Nguyên Huệ Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Nguyên Thuận Đế)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên Huệ Tông
元惠宗
Ô Cáp Cát Đồ Hãn
烏哈噶圖汗
Hoàng đế Trung Hoa, Khả Hãn Mông Cổ (chi tiết...)
Toghon.jpg
Chân dung Nguyên Huệ Tông
Hoàng đế Đại Nguyên
Tại vị19 tháng 7 năm 1333 – 23 tháng 5 năm 1370
Tiền nhiệmNguyên Ninh Tông
Kế nhiệmkhông có (kết thúc Nhà Nguyên)
Khả Hãn Mông Cổ
Tại vị19 tháng 7 năm 1333 – 23 tháng 5 năm 1370
Tiền nhiệmÝ Lân Chất Ban
Kế nhiệmTất Lý Khắc Đồ hãn
Thông tin chung
Thê thiếpHoàng hậu:
Đáp Nạp Thất Lý (1333–35)
Bá Nhan Hốt Đô (1337–65)
Hoàn Giả Hốt Đô (Kỳ Hoàng hậu, 1340–70)
Tên đầy đủBột Nhi Chỉ Cân Thỏa Hoan Thiết Mộc Nhĩ (孛兒只斤妥歡贴睦爾, Borjigin Toghuntemür, ᠲᠣᠭᠠᠨᠲᠡᠮᠦᠷ)
Niên hiệuChí Thuận (至順) 1333
Nguyên Thống (元統) 1333-1335
Chí Nguyên (至元) 1335-1340
Chí Chính (至正) 1341-1368
Chí Nguyên (至元) 1368-1368
Thụy hiệuTuyên Nhân Phổ Hiếu hoàng đế (宣仁普孝皇帝)
Ô Cáp Cát Đồ hãn (Ukhaantu hãn, ᠤᠬᠠᠭᠠᠲᠤ ᠬᠠᠭᠠᠨ, Ухаант хаан)
Miếu hiệuHuệ Tông (惠宗)
Thân phụNguyên Minh Tông
Sinh(1320-05-25)25 tháng 5 năm 1320
Mất23 tháng 5 năm 1370(1370-05-23) (49 tuổi)
Mạc Bắc
An tángKhởi Liễn cốc

Nguyên Huệ Tông (1320 - 1370) (chữ Hán: 元惠宗) tên thật là Bột Nhi Chỉ Cân Thỏa Hoan Thiết Mộc Nhĩ là vị hoàng đế thứ 11 và là cuối cùng của triều đại Nhà Nguyên trong lịch sử Trung Quốc. Ông có miếu hiệuHuệ Tông, thụy hiệuTuyên Nhân Phổ Hiếu hoàng đế. Huệ Tông chính là con trai của hoàng đế Nguyên Minh Tông. Ông cũng là vị vua người Mông Cổ cuối cùng cai trị Trung Quốc và đã tại vị 36 năm trên lãnh thổ Trung Hoa.

Năm 1367, ông để mất đất Giang Nam về tay thủ lĩnh quân Khăn Đỏ Chu Nguyên Chương, chỉ còn cai trị Hoa Bắc. Một năm sau đó Chu Nguyên Chương lập ra nhà Minh rồi đưa quân đánh chiếm Đại Đô, buộc Nguyên Huệ Tông phải tháo chạy về Thượng Đô, kể từ đó ông chỉ còn được làm vua ở miền đất Mông Cổ.

Nguyên Huệ Tông là một vị Phật tử thuần thành của đạo Phật giáo Tây Tạng.

Trước khi làm vua[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ Nguyên Huệ Tông

Cha của vua Huệ Tông là Nguyên Minh Tông, vua chào đời lúc cha của mình còn là một vị thân vương đang trấn ở đất Trung Á. Mẹ của ông tên là Mại Lai Địch là người ở bộ tộc Cát La Lộc.

