Nguyên Nhân Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên Nhân Tông
元仁宗
Phổ Nhan Đốc Hãn
普顏篤汗
Hoàng đế Trung Hoa, Khả Hãn Mông Cổ (chi tiết...)
YuanEmperorAlbumAyurbarvadaBuyantuPortrait.jpg
Chân dung Nguyên Nhân Tông.
Hoàng đế Đại Nguyên
Trị vì13111320
Đăng quang7/4/1311 tại Đại đô
Tiền nhiệmNguyên Vũ Tông
Kế nhiệmNguyên Anh Tông
Khả Hãn Mông Cổ (danh nghĩa)
Tại vị1311 - 1320
Tiền nhiệmKhúc Luật hãn
Kế nhiệmCách Kiên hãn
Thông tin chung
Tên đầy đủ
Bột Nhi Chỉ Cân Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt (孛兒只斤愛育黎拔力八達, Borjigin Ayurbarwada, ᠠᠶᠤᠤᠷᠪᠠᠯᠪᠠᠳ)
Niên hiệuHoàng Khánh(皇慶): 1312 - 1313
Diên Hữu(延祐): 1314 - 1320
Thụy hiệuThánh Văn Khâm Hiếu Hoàng Đế (聖文欽孝皇帝)
Buyan-tu hãn(ᠪᠤᠶᠠᠨ ᠲᠤ ᠬᠠᠭᠠᠨ, Буянт хаан)
Miếu hiệuNhân Tông
Thân phụĐáp Lạt Ma Bát Lạt (Darmabala)
Thân mẫuĐáp Kỷ (Dagi)
Sinh9/4/1285 (Âm lịch)
Mất1 tháng 3, 1320(1320-03-01) (34 tuổi)
An tángKhởi Liễn cốc

Nguyên Nhân Tông (1285 - 1320) tên thật là Bột Nhi Chỉ Cân Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt (Borijin Ayurbarwada Buyantu Khan), là vị hoàng đế thứ tư của nhà Nguyên và là Đại Hãn thứ tám của Đế quốc Mông Cổ. Ông là con của Đáp Thích Ma Bát Thích và là em trai của Nguyên Vũ Tông.

Nguyên Nhân Tông là vị hoàng đế triều Nguyên đầu tiên tích cực ủng hộ việc áp dụng các nguyên tắc đạo đức vào hệ thống hành chính Mông Cổ. Hoàng đế, người được cố vấn bởi học giả Nho giáo Li Meng, đã thành công khi lên ngai vàng một cách hòa bình và đảo ngược chính sách của anh trai tiền nhiệm của ông. Quan trọng hơn, ông tái lập hệ thống kiểm tra dân sự cho triều đại nhà Nguyên.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hồi nhỏ Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt là người nhân từ và hiếu thảo, năm 1292, cha của ông chết sớm lúc Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt mới 7 tuổi. Hải Sơn lúc đó ra Mạc Bắc ở và bỏ ông lại. Năm 1294, Nguyên Thành Tông mới lên ngôi thì bà nội của Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt đã giữ ông lại để nuôi dưỡng và cho ăn học. Bà nội của Ái Dục Lê Bạt lực Bát Đạt tuyển hiền sĩ Lý Mãnh làm thầy dạy cho ông.

Năm 1305, Nguyên Thành Tông bắt đầu đau yếu liên miên, để quyền hành rơi vào tay hoàng hậu Bốc Lỗ Hãn. Bà ta đã chuyên quyền triều chính. Thấy Bát Đạt thông minh, cứng rắn, nhẫn nại nên đuổi mẹ con Bát Đạt tới Hoài Châu. Nhờ cuộc sống vất vả ở Hoài Châu đã khiến cho Bát Đạt trưởng thành sớm, qua đó thấy được nỗi khổ của dân chúng và biết được những chính sách vô lý của nhà Nguyên lúc đó. Bát Đạt luôn cố gắng học hỏi nhiều thứ khi ở Hoài Châu. Ông đã cho rằng cuộc sống ở làng quê còn yên bình hơn khi phải ở Đại Đô hay Thượng Đô.

Trước khi làm vua[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1307, Thành Tông chết. Chiến tranh giành ngôi vị lại nổ ra dữ dội. Hoàng hậu Bốc Lỗ Hãn đòi lập A Nan Đáp lên ngôi nhưng bị nhiều người phản đối kịch liệt. A Nan Áp phải nắm tạm chính quyền trên danh nghĩa là giám sát đất nước Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt liên lạc với Hải Sơn về Đại Đô giành ngôi, nhưng Hải Sơn ở ngoài Mạc Bắc xa xôi nên Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt đã đến Đại Đô trước và vài ngày sau ông liền xông vào hoàng cung bắt giam A Nan Đáp và A Hốt Đài, sau hai tên này bị Hải Sơn xử tội chết. Hoàng hậu Bốc Lỗ Hãn bị tạm giam, sau bị Hải Sơn đày ra Đông An rồi ban cho tội phải chết vào tháng 5 năm 1307.

