiến chống người Carthage.[39] Pyrros thường đối xử tốt với bạn bè, và người thầy thuốc nêu trên là cận thần duy nhất làm phản ông.[39] Như đã nói, sau khi Antigona qua đời, Pyrros cưới thêm nhiều vợ, gồm có con gái vua Paeonia, Bircenna con gái vua Bardilis xứ Illyria, và Lanassa con gái bạo chúa Agathocles xứ Syracuse. Với Antigona ông có một người con trai là Ptolemaios (295 - 272 trước Công Nguyên[39]). Lanassa cũng sinh hạ vua Alexandros II sau này,[39] còn Bircenna thì sinh hạ Helenus. Những Hoàng tử này vốn đã sức khỏe tốt và dễ trở thành những chiến binh do dòng máu của họ, ông vẫn dạy cho họ xông pha trận tiền, thậm chí bắt đầu huấn luyện quân sự cho họ từ khi họ còn nằm nôi. Người ta nói rằng, khi một hoàng tử hỏi ông rằng sau này phụ vương sẽ truyền ngôi cho ai, thì Pyrros trả lời:[76]

Cho đứa nào có lưỡi gươm sắc bén nhất.

—Pyrros

Các con gái của ông là: Nereis (cưới Gelon xứ Syracuse), Olympias (cưới vua anh Alexandros) và Deidameia (còn gọi là Laodameia).[39]