Sau khi vua Nguyên Thái Định Đế qua đời, nội chiến trong hoàng gia bùng phát vào năm 1328, ông theo cha mình vượt qua Mông Cổ trở về Thượng Đô, tại đây, cha của ông được tôn làm hoàng đế, tức là Nguyên Minh Tông. Nhưng sau khi vua cha Minh Tông bị sát hại, Thỏa Hoan Thiết Mộc Nhĩ bị phe phái đối lập đày đến đất Cao Ly rồi sau đó lại lưu đày ông đến đất Quảng Tây. Trong thời gian ông bị lưu đày, người mẹ kế của ông là Bát Bất Sa bị xử tử.

Chân dung của Bát Bất Sa - mẹ kế của Nguyên Huệ Tông.

Sau đó, ngôi vua do Nguyên Văn Tông kế nhiệm vào năm 1329, Văn Tông làm vua tới năm 1332 thì băng hà. Trước khi chết, Văn Tông muốn nhường ngôi cho con của Nguyên Minh Tông và đáng ra Thỏa Hoan Thiết Mộc Nhĩ sẽ được nối ngôi, nhưng sau đó triều đình lại lập một người trong tôn thất còn nhỏ tuổi hơn ông tên là Ý Lân Chất Ban, đó là hoàng đế Nguyên Ninh Tông, nhưng Ninh Tông sau đó cũng băng hà sớm khi ở ngôi chỉ có 43 ngày[1], lúc đó chỉ mới 6 tuổi.

Hoàng thái hậu Bốc Đáp Thất Lý thị lâm triều, Yên Thiếp Mộc Nhi cùng đồng bọn có ý muốn tôn con trai vua Văn Tông là Yên Thiếp Cổ Tư. Thái hậu nói

Thiên vị quan trọng biết mấy, con của ta còn nhỏ tuổi sao có thể đảm nhận. Thỏa Hoan Thiếp Mục Nhĩ ở Quảng Tây, năm nay đã 13 tuổi; lại là trưởng tử của Minh Tông, theo lễ có thể được lập.[1].

Liền sai người đón Thỏa Hoan ở Tĩnh Giang, rước về Yên Kinh để làm vua. Lúc đó, tại triều đình, ông bị một viên đại thần là Yên Thiếp Mộc Nhi mưu hại (chính viên đại thần này là kẻ được Nguyên Văn Tông sai ám sát Nguyên Minh Tông - cha của Huệ Tông), nhưng phe ủng hộ của Thỏa Hoan Thiết Mộc Nhĩ đã giúp ông, và cuối cùng Yên Thiếp Mộc Nhi bị giết, Thỏa Hoan Thiết Mộc Nhĩ đăng quang làm vua vào năm 1333, lúc đó ông chỉ mới có 12 tuổi. Do vậy ông được các triều thần Nhà Nguyên thay ông lo chính sự đất nước.

Năm 1333, vua gặp Ki hoàng hậu lần đầu tiên, một nữ thiếp đến từ Cao Ly mà ông đã hết sức sủng ái. Nữ thiếp này đã được gửi đến Trung Quốc cuối những năm 1320 như một phần trong chính sách "cống nạp con người" của các vị vua Cao Ly được yêu cầu gửi một số lượng nhất định các cô gái trẻ tuổi xinh đẹp đến nước Nguyên để phục vụ như vợ lẽ sau chiến tranh Mông Cổ - Cao Ly.

Sự cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh giành quyền lực thời kỳ đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Vị hoàng đế mới đã bổ nhiệm anh em họ thái tử El Tegüs của mình khi ông được bảo hộ bởi Dowager Budashiri, nhưng Huệ Tông lại bị kiểm soát bởi các lãnh chúa ngay cả sau cái chết của Yên Thiếp Mộc Nhi. Trong số đó, Bá Nhan trở nên mạnh mẽ như Yên Thiếp Mộc Nhi. Ông ta nắm nhiều quyền hành lớn trong triều và đã ra tay đàn áp một cuộc nổi loạn của con trai Yên Thiếp Mộc Nhi là Tang Ki-se. Trong thời kỳ cai trị của ông, ông đã thực hiện một số thanh trừng và cũng đình chỉ hệ thống kiểm tra hoàng gia. Khi Huệ Tông cố gắng phong Ki hoàng hậu trở thành vợ thứ hai, trái ngược với việc thực hành tiêu chuẩn chỉ lấy vợ thứ hai từ hoàng tộc Mông Cổ, nó tạo ra sự phản đối trong vụ xét xử khi hoàng đế sắc phong cho một phụ nữ người Triều Tiên. Năm 1339, khi Ki sinh ra một đứa con trai, người mà Huệ Tông xác định sẽ là người kế vị mình, ông mới có thể phong bà ta trở thành hoàng hậu thứ cấp vào năm 1340.

