Kerala

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kerala
കേരളം
—  Bang  —
Nhà nổi tại Kerala
Nhà nổi tại Kerala
Tên hiệu: Đất của Chúa, Vườn gia vị Ấn Độ, Vùng đất dừa
Vị trí của Kerala
Vị trí của Kerala
Kerala trên bản đồ Thế giới
Kerala
Kerala
Tọa độ (Thiruvananthapuram): 8°30′B 77°00′Đ / 8,5°B 77°Đ / 8.5; 77Tọa độ: 8°30′B 77°00′Đ / 8,5°B 77°Đ / 8.5; 77
Quốc gia  India
Thành lập 1 tháng 11, 1956
Thủ phủ Thiruvananthapuram
Huyện 14
Chính quyền
 • Thành phần Chính phủ Kerala
 • Thống đốc P. Sathasivam[2]
 • Thủ hiến Pinarayi Vijayan (CPI(M))
Diện tích
 • Tổng cộng 38.863 km2 (15,005 mi2)
Thứ hạng diện tích 22nd
Độ cao cực đại 2.695 m (8,842 ft)
Độ cao cực tiểu -2,2 m (−72 ft)
Dân số (2011)
 • Tổng cộng 33.387.677[1]
 • Thứ hạng thứ 13
Tên cư dân Người Kerala, người Malayali
Múi giờ IST (UTC+05:30)
Mã ISO 3166 IN-KL
HDI tăng 0.790 (cao)
xếp hạng HDI thứ 1 (2011)
Tỉ lệ biết chữ 93.9% (hạng 1) (2011)
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Malayalam
Ngôn ngữ nói Tiếng Malayalam, tiếng Tamil, tiếng Kannadatiếng Konkan
Trang web kerala.gov.in

Kerala, từng được gọi là Keralam, là một bang tại Nam Ấn Độ. Bang được thành lập ngày 1 tháng 11, 1956 theo Đạo luật Tái tổ chức Bang bằng việc kết hợp các vùng nói tiếng Malayalam. Kerala rộng hơn 38.863 km2 (15.005 sq mi), tiếp giáp Karnataka về phía bắc và đông bắc, Tamil Nadu về phía đông và nam, và biển Lakshadweep về phía tây. Với 33.387.677 dân theo thống kê 2011, đây là bang có đông dân thứ mười ba, và được chia làm 14 huyện, trong đó có thủ phủ Thiruvananthapuram. Tiếng Malayalam là ngôn ngữ phổ biến nhất và cũng là ngôn ngữ chính thức của bang.

Vùng này đã là nơi buôn bán gia vị từ khoảng năm 3000 Trước Công nguyên. Triều Chera là vương quốc đáng chú ý đầu tiên tại Kerala, dù nó thường xuyên phải chống lại các cuộc tấn công từ triều Cholatriều Pandya lân cận. Thế kỷ 15, thương mại gia vị đã thu hút những thương gia người Bồ Đào Nha tới Kerala, và mở đường cho thực dân châu Âu đến Ấn Độ. Sau khi giành độc lập, TravancoreCochin gia nhập Cộng hòa Ấn Độ, và Travancore-Cochin trở thành một bang năm 1949. Năm 1956, huyện Malabar, Travancore-Cochin (trừ bốn taluk miền nam), và taluk Kasargod được hợp nhất thành bang Kerala.

Kerala có tỷ hệ tăng dân số dương thấp nhất Ấn Độ, 3,44%; Chỉ số phát triển con người (HDI) cao nhất, 0,790 năm 2011; tỷ lệ biết chữ cao nhất, 93,91% năm 2011; tuổi thọ trung bình cao nhất, 77 tuổi; và tỷ lệ giới tính 1.084 nữ trên 1000 nam.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Kerala Population Census data 2011”. Census 2011. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2015. 
  2. ^ “Sathasivam sworn in as Kerala Governor”. The Hindu. 5 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2014. 
  3. ^ Density of population: National Commission On Population