Hào Cách

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hào Cách
Thông tin chung
Tên đầy đủ Ái Tân Giác La Hào Cách
(愛新覺羅豪格)
Thụy hiệu Túc Vũ Thân vương (肅武親王)
Hoàng tộc Ái Tân Giác La
Thân phụ Hoàng Thái Cực
Thân mẫu Kế phi Ô Lạp Nạp Lạt thị
Sinh 16 tháng 4 năm 1609
Mất tháng 4 năm 1648

Hào Cách [豪格; 16 tháng 4 năm 1609 - tháng 4 năm 1648] ông là hoàng tử, thân vương quý tộc, nhà chính trị, quân sự của Mãn Châu đầu nhà Thanh

Thân Thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hào Cách là hoàng trưởng tử của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực, mẹ là Kế phi Ô Lạp Nạp Lạt thị (继妃乌拉纳喇氏).

Nắm giữ Chính Lam Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1631, trước khi diễn ra chiến dịch Đại Lãng Hà, Mãng Cổ Nhĩ Thái nhân cơ hội đã yêu cầu Hoàng Thái Cực bổ sung thêm tướng sĩ cho kỳ của mình nhưng đã bị Hoàng Thái Cực từ chối. Mãng Cổ Nhĩ Thái bất mãn không kiềm chế được mình đã cãi vã với Đại Hãn và ẩu đả với người em ruột của mình là Đức Cách Loại, người đã lên tiếng chỉ trích thái độ phạm thượng của ông ta. Tuy đây chỉ là một hành động bộc trực đặc trưng của các dân tộc du mục, nhưng Hoàng Thái Cực nhân cớ đó để thực hiện việc đoạt quyền. Mãng Cổ Nhĩ Thái vì hận Hoàng Thái Cực tước binh quyền của mình nên đã liên kết với chị của mình là Mãng Cổ Tế âm mưu giết Hoàng Thái Cực nhưng chuyện bị bại lộ Mãng Cổ Nhĩ Thái bị bắt giam và chết trong ngục, còn Mãng Cổ Tế thì bị xử lăng trì. Sau đó, Chính Lam Kỳ không ai quản lý nên Hoàng Thái Cực liền giao lại cho con trai của mình là Hào Cách nắm giữ.

Giết chết Phúc Tấn của mình[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Mãng Cổ Nhĩ Thái và Mãng Cổ Tế ám sát Hoàng Thái Cực không thành thì bị bắt giam. Phúc Tấn của Hào Cách là Hách Lan muốn nhờ Hào Cách xin Hoàng Thái Cực tha tội chết cho Mãng Cổ Tế nhưng vì sợ bị liên quỵ nên Hào Cách đã không đồng ý và lỡ tay giết chết vợ của mình. Hoàng Thái Cực biết chuyện liền nổi giận lôi đình nhưng không nhẫn tâm trị tội của Hào Cách. Chỉ trừng phạt Hào Cách bằng cách không tận dụng hắn trong vị trí lục bộ của nhà Thanh.

Thời Chinh Chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1627, Đại Hãn Hậu Kim là Hoàng Thái Cực phái Hào Cách và Đa Nhĩ Cổn cùng với Tế Nhĩ Cáp Lãng theo A Mẫn đi bình định Triều Tiên. Sau khi khuất phục được Triều Tiên thì A Mẫn lại có lòng muốn chiếm Triều Tiên tự xưng làm vua nhưng bị phản đối quyết liệt bởi Hào Cách và Đa Nhĩ Cổn nên A Mẫn không thực hiện ý đồ.

Năm 1633, Nghe tin Lâm Đan Hãn vị đại hãn cuối cùng của Mông Cổ đã chết. Hoàng Thái Cực phái Hào Cách và Tế Nhĩ Cáp Lãng đi bình định Sát Cáp Nhĩ nhưng bị Ngạch Triết đánh bại nên phải quay về Thịnh Kinh. Hoàng Thái Cực liền phái Đa Nhĩ Cổn dẫn lưỡng Bạch Kỳ cùng với Đa Đạc, A Tế Cách đi đánh bại Sát Cáp Nhĩ và buộc Ngạch Triết phải đầu hàng dậng truyền quốc ngọc tỷ cho Hoàng Thái Cực.