Khi Huệ Tông trưởng thành và hiểu được tình hình chính sự, ông đã nhiều lần phản đối sự cai trị của Bá Nhan. Năm 1340, ông liên minh với cháu trai của Bá Nhan là Thoát Thoát, người đang mâu thuẫn với Bá Nhan, và trục xuất Bá Nhan khỏi triều trong một cuộc đảo chính. Ông cũng loại bỏ El Tegüs và Hoàng hậu Budashiri ra khỏi triều đình. Với sự giúp đỡ của Thoát Thoát, ông cũng mạnh tay thanh trừng các quan chức đã thống trị chính quyền.

Thời kì tự chấp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh thổ Nhà Nguyên và các nước lân cận, thời Nguyên Huệ Tông, năm 1345

Tháng 3 năm 1340, Nguyên Huệ Tông chính thức nắm quyền hành. Công việc đầu tiên của ông đó là trả thù cho vua cha Minh Tông. Cuối năm 1340, Huệ Tông đã hạ chiếu đập bỏ miếu thờ của Nguyên Văn Tông đi. Con trai của Văn Tông là Yên Thiếp Cổ Tư bị Huệ Tông truy lùng đã trốn ra Cao Ly, cuối cùng hắn đã bị Huệ Tông sai người đuổi theo và giết chết ngay ở đó.

Trả thù đã xong, Nguyên Huệ Tông bắt đầu xây dựng lại một đất nước đang trên con đường suy tàn và đã trải qua hơn 12 năm mâu thuẫn triều đình (1320 - 1333). Trong 25 năm từ lúc Nguyên Thành Tông qua đời cho đến lúc Nguyên Huệ Tông tại vị, triều Nguyên đã trải qua tới 8 đời hoàng đế. Ngay từ đầu ông cũng có chút nỗ lực để cải cách chính trị. Năm 1341, Nguyên Huệ Tông khôi phục lại chế độ thi cử bị gián đoạn trong thời gian dài để tuyển người hiền tài giúp triều đình. Ông còn sai Thoát Thoát hoàn thành tất cả ba cuốn Liêu sử, Tống sửKim sử vào năm 1343.

Với việc loại trừ Bá Nhan, Thoát Thoát đã chiếm đoạt quyền lực lớn trong triều. Chính quyền đầu tiên của ông thể hiện tinh thần tươi mới. Người lãnh đạo trẻ nhanh chóng phân biệt chế độ của mình như một thứ hoàn toàn khác với Bá Nhan. Một niên hiệu mới của vua Nguyên, Chí Chính (Trung Quốc: 至正), đã cho thấy điều này. Nhiều người trong số những người Trung Quốc đã trở về thủ đô từ hưu trí tự nguyện hoặc từ lưu vong hành chính và hệ thống kiểm tra của hoàng gia đã được phục hồi.

Thoát Thoát bất ngờ từ quan với sự chấp thuận của Huệ Tông vào tháng 6 năm 1344, đánh dấu sự kết thúc của chính quyền đầu tiên của ông. Một giai đoạn ngắn ngủi tiếp theo từ 1344 đến 1349 sẽ phát triển một chương trình nghị sự rất khác với Thoát Thoát. Năm 1347, hoàng đế buộc Thoát Thoát sang Cam Túc với sự giúp đỡ của những cựu sĩ quan của Nguyên Minh TôngNguyên Thái Định Đế.

Năm 1349, Huệ Tông gọi lại Thoát Thoát về kinh, bắt đầu chính quyền thứ hai và rất khác của Thoát Thoát.

Ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa thờ Nhan HồiKhúc Phụ được xây dựng lại vào năm Chí Chính thứ 9 (1349).

Với Tòa thánh Công giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hoàng Gioan XXIIGiáo hoàng Bênêđictô XII đã cho thiết lập nhiều nhà thờ Công giáo khắp Đế quốc Mông Cổ, từ bán đảo Krym cho tới Trung Hoa giữa 1317 và 1343. Tổng giám mục Đại đô Hãn Bát Lý, Giovanni da Montecorvino qua đời năm 1328. Với sự đồng ý của Nguyên Huệ Tông, đội vệ binh Asud có nguồn gốc Alan đã gửi thư thỉnh cầu Giáo hoàng Bênêđictô XII một vị giám mục đô thành mới. Năm 1338, giáo hoàng đã điều tới một phái đoàn, dẫn đầu bởi Giovanni de' Marignolli. Phái đoàn dâng tặng Huệ Tông các vật phẩm, trong đó có ngựa châu Âu loại tốt.

Với Vương quốc Hồi giáo Delhi[sửa | sửa mã nguồn]

Vào khoảng năm 1338, Sultan Muhammad bin Tughluq của Vương quốc Hồi giáo Delhi bổ nhiệm đại sứ Maroc Ibn Battuta đến ngoại giao với Huệ Tông. Món quà mà đại sứ đã dâng lên Huệ Tông bao gồm 200 nô lệ người Hindu. Trên đồng bằng Doab, người Delhi bị tấn công bởi quân nổi dậy Hindu; kỵ binh hoàng gia đã giết chết tất cả 4000 quân nổi loạn trong khi hoàng gia mất 78 người lính, theo Ibn Battuta, những người đã tách ra, bị bắt hoặc trốn thoát nhưng bị giết bởi bọn cướp. Battuta cũng may mắn trốn thoát sang Trung Quốc. Tuy nhiên, ông cho biết khi ông đến Trung Quốc, Kaghan đã chết, nhưng đi xa hơn về phía bắc, thông qua Đại Vận Hà đến Bắc Kinh, và cùng với người đồng hương của ông là Al-Bushri, Ibn Battuta được mời đến Nguyên triều của Huệ Tông trong vai trò là một đại sứ của Vương quốc Hồi giáo Delhi.[2]

Với Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Khi dân Cao Ly bắt được một chiếc tàu đánh cá Nhật Bản mà họ nghĩ là gián điệp, chính quyền Cao Ly đã gửi nó đến Huệ Tông. Ông sau đó đã chủ động trả tự do các ngư dân trở về Nhật Bản. Đáp lại, Mạc phủ Ashikaga đã gửi một đoàn sứ giả do một nhà sư dẫn đầu sang Đại Đô để bày tỏ lòng biết ơn của mình.

Rút chạy về Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Xung đột trong triều[sửa | sửa mã nguồn]

Càng về cuối những năm làm vua, Nguyên Huệ Tông dần dần mất hứng thú với chính trị và không còn can thiệp vào những cuộc đấu tranh chính trị nữa, chỉ ham mê tửu sắc và chìm đắm trong hậu cung. Con trai của ông là Ái Du Thức Lý Đạt Lạp, người đã trở thành Thái tử năm 1353, đã cố gắng nắm bắt quyền lực và dẫn đến xung đột với các quần thần của vua cha, những người điều hành chính trị thay Huệ Tông. Trong thời gian này quyền lực ngày càng được thực hiện bởi hoàng hậu Ki. Bà có một khu vực đặc biệt dành toàn bộ tiền thuế cho việc sử dụng cá nhân của riêng mình, và bà trở nên nổi tiếng với sự tham nhũng và chi tiêu xa hoa của mình trên các cung điện và hàng xa xỉ, khiến bà trở thành một nhân vật đáng ghét. Bản thân ở Cao Ly, gia đình của hoàng hậu Ki, tất cả đều được hưởng các vị trí có ảnh hưởng nhờ sức mạnh của mình, đều bị ghét vì tham nhũng của họ. Ki Hậu và thừa tướng đã thuyết phục Ái Du Thức Lý Đạt Lạp lật đổ người sau này. Huệ Tông không thể hòa giải tranh chấp nhưng vẫn làm chủ được tình thế. Năm 1364, lãnh chúa có trụ sở tại Shangxi là Bolad Temür chiếm đóng Đại Đô Khanbaliq và trục xuất Hoàng Thái tử khỏi cung điện mùa đông. Trong liên minh với lãnh chúa Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi, thái tử đã đánh bại Bolad Temür trong năm tới. Cuộc đấu tranh nội bộ này đã dẫn đến sự suy yếu hơn nữa của quyền lực chính trị và quân sự của chính quyền trung ương. Năm 1365, Huệ Tông cuối cùng đã phong tước cho Ki hoàng hậu của mình lên thành Đệ Nhất hoàng hậu và thông báo rằng con trai của mình sẽ là người đầu tiên trong dòng được kế vị.

