Nguyên Anh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên Anh Tông
元英宗
Cách Kiên Hãn
格堅汗
Hoàng đế Trung Hoa, Khả Hãn Mông Cổ (chi tiết...)
Gegeen.jpg
Chân dung Nguyên Anh Tông.
Hoàng đế Đại Nguyên
Trị vì19 tháng 4 năm 1320 – 4 tháng 9 năm 1323
(&0000000000000003.0000003 năm, &0000000000000138.000000138 ngày)
Đăng quang19 tháng 4 năm 1320 tại Đại đô
Tiền nhiệmNguyên Nhân Tông
Kế nhiệmNguyên Thái Định Đế
Khả Hãn Mông Cổ (danh nghĩa)
Tại vị19 tháng 4 năm 1320 – 4 tháng 9 năm 1323
Tiền nhiệmPhổ Nhan Đốc hãn
Kế nhiệmDã Tôn Thiết Mộc Nhi hãn
Thông tin chung
Phối ngẫuSugabala
Tên đầy đủ
Bột Nhi Chỉ Cân Thạc Đức Bát Thích (孛兒只斤碩德八剌, Borjigin Shidebala, ᠰᠢᠳᠢᠪᠠᠯᠠ)
Niên hiệu
Chí Trị (至治)
Thụy hiệu
Duệ Thánh Văn Hiếu Hoàng Đế (睿聖文孝皇帝)
Gegen hãn(ᠭᠡᠭᠡᠨ ᠬᠠᠭᠠᠨ, Гэгээн хаан)
Miếu hiệu
Anh Tông
Hoàng tộcBột Nhi Chỉ Cân (Боржигин)
Thân phụNguyên Nhân Tông
Thân mẫuA Nạp Thất Thất Lý (Hoằng Cát Lạt thị)
Sinh22 tháng 2 năm 1302 (Âm lịch)
Mất4 tháng 9, 1323(1323-09-04) (21 tuổi)
An tángKhởi Liễn cốc

Nguyên Anh Tông (1302 - 1323). Tên thật là Borjigin Shidibala (Hán Việt: Bột Nhi Chỉ Cân Thạc Đức Bát Thích), là hoàng đế thứ năm của nhà Nguyên và là đại hãn thứ chín của đế quốc Mông Cổ. Ông là con của vị hoàng đế tiền nhiệm Nguyên Nhân Tông Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt. Tên của ông có nghĩa là "khả hãn giác ngộ / tươi sáng" trong tiếng Mông Cổ.

Trong thời gian nắm quyền, ông được đánh giá là một vị hoàng đế chuyên tâm vào chính sự, tiếp tục cai trị theo lối Hán pháp Nho giáo giống như thời vua cha nhưng lại đưa ra những luật lệ rất tàn bạo, hà khắc với người Hán, tạo ra mầm mống diệt vong cho triều Nguyên sau này.

Trước khi làm vua[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Cung Mẫn Vương (1330-1374) và Nhân Đức Vương hậu, đã ủng hộ sự kế vị của Nguyên Anh Tông

Năm 1311, khi Nguyên Vũ Tông sắp qua đời, ông đã cho phép Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt lên ngôi nhưng sau khi chết phải nhường ngôi lại cho con của mình. Tuy nhiên năm 1316, thừa tướng Thiếp Mộc Điệp và gian thần Đảo Thích Sa lại lấy lòng vua Nhân Tông bằng cách thỉnh cầu hoàng đế lập con trưởng là Thạc Đức Bát Thích lên làm thái tử[1]. Hoàng thái hậu của Nhân Tông là Đáp Kỷ (Dagi) thấy Thạc Đức Bát Thích chỉ là một người yếu đuối, nhút nhát và còn nhỏ tuổi nên rất tán thành điều này. Mấy tuần sau, Thạc Đức Bát Thích được phong làm thái tử ở tuổi 14. Năm 1320, Nguyên Nhân Tông qua đời, Thạc Đức Bát Thích lên kế vị, tức vua Nguyên Anh Tông.

Trị vị[sửa | sửa mã nguồn]

Con rối không bị thao túng[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng thái hậu Đáp Kỷ đã chọn lầm người, vị hoàng đế mà bà cho là dễ kiểm soát không hề yếu đuối như bà đã nghĩ. Thạc Đức Bát Thích thực chất là một người mạnh mẽ, có nhiều tham vọng lớn. Bà hoàng thái hậu còn phải than rằng:"Biết thế ta chẳng lập thằng oắt con cứng đầu này, và ngay sau đó bà đành bỏ cuộc. Thực tế dù thừa tướng Thiếp Mộc Điệp nắm quyền hành rất lớn trong triều, thường xuyên đàn áp các đối thủ của mình trong những cuộc thanh trừng, nhưng hoàng đế đã tái khôi phục quyền lực này sau cái chết của ông ta[2].