Theo một tương truyền thì cái tên "Shqiptarë" (Những người con của đại bàng) của người Albania xuất phát từ một phát ngôn của Pyrros. Khi ai đó khen ngợi sự thần tốc của quân đội ông, Pyrros tự hào đáp rằng đó là chuyện thường vì các chiến binh của ông là "Những người con của đại bàng" và các vận động của họ trông như vua của các loài chim tung hoành trên không trung.[9]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jones, Archer (2001). The art of war in the Western world. Urbana: University of Illinois Press. tr. 32. ISBN 0-252-06966-8. “The particulars of these with Pyrrhus of the Greek kingdom of Epirus” 
  2. ^ Plutarch, Parallel Lives (Βίοι Παράλληλοι), Pyrrhus (Greek) McCall, Jeremiah B. (2002). The cavalry of the Roman republic: cavalry combat and elite reputations in the Middle and Late Republic. New York: Routledge. tr. 32. ISBN 0-415-25713-1. “At Asculum the Roman cavalry matched Pyrrhus' Greek riders.”  Saylor, Steven (2007). Roma: the novel of ancient Rome. New York: St. Martin's Press. tr. 332. ISBN 0-312-32831-1. “the Greek adventurer king Pyrrhus”  Feeney, Denis (2007). Caesar's calendar: ancient time and the beginnings of history. Berkeley: University of California Press. tr. 38. ISBN 0-520-25119-9. “...before Pyrrhus no contact with Greece after Pyrrhus Rome and Greece in tandem”  Bernstein, Alvin H.; Murray, Williamson; Knox, MacGregor (1996). The Making of strategy: rulers, states, and war. Cambridge, UK: Cambridge University Press. ISBN 0-521-56627-4. “Pyrrhus king of Epirus invaded Italy with a formidable Greek profeesional hoplite army”  Christopher Mackay (2004). Ancient Rome: a military and political history. Cambridge, UK: Cambridge University Press. tr. 49. ISBN 0-521-80918-5. “Pyrrhus' Greek troops were tactically superior to the Roman army and he was never defeated in battle.” 
  3. ^ a ă “Epirus -- Britannica Online Encyclopedia”. www.britannica.com. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2008. “In the 5th century Epirus was still on the periphery of the Greek world. To the 5th-century historian Thucydides, the Epirotes were 'barbarians'. The only Epirotes regarded as Greek were the Aeacidae, who were members of the Molossian royal house and claimed descent from Achilles. From about 370 bc on, the Aeacidae were able to expand the Molossian state by incorporating tribes from the rival groups in Epirus. The Aeacidae’s efforts gained impetus from the marriage of Philip II of Macedon to their princess, Olympias. In 334, while Alexander the Great, son of Philip and Olympias, crossed into Asia, his uncle, the Molossian ruler Alexander, attacked southern Italy, where he was eventually checked by Rome and killed in battle in about 331. Upon Alexander the Molossian's death, the Epirote tribes formed a coalition on an equal basis but with the Molossian king in command of their military forces. The greatest Molossian king of this coalition was Pyrrhus (319–272); he and his son Alexander II ruled as far south as Acarnania and to central Albania in the north. Pyrrhus’ military adventures overstrained his state’s military resources, but they also brought great prosperity to Epirus. He built a magnificent stone theatre at Dodona and a new suburb at Ambracia (now Árta), which he made his capital.” 
  4. ^ a ă â Pyrrhus, Britannica, 2008, O.Ed. Pyrrhus: Main: king of Hellenistic Epirus whose costly military successes against Macedonia and Rome gave rise to the phrase “Pyrrhic victory.” His Memoirs and books on the art of war were quoted and praised by many ancient authors, including Cicero.
  5. ^ Borza, Eugene N. (1992). In the Shadow of Olympus: the Emergence of Macedon (Revised Edition). Princeton, New Jersey: Princeton University Press.  "Speakers of these various Greek dialects settled different parts of Greece at different times during the Middle Bronze Age, with one group, the 'northwest' Greeks, developing their own dialect and peopling central Epirus. This was the origin of the Molossian or Epirotic tribes." "[...]a proper dialect of Greek, like the dialects spoken by Dorians and Molossians." "The western mountains were peopled by the Molossians (the western Greeks of Epirus)."
  6. ^ a ă â b Jeff Champion, Pyrrhus of Epirus
  7. ^ a ă â b c d đ e Nigel Guy Wilson, Encyclopedia of ancient Greece, trang 619
  8. ^ a ă â b c Plutarch, Arthur Hugh Clough, Plutarch's Lives (Volume 1 of 2), các trang 388-389.
  9. ^ a ă â b c Edwin E. Jacques, The Albanians: An Ethnic History from Prehistoric Times to the Present, các trang 116-117.
  10. ^ Irving L. Gordon, Jeremy Black, World History, trang 177
  11. ^ a ă David Sacks, Oswyn Murray, Lisa R. Brody, Encyclopedia of the ancient Greek world, trang 119
  12. ^ Các từ điển Anh-Việt gọi thuật ngữ này (Pyrrhic victory) là "chiến thắng phải trả bằng một giá đắt.
  13. ^ a ă â Kevin McGeoug, The Romans: New Perspectives, các trang 64-65.
  14. ^ Konstantin Nossov, War Elephants, các trang 24-26.
  15. ^ a ă â b c d đ e ê g Plutarch's lives, Tập 2, các trang 270-275.
  16. ^ Nigel Guy Wilson, Encyclopedia of ancient Greece, trang 688
  17. ^ a ă â Nigel Guy Wilson, Encyclopedia of ancient Greece, trang 444
  18. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư George Long, Society for the Diffusion of Useful Knowledge (Great Britain), The Penny cyclopædia of the Society for the Diffusion of Useful Knowledge: v. 1-27, Tập 19, các trang 169-172.
  19. ^ a ă â b c d Frank William Walbank, The Cambridge ancient history: The Hellenistic world, Phần 2, các trang 483-484.
  20. ^ a ă â b c d Plutarch, Judith Mossman, Lives of the noble Grecians and Romans, các trang 219-223.