Khởi nghĩa loạn lạc[sửa | sửa mã nguồn]

Các quân phiệt, lãnh chúa cát cứ trên lãnh thổ Trung Hoa cuối thời Nguyên (1363).
Hsing-hua, 1362, thời Nguyên. Rất nhiều phần của Phủ Điền bị kiểm soát bởi các quân phiệt người Hán.

Từ cuối những năm 1340, người dân ở nông thôn bị thiên tai thường xuyên, hạn hán, lụt và nạn đói liên tục xảy ra. Việc triều đình đưa ra những chính sách thiếu hiệu quả đã dẫn đến mất đi sự ủng hộ từ người dân. Những người buôn bán muối bất hợp pháp bị ảnh hưởng bởi sự độc quyền về muối của triều đình đã cùng nhau nổi dậy vào năm 1348, gây ra nhiều cuộc nổi dậy khắp đất nước. Nổi bật nhất là cuộc nổi loạn của quân Khăn Đỏ (còn gọi là quân Hồng Cân), bùng nổ vào năm 1351 và trở thành một cuộc khủng hoảng chính trị toàn quốc.

Năm 1352, Thoát Thoát được Huệ Tông cử đi đánh dẹp quân Khăn Đỏ ở Từ Châu. Đánh thắng được quân khởi loạn, ông ta được triều đình phong lên tước Thái sư. Tuy nhiên, đến năm 1354, khi Thoát Thoát lại dẫn đầu một đội quân lớn để trấn áp lực lượng phản loạn của Trương Sĩ ThànhCao Bưu, Huệ Tông đột nhiên nghe theo lời gièm pha và cách chức Thoát Thoát vì sợ ông lập nhiều công lớn sẽ trở nên kiêu ngạo và lộng quyền. Thoát Thoát bị lưu đày đến Vân Nam và sang năm sau thì bị hạ độc mà chết. Điều này dẫn đến việc khôi phục quyền lực của hoàng đế nhưng cũng là nguyên nhân dẫn đến sự suy yếu nhanh chóng của chính quyền trung ương. Vì vậy, Huệ Tông không có lựa chọn nào khác ngoài việc dựa vào lực lượng của các lãnh chúa địa phương.

Năm 1351, khởi nghĩa Khăn Đỏ do Hàn Sơn ĐồngLưu Phúc Thông lãnh đạo nổ ra, số lượng nghĩa quân lên tới hàng vạn người. Khởi nghĩa còn chưa bắt đầu thì huyện lệnh phái binh đến tiễu, Sơn Đồng bị bắt giết, vợ con trốn đến Vũ An. Lưu Phúc Thông huy động nghĩa quân đột vây, vào ngày 3 tháng 5 năm đó đánh chiếm Dĩnh châu, cuộc khởi nghĩa Khăn Đỏ từ đó chính thức bùng nổ. Lưu Phúc Thông đánh bại quan quân đến trấn áp, nhanh chóng chiếm cứ nhiều thành, trấn nay thuộc An Huy, Hà Nam. Phúc Thông đón con trai Hàn Sơn Đồng là Hàn Lâm Nhi ở trại Giáp Hà, núi Nãng; tôn lên làm vua, đặt quốc hiệu là Tống. Sau đó Thông cất quân đánh Biện Lương. Tháng 5 năm thứ 18 (1358), Phúc Thông hạ được Biện Lương, dời kinh đô về đây.