Ngay từ đầu triều đại của mình, Nguyên Anh Tông đã cho thấy sự độc lập chính trị và nghị quyết vượt ra ngoài nhiều năm. Trong một động thái thuần thục để chống lại ảnh hưởng của Thái hậu và Thiếp Mộc Điệp, ông đã bổ nhiệm Bái Trú, một người thuộc bộ lạc Jalayir, người có nền tảng gia đình lừng lẫy và được giáo dục Nho giáo tốt, làm một chức quan lớn ở cánh tả vào mùa hè năm 1320, đã mang lại cho hoàng đế một số lợi thế chính trị. Bất chấp Thiếp Mộc Điệp đang nhanh chóng đạt được quyền lực tối cao; Bái Trú, chỉ huy của kheshig, hậu duệ của Mộc Hoa Lê (vị tướng nổi tiếng của Thành Cát Tư Hãn) là một người có ảnh hưởng lớn đối với Hoàng đế, và đã thay thế vị trí của Thiếp Mộc Điệp sau này.

Nguyên Anh Tông vừa lên ngôi thực hiện rất nhiều cải cách. Một mặt là tiếp tục duy trì lối cai trị kiểu Hán pháp, mặt khác là khắc phục vấn đề tài chính của đất nước đang rơi vào khủng hoảng. Ông đã cải cách mạnh mẽ đối với chế độ chọn Đại hãn Mông Cổ. Giới quý tộc Mông Cổ vô cùng bất mãn với chính sách xóa bỏ quốc lễ này của Anh Tông nên chưa được bao lâu sau khi làm vua, Nguyên Anh Tông đã nhanh chóng bị cô lập và bị nhiều người phản đối.

Vị trí ngai vàng nhanh chóng trở thành tâm điểm của lòng trung thành đối với các quan chức học giả Nho giáo trong cuộc đấu tranh chống lại thế lực hùng mạnh của Thiếp Mộc Điệp. Thạc Đức Bát Thích đã được chuẩn bị cho một vai trò như vậy, vì ông đã được giáo dục tốt bằng tiếng Trung Quốc như cha mình đã từng. Bị ảnh hưởng sâu sắc bởi Nho giáo cũng như Phật giáo, Thạc Đức Bát Thích có thể trích dẫn những bài thơ Đường và cũng là một nhà thư pháp có tài.

Bên cạnh Nho giáo, ông cũng có nhiều hoạt động liên quan đến Phật giáo. Năm 1321, Anh Tông đã xây dựng một ngôi chùa Phật giáo để vinh danh "Lạt-ma Phags-pa" trên vùng núi phía tây Đại Đô[3], và khi những pháp quan chỉ trích ông, ông đã xử tội chết với một vài người trong số họ; trong đó có một sĩ quan rất nổi tiếng, tên là Soyaoelhatimichi, người có tổ tiên phụ thuộc trung thành với Hoàng gia Mông Cổ. Mặt khác, Hồi giáo phải chịu sự phân biệt đối xử đặc biệt nghiêm trọng trong thời ông nắm quyền. Người ta nói rằng Hoàng đế đã ra lệnh phá hủy một ngôi đền được xây dựng bởi người Hồi giáo, tại Thượng Đô và cấm họ mua nô lệ từ người Mông Cổ và bán lại cho người Trung Quốc[4].

Để làm dân giàu nước mạnh, Anh Tông đã thực hiện nhiều cải cách khác nhau. Về kinh tế, ông thực thi tiết kiệm chi tiêu, tinh giảm cơ cấu. Với những dân lưu tán ở các nơi, ông vỗ về an ủi bằng cách ban thêm cho họ ruộng đất, lương thực, trâu ngựa. Đối với những nơi có nạn đói và thiếu ăn trầm trọng, ông cấm cho dân uống rượu và cấm giết trâu bò và cả ngựa. Về chính trị, Anh Tông thực thi một loạt biện pháp nhằm tập trung quyền lực tại trung ương. Ông ra lệnh cấm giáo sĩ giao du với chư vương, cấm trung thư tỉnh không được tiết lộ cơ mật, dân chúng không được nói năng hồ đồ về chính sách cai trị của ông.