Năm 1307, Hải Sơn lên ngôi, tức Nguyên Vũ Tông. Vì Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt từng giúp cho mình lên ngôi hoàng đế nên được Vũ Tông phong làm hoàng thái đệ và cho làm kiêm chức trung thư lệnh. Lúc Vũ Tông tại vị, Bát Đạt được phép can dự triều chính cùng hoàng đế để bàn việc nước. Sự quyết đoán và thông minh của ông làm Vũ Tông và các triều thần phải khâm phục. Trong những lúc Vũ Tông ham chơi bời, không màng gì đến chính sự, ông đã không thèm khuyên can mà vẫn giúp đỡ hoàng đế cai trị đất nước nên nước Đại Nguyên vẫn hùng mạnh và ổn định. Khi sứ giả của các nước đến chầu, Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt đã luôn cố gắng giữ thể diện cho mình và hoàng đế nhà Nguyên trước mắt các sứ giả. Thấy ông tài năng, vua Vũ Tông yêu mến và phong làm Thái tử.

Năm 1311, Nguyên Vũ Tông lâm chung, ông chỉ kịp đề nghị đưa Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt lên kế vị thay mình rồi qua đời. Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt cho hoãn ngày đăng quang để chỉnh đốn lại đất nước trong vòng vài tuần rồi mới lên kế vị, miếu hiệu là Nhân Tông.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên Nhân Tông là hoàng đế có tài và biết trọng dụng hiền thần cho đất nước. Ông không phân biệt chủng tộc và luôn trọng dụng người Hán. Trong thời gian gần 10 năm ở ngôi, ông đã mở ra rất nhiều khoa thi tuyển làm quan. Lúc đầu công việc này khá ổn định nhưng về các đời sau thì quan lại vô dụng trong triều ngày càng nhiều dẫn đến nhiều biến cố trong triều.

Năm 1313, Nhân Tông đã hạ lệnh cho mở khoa thi theo kiểu người Hán, lấy được nhiều nhân tài giỏi, trong đó có cả người Hán. Nguyên Nhân Tông còn bắt tay vào việc cải cách chính trị và kinh tế. Ông cai trị theo lối Hán pháp. Ông đã bãi bỏ những bộ luật hóc búa, khô khan và không cần thiết như "Chí Đại ngân sao" và "Chí Đại thông bảo" thời Nguyên Vũ Tông. Nhân Tông đã khôi phục tiền Trung Thống và tiền Chí Nguyên. Ông đã nỗ lực để cải thiện lại khủng hoảng tài chính nhà Nguyên lúc đó. Vì muốn nhiều người ủng hộ, ông đã tiến hành khen thưởng tràn lan giống như hai thời Thành Tông và Vũ Tông, tăng việc xây dựng nhiều công trình kiến trúc đồ sộ, tăng cường chi phí quân đội nên việc cải cách của ông không được chuyển biến hiệu quả. Ông đảnh phải in một lượng lớn tiền giấy. Tới khi Nhân Tông sắp qua đời thì đồng tiền mất giá trầm trọng và cải cách tiền tệ của ông hoàn toàn thất bại. Gánh nặng tài chính triều Nguyên ngày càng khủng hoảng.

Năm 1314, Nhân Tông sai các quan tới ba tỉnh là Giang Tây, Triết GiangHà Nam kiểm tra việc thu thuế nhằm tăng ngân thuế triều đình. Tuy nhiên công việc này gặp phải sự kháng cự của quý tộc và quan lại nên cũng thất bại. Việc thất bại trong việc cải cách kinh tế, chính trị của Nhân Tông bị thất bại khiến ông đã đánh mất đại quyền của mình và niềm tin của các đại thần và nhân dân.

Nhân Tông đã đưa ra quyết sách (yarliq) để miễn trừ những người dòng Phan Sinh khỏi bất kỳ khoản thuế nào trong năm 1314. Các tu sĩ vẫn được mong đợi cầu nguyện cho cuộc đời của Hoàng đế và ban phước lành của họ vào những dịp lễ nghi.

Trên thế giới, Nhân Tông tiếp tục các chính sách đế quốc của tổ tiên ông. Ông nhắc nhở các quốc gia chư hầu của sự hiện diện của mình cũng như yêu cầu các nước này nhớ sai sứ tiến cống vào đúng thời điểm, và đảm bảo với họ rằng ông sẽ có biện pháp trừng phạt nếu họ thất bại. Trong số các nước lân bang mà ông thông báo về sự lên ngôi của mình là Chăm Pa, Đại Việt, một hòn đảo gần Nhật Bản, Ấn độ, và các vương quốc trên biên giới gần tỉnh Vân Nam.

Triều đại Ayurbarwada cũng chứng kiến ​​cuộc chiến giữa hãn quốc Sát Hợp Đài dưới thời Esen Buqa I và triều đình và đồng minh Ilkhanate dưới triều đại Öljaitü. Cuộc chiến kết thúc với chiến thắng cho nhà Nguyên và Ilkhanate, nhưng hòa bình chỉ đến sau cái chết của Esen Buqa năm 1318.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1320, Nguyên Nhân Tông Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt mắc bệnh qua đời. Sau khi Nguyên Vũ Tông qua đời, Nhân Tông từ bỏ lời hứa của mình với anh trai bằng cách lập con trai riêng của mình Thạc Đức Bát Thích làm thái tử mới vào năm 1316. Vì vậy, con trai của ông đã lên ngôi thành công thay vì một trong những con trai khác của Vũ Tông.

Cái chết của ông đã tạo ra hai thập kỷ rối loạn chính trị. Nhóm Khunggirat dưới thời Temuder và Dagi trở nên mạnh mẽ hơn tại triều đình. Sau vụ ám sát Nguyên Anh Tông năm 1323, không ai trong số các hậu duệ của ông cai trị Đế quốc

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]