Nhân dịp Lưu Phúc Thông nổi dậy, nhiều thế lực khởi loạn khác như Lý Nhị ở Từ Châu, Từ Thọ Huy ở Kỳ Châu, Quách Tử Hưng ở Hào Châu cũng nổi dậy hưởng ứng theo. Trương Sĩ Thành người đất Thái Châu cũng đứng lên khởi nghĩa, tự xưng là Thành Vương, đặt quốc hiệu là Đại Chu, sau đó chiếm lấy vùng Giang Nam rộng lớn. Về sau, cuộc khởi nghĩa được phân tán ra hai chiến trường phía Bắc và phía Nam sông Trường Giang. Tuy nhiên, lực lượng phía Bắc chỉ trụ được đến năm 1362 thì bị triều đình trấn áp thành công.

So với lực lượng phía Bắc, nghĩa quân phía Nam có lực lượng mạnh hơn bởi không phải chịu quá nhiều áp lực từ quân triều đình, thế lực của bọn địa chủ vũ trang cũng không thể vươn đến. Tuy nhiên, các thủ lĩnh trong nghĩa quân như Quách Tử Hưng và Từ Thọ Huy lại mâu thuẫn đánh giết lẫn nhau, dẫn đến một cuộc chiến tranh quân phiệt với quy mô lớn hơn. Năm 1355, Quách Tử Hưng mất, con rể là Chu Nguyên Chương thay Quách Tử Hưng nắm binh quyền. Đến năm 1359, thủ hạ Trần Hữu Lượng làm phản giết Từ Thọ Huy rồi xưng đế, đặt quốc hiệu là Hán. Sau nhiều cuộc giao chiến ác liệt giữa các quân phiệt, hai quân phiệt mạnh nhất là Chu Nguyên Chương và Trần Hữu Lượng cùng đối đầu với nhau để tranh giành quyền kiểm soát toàn bộ lãnh thổ của quân Hồng Cân cũ. Hai bên quyết chiến ở trận hồ Bà Dương năm 1363. Trận đánh kéo dài 3 ngày, kết thúc với việc hạm đội hơn trăm chiến thuyền của Trần Hữu Lượng bị đốt sạch, lực lượng 60 vạn quân của Trần Hữu Lượng bị đánh tan tác, bản thân ông cũng bị trúng tên mà chết.

Nhờ trận thắng quyết định trước đối thủ nguy hiểm nhất là Trần Hữu Lượng, thế lực của Chu Nguyên Chương ngày một lớn mạnh. Năm 1367, Chu Nguyên Chương đánh bại lực lượng còn lại ở Giang Nam là Trương Sĩ Thành, kẻ vốn chiếm giữ kinh đô cũ của nhà TốngHàng Châu. Chiến thắng này giúp chính quyền của ông giành quyền kiểm soát toàn bộ các vùng đất bắc và nam sông Dương Tử. Việc này khiến các thủ lĩnh nghĩa quân nhỏ nhanh chóng đầu hàng. Tháng 12 năm 1367, khúc ca khải hoàn nổ ra tại Tô Châu, Chu Nguyên Chương tuyên bố sẽ xưng đế sau khi thống nhất được Giang Nam, từ đó Chu Nguyên Chương được nhân dân hưởng ứng và ủng hộ hết mình, họ đã quyết tâm lật đổ bằng được triều đình ngoại tộc thối nát, vô dụng và tầm thường của Nguyên triều tại Trung Nguyên. Sự nghiệp vĩ đại của Nhà Nguyên mà Hốt Tất Liệt xây dựng đang có nguy cơ bị sụp đổ hoàn toàn.

