Lakshadweep

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lakshadweep
—  Lãnh thổ liên bang  —
Hình nền trời của Lakshadweep
Cờ hiệu của Lakshadweep
Cờ hiệu
Vị trí của Lakshadweep
India location map 3.png
India location map 3.png
Lakshadweep
Quốc gia  Ấn Độ
Thành lập 1 tháng 11, 1956
Thủ phủ Kavaratti
Chính quyền
 • Người quản lý Farooq Khan IPS (Retd.)
 • MP Mohammed Faizal P. P. (NCP)
Diện tích
 • Tổng cộng 32 km2 (12 mi2)
Thứ hạng diện tích Thứ 36
Dân số (Thống kê 2011)
 • Tổng cộng 65.473
 • Mật độ 2,000/km2 (5,300/mi2)
Ngôn ngữ[1]
 • Trên danh nghĩa Tiếng Anh
 • Trên thực tế Tiếng Malayalam
 • Ngôn ngữ hỗ trợ Tiếng Hindi
Thành phần
 • Dân tộc ≈84,33% người Malayali
≈15,67% người Mahl
Múi giờ IST (UTC+5:30)
Mã ISO 3166 IN-LD
Biển số xe LD
Số huyện 1
Thành phố lớn nhất Andrott
HDI tăng
0,796
Năm HDI 2005
Tỉ lệ biết chữ 91,85%
Trang web www.lakshadweep.gov.in

Lakshadweep (, Lakshadīb), trước đây gọi là quần đảo Laccadive, Minicoy, và Aminidivi,[2] là một cụm đảo trong biển Laccadive, cách bờ biển tây nam Ấn Độ lục địa 200 đến 440 km (120 đến 270 mi). Đây là một lãnh thổ liên quan và được quản lý trực tiếp bởi Chính phủ Liên bang Ấn Độ. Nó cũng được gọi là quần đảo Laccadive, dù về địa lý đó chỉ là một phân nhóm đảo. Cái tên Lakshadweep bắt nguồn từ Lakshadweepa, có nghĩa là "một trăm nghìn hòn đảo" trong tiếng Phạn.[3][4] Cụm đảo này tạo nên lãnh thổ liên bang nhỏ nhất Ấn Độ, với tổng diện tích chỉ 32 km2 (12 sq mi). Vùng đầm phá rộng 4.200 km2 (1.600 sq mi), vùng lãnh hải trải ra trên diện tích 20.000 km2 (7.700 sq mi) còn vùng đặc quyền kinh tế là 400.000 km2 (150.000 sq mi). Lãnh thổ liên này được tạo nên từ một huyện duy nhất với 10 cấp đơn vị hành chính con. Kavaratti đóng vai trò thủ phủ. Lakshadweep là phần bắc của chuỗi quần đảo Lakshadweep-Maldives-Chagos, mà cũng là những đỉnh của một dãy núi ngầm dưới biển, gọi là dãy Chagos-Laccadive.[5]

Mười hòn đảo có người sống. Theo thống kê 2011, dân số Lakshadweep là 64.473 người. Đa số là người Hồi giáo theo trường phái Shafi của dòng Sunni. Hầu hết cư dân là người Malayali giống với ở bang lân cận Kerala. Họ chủ yếu nói tiếng Malayalam, còn tiếng Mahl là ngôn ngữ chính trên đảo Minicoy. Các công việc làm chính là đánh cá và trồng dừa, trong đó cá ngừ là mặt hàng xuất khẩu chính.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “50th Report of the Commissioner for Linguistic Minorities in India” (PDF). 16 tháng 7 năm 2014. tr. 109. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2016. 
  2. ^ “The Laccadive, Minicoy and Aminidivi Islands (Alteration Of Name Act), 1973”. The Indian Lawyer. 26 tháng 8 năm 1973. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2012. 
  3. ^ “Lakshadweep”. encyclopedia.com. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012. 
  4. ^ “About Lakshadweep”. lakshadweeptourism.nic.in. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012. 
  5. ^ Ashalatha, B.; Subrahmanyam, C.; Singh, R.N. (31 tháng 7 năm 1991). “Origin and compensation of Chagos-Laccadive ridge, Indian ocean, from admittance analysis of gravity and bathymetry data”. Earth and Planetary Science Letters 105: 47–54. Bibcode:1991E&PSL.105...47A. doi:10.1016/0012-821X(91)90119-3. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2015.