  21. ^ a ă â Jeff Champion, Pyrrhus of Epirus, các trang 130-131.
  22. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t Plutarch, Judith Mossman, Lives of the noble Grecians and Romans, các trang 224-2233.
  23. ^ a ă â b c d David Sacks, Oswyn Murray, Lisa R. Brody, Encyclopedia of the ancient Greek world, các trang 288-289.
  24. ^ Plutarch, Arthur Hugh Clough, Plutarch's Lives (Volume 1 of 2), trang 387
  25. ^ a ă â b c d đ Jim Potts, The Ionian Islands and Epirus: A Cultural History, các trang 222-225.
  26. ^ a ă â b c d đ e ê g h Pyrrhus of Epirus (1)
  27. ^ a ă â b Plutarch, Judith Mossman, Lives of the noble Grecians and Romans, các trang 187-189.
  28. ^ Plutarch's Lives, Volume 2 (of 4)‎ - page 120 by Plutarch, George Long, Aubrey Stewart - 2007 -,"Having thus escaped from their pursuers they proceeded to Glaukias, the king of the Illyrians...gave Pyrrhus in charge of his wife".
  29. ^ Wilkes, J. J. The Illyrians, 1992,ISBN 0-631-19807-5,Page 124"... offered asylum to the infant Pyrrhus after the expulsion of his father...wife Beroea, who was herself a Molossian princess"
  30. ^ Petros Garouphalias, Pyrrhus King of Epirus, trang 22
  31. ^ Antigone là con gái của Berenice I, người đã ly hôn chồng là Philippos, rồi cưới Ptolemaios.
  32. ^ a ă â b Plutarch, Judith Mossman, Lives of the noble Grecians and Romans, các trang 194-198.
  33. ^ Jeff Champion, Pyrrhus of Epirus, trang 34
  34. ^ Jeff Champion, Pyrrhus of Epirus, trang 14
  35. ^ David Sacks, Oswyn Murray, Lisa R. Brody, Encyclopedia of the ancient Greek world, trang 196
  36. ^ a ă Plutarch, Judith Mossman, Lives of the noble Grecians and Romans, các trang 201-202.
  37. ^ Plutarch, Judith Mossman,
  38. ^ Petros Garouphalias, Pyrrhus King of Epirus, trang 309
  39. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y William George Smith, Dictionary of Greek and Roman Biography and Mythology: Oarses-Zygia, các trang 611-615.
  40. ^ Plutarch, Judith Mossman, Lives of the noble Grecians and Romans, trang 203
  41. ^ Petros Garouphalias, Pyrrhus King of Epirus, trang 64
  42. ^ Will Durant, The Story of Civilization II: The Life of Greece, trang 660
  43. ^ a ă â b c d đ e ê g Plutarch, Arthur Hugh Clough, Plutarch's Lives (Volume 1 of 2), các trang 391-398.
  44. ^ Titus Livius Livy, D. Spillan, Cyrus Edmonds, The History of Rome (Books IX-XXVI), Sách 9-26, trang 83
  45. ^ a ă â b Max Hastings, The Oxford Book of Military Anecdotes, các trang 32-34.
  46. ^ a ă Will Durant, The Story of Civilization II: The Life of Greece, trang 659
  47. ^ a ă â Petros Garouphalias, Pyrrhus King of Epirus, trang các 105-106.
  48. ^ Jeff Champion, Pyrrhus of Epirus, nguyên văn: "...and vying to rank with Hercules".
  49. ^ Petros Garouphalias, Pyrrhus King of Epirus, các trang 97-108.
  50. ^ Petros Garouphalis, Pyrrhus King of Epirus, các trang 109-112.
  51. ^ Jeff Champion, Pyrrhus of Epirus, Nguyên văn: "Pyrrhus fought and won a battle against the advancing Carthaginians, but it appears to have been yet another 'Cadmean victory' as 'though he had the advantage, yet, as he quitted Sicily, he seemed to flee as one defeated".
  52. ^ William George Smith, Dictionary of Greek and Roman Biography and Mythology: Earinus-Nyx, trang 455
  53. ^ Stephen Morillo, Jeremy Black, Paul Lococo, War in World History: Society, Technology, and War from Ancient Times to the Present to 1500, trang 59
  54. ^ Pyrrhus, King of Epirus, Petros E. Garoufalias p121-122
  55. ^ Ulrich Wilcken, Alexander the Great, trang 297
  56. ^ Plutarch's lives, Tập 2, các trang 274-279.
  57. ^ a ă â Peter Green, sách đã dẫn, tr. 143.
  58. ^ a ă â b c d đ e ê g h i Plutarch, André Dacier, John Dryden, Plutarch's Lives, các trang 91-94.
  59. ^ a ă Petros Garouphalias, Pyrrhus King of Epirus, trang 127
  60. ^ Petros Garouphalias, Pyrrhus King of Epirus, trang 131
  61. ^ a ă â b Plutarch, John Langhorne, William Langhorne, Plutarch's lives,: translated from the original Greek, with notes critical and historical, and a New life of Plutarch, trang 107
  62. ^ Petros Garouphalias, Pyrrhus King of Epirus, trang 140
  63. ^ William George Smith, Dictionary of Greek and Roman Biography and Mythology: Abaeus-Dysponteus, trang 117
  64. ^ Society for the Diffusion of Useful Knowledge (Great Britain), The Penny cyclopædia of the Society for the Diffusion of Useful Knowledge, Tập 9, trang 481
  65. ^ Norman Davies, Europe: a history, trang 142
  66. ^ a ă â b Jeff Champion, Pyrrhus of Epirus, trang VIII
  67. ^ a ă â Pyrrhus of Epirus
  68. ^ Nigel Guy Wilson, Encyclopedia of ancient Greece, trang 657
  69. ^ Arthur M. Eckstein, Mediterranean Anarchy, Interstate War, and the Rise of Rome, trang 198
  70. ^ a ă http://penelope.uchicago.edu/Thayer/E/Roman/Texts/Plutarch/Lives/Pyrrhus*.html
  71. ^ Appian, History of the Syrian Wars, §10 and §11 at Livius.org
  72. ^ David Sacks, Oswyn Murray, Lisa R. Brody, Encyclopedia of the ancient Greek world, trang 125
  73. ^ Reconstructing Western Civilization: Irreverent Essays on Antiquity - page 211, by Barbara Sher Tinsley, ISBN 1-57591-095-0 - 2006 - "The Greek King Pyrrhus of Epirus"...."Pyrrhus wrote books on military strategy. Cicero considered one of his treaties on warfare a very fine work."
  74. ^ Jeff Champion, Pyrrhus of Epirus, trang 20
  75. ^ Plutarch, Judith Mossman, Lives of the noble Grecians and Romans, các trang 211-213.
  76. ^ Plutarch, Judith Mossman, Lives of the noble Grecians and Romans, các trang 195-196

Nguồn dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn sơ cấp

Nguồn thứ cấp