Rút chạy về Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1368, Chu Nguyên Chương chính thức lên ngôi Hoàng đế ở Nam Kinh, đổi quốc hiệu là Đại Minh rồi sai Từ Đạt kéo 25 vạn quân Bắc tiến tấn công vào kinh đô nhà Nguyên. Huệ Tông nghe tin, vội sai Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi điều động binh lực ra nghênh chiến, cuối cùng thua tan tác. Biết đại thế đã mất, Nguyên Huệ Tông và đám quần thần vội vã kéo gia quyến bỏ chạy khỏi Đại Đô. Không lâu sau đó Từ Đạt kéo quân vào chiếm kinh thành Khanbaliq. Nhưng lúc đó Nguyên Huệ Tông đã về được đến Mông Cổ, lập ra nhà Bắc Nguyên và xưng đế ở Thượng Đô. Chính quyền Đại Nguyên ở Trung Quốc tồn tại được 97 năm cuối cùng đã bị diệt vong kể từ đây.

Năm 1369, Từ Đạt lại kéo quân vào thảo nguyên Mông Cổ. Huệ Tông phải cầu viện đại tướng nước Cao Ly là Lý Thành Quế kéo quân chặn Từ Đạt. Tuy nhiên, Lý Thành Quế do muốn quy thuận theo nhà Minh nên đã liên minh với quân của Từ Đạt. Thượng Đô cũng rơi vào sự chiếm đóng của Đại Minh, Huệ Tông phải chạy xa về phía bắc đến Ứng Xương, nằm ở Nội Mông Cổ ngày nay. Từ Đạt thừa cơ truy kích, tiêu diệt các lực lượng cứu viện của Mông Cổ, đánh vào thủ đô Mông Cổ là Karakorum, bắt sống hàng ngàn quý tộc Mông Cổ vào năm 1370. Quân của Từ Đạt đã tiến vào Transbaikalia (Ngoại Baikal) và thậm chí tiến xa hơn về phía bắc mà chưa có đội quân nào của Trung Quốc trước đó từng làm được.

Năm 1370, Nguyên Huệ Tông lâm bệnh rồi qua đời ở Ứng Xương, thọ 50 tuổi. Kế nhiệm ông là thái tử Ái Du Thức Lý Đáp Lạp (Ayusiridara, hay Nguyên Chiêu Tông) - con trai của Nguyên Huệ Tông và Ki hoàng hậu. Ông là vị hoàng đế nhà Nguyên sống thọ nhất kể từ sau vua Nguyên Thế Tổ.

Vào thời điểm ông qua đời, dù đã để mất lãnh thổ Trung Quốc đại lục nhưng đế chế Mông Cổ vẫn còn duy trì ảnh hưởng của nó, kéo dài sự thống trị từ Biển Nhật Bản đến dãy núi Altay. Vẫn còn những thế lực ủng hộ nhà Nguyên là lực lượng chống nhà Minh tại Vân NamQuý Châu và mãi đến năm 1381 mới bị đánh dẹp. Mặc dù sự kiểm soát của triều đình đối với toàn lãnh thổ Trung Quốc vẫn chưa được ổn định, nhà Minh cho rằng nhà Nguyên đã mất thiên mệnh khi triều đại này bỏ kinh đô Khanbaliq, và cuối cùng bị lật đổ năm 1368. Nhà Minh không xem Huệ Tông sau năm 1368 và người kế nhiệm Nguyên Chiêu Tông như những hoàng đế hợp pháp của Trung Hoa nữa.

Nhà Minh đã gán cho Huệ Tông đế hiệu là Thuận Đế (順帝) sau này, ngụ ý rằng ông đã đi theo thiên mệnh để nhượng quyền đế chế của mình cho nhà Minh. Nhưng triều đại Bắc Nguyên đã gọi ông là Tuyên Nhân Phổ Hiếu Hoàng đế (宣仁 普 孝 皇帝) và đặt miếu hiệu Huệ Tông (惠 宗).

