Thường Ngộ Xuân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thường Ngộ Xuân (常遇春) (13301369) (sinh ra tại An Huy), tự Bá Nhân (伯仁), hiệu Yên Hành (燕衡), là danh tướng đời Minh. Ông cùng Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương lật đổ nhà Nguyên, lập ra nhà Minh, khôi phục chủ quyền của người Hán đối với Trung Quốc. Tước phong Ngạc Quốc Công (鄂国公), truy phong Khai Bình Vương (开平王), thụy Trung Võ (忠武).

Thường Ngộ Xuân

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Thường Lục Lục (常六六)
  • Mẹ: Cao thị (高氏)
  • Vợ: Lam thị (蓝氏), phong làm Khai Bình Vương phu nhân (开平王夫人)
  • Con cái[1]:
Con trai[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Thường Mậu (常茂)
  2. Thường Thăng (常升)
  3. Thường Sâm (常森)

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiếu Khang Hoàng hậu Thường thị (孝康皇后常氏; 1355 - 1778), trưởng nữ, gả cho Ý Văn Thái tử Chu Tiêu, sau giáng thành Kính Ý Thái tử phi (敬懿太子妃), thời Nam Minh được phục vị Hiếu Khang Hoàng hậu
  • 2 người còn lại không rõ tên

Tiểu thuyết hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Thường Ngộ Xuân còn được nhắc đến trong tiểu thuyết Ỷ Thiên Đồ Long Ký của Kim Dung như là một giáo đồ của Minh giáo. Thường Ngộ Xuân là người dẫn Trương Vô Kỵ đến gặp Điệp Cốc Y tiên Hồ Thanh Ngưu để trị thương sau khi mang ơn của Trương Tam Phong. Nhân vật Thường Ngộ Xuân được miêu tả như một hào kiệt yêu nước và trọng nghĩa khí.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 明史》(卷一百二十五):"遇春從弟榮,積功為指揮同知,從李文忠出塞,戰死臚朐河。遇春二子,茂、升。"