Nguyên Anh Tông rất khác vua Nhân Tông trước đó, ông rất căm ghét người Hán. Anh Tông cấm người Hán dùng binh khí đi săn, cấm họ không được luyện tập võ nghệ và không được họp chợ ban đêm. Cựu hoàng đế Tống Cung Tông từng ngâm thơ thể hiện sự căm thù người Mông Cổ cũng bị ông hạ lệnh xử tử. Mặt khác, về văn hoá, ông lại rất chú trọng việc học văn hoá của người Hán, hạ lệnh đãi ngộ đặc biệt cho những người là con cháu của Khổng Tử và rất tôn sùng họ.

Anh Tông còn rất biết tiếp thu ý kiến người khác. Ông từng bổ nhiệm Bột La Đài làm thái thường sở lệnh, còn viên quan Bái Trú từng là một phe của Anh Tông cũng được trọng dụng. Có lần vào dịp Tết Nguyên Đán, Anh Tông muốn kết hoa, giăng đèn trang trí Đại Đô trong ngày Tết. Tuy thế tham nghị trung thư sảnh sự Trương Dưỡng Hạo cho rằng đất nước còn khó khăn nên xin hoàng đế hãy chủ trương tiết kiệm, thế là Anh Tông đã khen thưởng Trương Dưỡng Hạo và huỷ bỏ ý định này.

Nắm đại quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1322, hoàng hâu Đáp Kỷ và thừa tướng Thiếp Mộc Điệp Nhi qua đời, Anh Tông cuối cùng đã thâu tóm mọi quyền hành trong triều[5]. Ông nhanh chóng triệt hạ phe Khunggirad khỏi chính quyền mới do mình lãnh đạo. Sự đàn áp nghiêm trọng các phe phái đối lập bao gồm tước quyền sở hữu và tài sản của Thiếp Mộc Điệp, việc xử tử con trai ông đã đẩy nó vào góc. Mặt khác, ông bổ nhiệm Bái Trú làm thừa tướng, biến ông ta trở thành một đồng minh mạnh mẽ của hoàng đế. Họ cũng đã loại bỏ tầm ảnh hưởng của Thái hậu. Ảnh hưởng ngày càng tăng của chủ nghĩa Tống Nho đã chứng kiến ​​những giới hạn lớn hơn đối với phụ nữ Mông Cổ, những người được phép di chuyển tự do hơn ở nơi công cộng[6].

Sau đó Anh Tông thẳng tay thực thi tiếp một loạt chính sách khác nữa dựa trên các nguyên tắc Nho giáo, tiếp tục các chính sách của cha mình để tích cực thúc đẩy văn hóa Trung Quốc. Thứ nhất, ông trọng dụng một lượng lớn là Nho thần và quan lại địa phương người Hán, nhiều người đã từ chức khi Thiếp Mộc Điệp nắm quyền. Đứng đầu danh sách này, Trương Quế, một viên quan kỳ cựu, được bổ nhiệm lại làm quản lý các vấn đề chính phủ và trở thành đối tác chính của Bái Trú trong việc tiến hành cải cách. Ngoài ba học giả cao tuổi được bổ nhiệm làm ủy viên Hội đồng Cố vấn, bảy học giả nổi tiếng đã được bổ nhiệm vào Hàn Lâm Viện. Thứ hai, ông bãi bỏ viện Huy chính và những quan lại vô dụng. Thú ba ông thực thi chính sách trợ dịch. Thú tư ông cho giảm bớt lao dịch. Thứ năm ông thẩm định và ban ra Đại Nguyên thông chế (大元通制 - "các tổ chức toàn diện của Đại Nguyên"), bộ sưu tập khổng lồ các quy tắc và quy định của nhà Nguyên do cha ông bắt đầu, đã được sửa đổi để hợp lý hóa chính quyền và tạo điều kiện để thực thi công lý.

Hơn nữa, để giảm bớt gánh nặng lao động của các địa chủ nhỏ, chính quyền của Anh Tông đã quy định rằng các địa chủ dành một phần đất nhất định được đăng ký thuộc quyền sở hữu của họ từ đó có thể thu tiền để trang trải chi phí[7].