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Đáp Nạp Thất Lý hoàng hậu Khâm Sát thị, sách phong năm 1333. Năm 1335 bị trục xuất khỏi hoàng cung, mất tại Khai Bình do thừa tướng Bá Nhan hạ độc.
  2. Bá Nhan Hốt Đô hoàng hậu Hoằng Cát Lạt thị, sách phong năm 1337, mất ngày 8 tháng 9 năm 1365.
  3. Kỳ Hoàng hậu, tên Mông Cổ là Hoàn Giả Hốt Đô, người nước Cao Ly, năm 1340 sách phong làm Đệ Nhị Hoàng hậu, sau khi Hoàng hậu Bá Nhan Hốt Đô băng bà trở thành Hoàng hậu duy nhất. Năm 1368, bà theo Huệ Tông rời Đại Đô chạy lên Mạc Bắc, mất năm 1369.[4]
  1. Mộc Nạp Thất Lý hoàng hậu Hoằng Cát Lạt thị, mất năm 1372.
  2. Thục phi Long Thụy Kiều
  3. Thục phi Trình Nhất Ninh
  4. Thục phi Qua Tiểu Nga
  5. Lệ tần Trương A Nguyên
  6. Lệ tần Chi Kỳ Thị
  7. Tài nhân Ngưng Hương Nhi
  8. Tài nhân Anh Anh
  • Hậu duệ:
  1. Ái Du Thức Lý Đạt Lạp, tức Chiêu Tông Vũ Thừa Hòa Hiếu Hoàng đế, mẹ là Kỳ Hoàng hậu Hoàn Giả Hốt Đô. Năm 1353 được lập làm Hoàng Thái tử.
  2. Thoát Cổ Tư Thiếp Mộc Nhi, sử thường gọi là Bắc Nguyên Hậu chủ, do dùng niên hiệu Thiên Nguyên nên cũng được gọi là Nguyên Thiên Nguyên Đế, sau được truy tôn thành Ích Tông Ninh Hiếu Hoàng đế
  3. Chân Kim, mẹ là Bá Nhan Hốt Đô hoàng hậu, mất lúc 2 tuổi.
  4. Tuyết Sơn, mẹ là Bá Nhan Hốt Đô hoàng hậu. Năm 1364, Bột La Thiếp Mộc Nhi suất binh tiến vào Đại Đô, định phế Hoàng Thái tử Ái Du Thức Lý Đạt Lạp, lập Tuyết Sơn làm Hoàng Thái tử. Năm 1365, Bột La Thiếp Mộc Nhi chết, Thái tử Ái Du Thức Lý Đạt Lạp sai Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi vào kinh, ép Tuyết Sơn về đất Bắc Hải Đô.[5]
  5. Thất Ngốc Nhi, năm 1351 phụng mệnh đi Cao Ly.[6]
  6. Loan Loan Thái tử, năm 1353 phụng mệnh đi Cao Ly.[6]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các biên niên Mông Cổ như Erdeni-yin tobchi gồm có một bài thơ tên là Lời ca oán của Thỏa Hoan Thiết Mộc Nhĩ thể hiện sự đau buồn của ông sau khi mất kinh đô.

Trong nghệ thuật và truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyên Huệ Tông được thể hiện qua diễn xuất của diễn viên Ji Chang-wook trong phim truyền hình Empress Ki (2013)-MBC.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Tục tư trị thông giám, quyển 206.
  2. ^ http://books.google.com.pk/books?id=ZF2spo9BKacC&pg=PA100&lpg=PA100&dq=ibn+battuta+in+tabriz&source=bl&ots=W7cVGG8O_P&sig=YCJFRE8hVw5fziHEOr9t58MurY4&hl=en&sa=X&ei=gQy5UP3eIMy0hAfr_4HgCA&redir_esc=y#v=onepage&q=china&f=false
  3. ^ Tân Nguyên sử
  4. ^ Tân Nguyên sử》, q.104
  5. ^ Hiệp Tử Kỳ 《Thang Mộc Tử》, quyển 3 thượng,Trung Hoa thư cục hiệu bản,trang 45,năm 1959。
  6. ^ a ă Cao Ly sử, q.18 《Cung Mẫn Vương thế gia nhất》, tháng 12 Canh Tý năm thứ 3 thời Trung Mục Vương và tháng 8 Canh Tý, Giáp Dần năm thứ 2 thời Cung Mẫn Vương, Triều Tiên, năm 1975.