Bị hại[sửa | sửa mã nguồn]

Bất chấp những thành công của triều đại thời Anh Tông, nó đã kết thúc bi thảm vào ngày 4 tháng 9 năm 1323 trong một cuộc đảo chính ở Nanpo, chỉ vì sự thiếu cảnh giác của hoàng đế. Dù đã thẳng tay loại trừ nhiều kẻ chống đối trong triều, Anh Tông đã quên không diệt trừ Đảo Thích Sa chỉ vì nghĩ rằng hắn là kẻ vô hại, thấy Anh Tông không bao giờ hưởng lạc nên vô cùng lo sợ cho địa vị của mình. Lúc đó có ngự sử Thiết Thất, con nuôi của Thiếp Mộc Điệp, cũng được Anh Tông trọng dụng đang ráo riết tìm cách phế truất Anh Tông nên đã dèm pha với Anh Tông rằng là đại thần Bái Trú có ý muốn chiếm đoạt quyền hành. Thấy vậy Anh Tông cho rằng đó là mầm họa lớn nên liền sai người giết chết ông ta. Do đó Đảo Thích Sa liền gặp Thiết Thất để bàn mưu ám sát Anh Tông và lập con trưởng của tướng Cam Ma Thích là Tấn Vương Bột Nhi Chỉ Cân Dã Tôn Thiết Mộc Nhi lên ngôi.

Một âm mưu được hình thành giữa những người ủng hộ Thiếp Mộc Điệp, những người sợ hoàng đế sẽ báo thù họ, được lãnh đạo bởi Thiết Thất (Tegshi). Bên cạnh các bậc quan lớn, có năm hoàng tử tham gia: Altan Bukha, em trai của cựu hoàng tử An-si, Ananda, người bị phe của Nhân Tông trước đây xử tử; và Bolad, cháu trai của A Lý Bất Ca; Yerutömor, con trai của Ananda; Kulud Bukha; và Ulus Bukha, hậu duệ của khả hãn Mông Kha[8].

Tháng 9 năm 1323, khi Anh Tông ngủ lại ở Nanpo trên đường từ cung điện mùa hè Thượng Đô trở về Đại Đô. Thiết Thất cùng phe ủng hộ Thiếp Mộc Điệp cùng đột nhập vào cửa phòng ngủ của Anh Tông và giết chết hoàng đế ngay trên giường. Thiết Thất đón Dã Tôn Thiết Mộc Nhi lên làm hoàng đế, tức Nguyên Thái Định Đế. Tuy nhiên, chính Dã Tôn Thiết Mộc Nhi về sau đã thanh trừng phe cánh của Thiết Thất trước khi ông vào Đại Đô vì ông sợ bản thân mình trở thành con rối của họ.

Như vậy Nguyên Anh Tông ở ngôi ba năm, thọ 21 tuổi. Triều đại của hoàng đế rất ngắn; và giai đoạn nắm thực quyền của ông chỉ tồn tại trong một năm sau cái chết của Đáp Kỷ. Nhưng ông đã được tôn vinh trong các ghi chép của Trung Quốc kể từ khi ông và cha mình, được trợ giúp bởi các quan chức học giả Trung Quốc, đã nỗ lực mạnh mẽ để giúp nhà Nguyên thay đổi đáng kể theo dòng Nho giáo truyền thống. Từ quan điểm đó, vụ ám sát Nguyên Anh Tông đôi khi được giải thích là cuộc đấu tranh giữa phe thân Khổng giáo và phe trung thành với văn hóa Mông Cổ, vì Nguyên Thái Định đế đã cai trị Mông Cổ trước khi kế vị ngai vàng và các chính sách của ông có vẻ tương đối bất lợi cho các quan lại người Hán.

Cuộc hôn nhân của Anh Tông với hoàng hậu Sugabala đã không sinh được con để kế vị.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Yuan shi, 31. p. 639.
  2. ^ C. P. Atwood Encyclopedia of Mongolia and the Mongol Empire, p. 532.
  3. ^ Mongolia Society Occasional Papers, p. 58.
  4. ^ Denis Twitchett, Herbert Franke, John K. Fairbank, in The Cambridge History of China: Volume 6, Alien Regimes and Border States (Cambridge: Cambridge University Press, 1994), p530-532.
  5. ^ Yuan Chen, Hsing-hai Chʻien, Luther Carrington Goodrich Western and central Asians in China under the Mongols, p. 113.
  6. ^ Peggy Martin AP World History, p. 133.
  7. ^ Huang Chin-Chin-hua Huang hsien sheng wen chi, p. 9b.
  8. ^ Yuan shi, 114. p. 2876.