Năm 1639,  triều đình nhà Minh đã cử một tướng lĩnh có công trong việc trấn áp quân Lý Tự Thành là Hồng Thừa Trù, lên quan ải giữ chức vụ Tổng đốc Kế Liêu (Kế Châu và Liêu Đông). Dù không thiên về phòng ngự chủ động như Viên Sùng Hoán, Hồng Thừa Trù cũng đã thực hiện nhiều phương án để củng cố và tăng cường tuyến phòng thủ Sơn Hải quan. Dù ở thế "án binh bất động", không có hoạt động quân sự nào đáng kể, quân Minh cũng đủ sức ngăn chặn sự phát triển của quân Thanh xuống phía Nam. Hào Cách đã theo lệnh của cha mình dẫn Chính Lam Kỳ của mình bao vây Cẩm Châu và Tùng Sơn cùng với Chính Bạch Kỳ của Đa Nhĩ Cổn, Tương Bạch Kỳ của Đa Đạc, Tương Lam Kỳ của Tế Nhĩ Cáp Lãng, Chính Hồng Kỳ của Đại Thiện, Tương Hồng Kỳ của Thạc Thác góp phần đánh bại 13 vạn quân Minh do Hồng Thừa Trù chỉ huy. Ngoài ra còn bắt sống được Hồng Thừa Trù và Tổ Đại Thọ.

Năm 1646, Túc thân vương Hào Cách làm Tĩnh Viễn đại tướng quân và Ngô Tam Quế thống soái đại quân Mãn Hán, toàn lực tiến đánh quân đội nông dân Đại Tây. Lúc này tham tướng Dương Triển nhà Minh đã giành lại các châu huyện ở Xuyên Nam, đưa quân bắc tiến, cùng quân đội của Trương Hiến Trung giao chiến ở trấn Giang Khẩu, huyện Bành Sơn. Trương Hiến Trung đại bại, lui về Thành Đô. Dương Triển dần áp sát mặt nam của Thành Đô, Vương Ứng Hùng lại phái Tằng Anh làm tổng binh, Vương Tường làm tham tướng, liên quân tấn công, ngăn cản quân đội Đại Tây tiến xuống phía đông. Họ tấn công ráo riết quân đội nông dân, uy hiếp nặng nề chính quyền Đại Tây. Đối với việc này, Trương Hiến Trung lấy cứng chọi cứng, kiên quyết đánh trả. Tháng 5, Hào Cách soái quân Thanh chiếm được Hán Trung.

Tháng 7, vì muốn lên Thiểm Tây ở phía bắc nhằm chống lại quân Thanh, Trương Hiến Trung quyết định rời bỏ Thành Đô. Ông giết hết thê thiếp, con trai của ông còn nhỏ tuổi, cũng bị đánh chết. Ông nói với Tôn Khả Vọng: "Ta cũng là một anh hùng, không thể để con nhỏ lại cho người ta cầm tù, ngươi cuối cùng chính là thế tử của ta vậy. Nhà Minh đã 300 năm ở ngôi chính thống, chưa hẳn đã dứt, cũng là ý trời. Con trai của ta, nếu ngươi muốn về với nhà Minh, cũng không phải là hành vi bất nghĩa." Tiếp đó, Trương Hiến Trung chia quân của mình làm 4, rồi mệnh cho "4 vị tướng quân" (Tôn Khả Vọng, Lý Định Quốc, Lưu Văn Tú, Ngải Năng Kì), đều đưa hơn 10 vạn quân tiến đến Thiểm Tây. Giữa tháng 9, Trương Hiến Trung đưa quân rời khỏi Thành Đô, lên phía bắc chống lại quân Thanh. Tháng 11, Trương Hiến Trung đóng quân ở núi Phượng HoàngTây Sung.

Quân Thanh dùng phản tướng Lưu Tiến Trung của quân Đại Tây làm hướng đạo tiến vào Xuyên Bắc. Ngày 26/11 năm Thuận Trị thứ 3 (1646), Hào Cách phái tướng lĩnh là Phó Đô thống Chính Lam Kỳ Ngao Bái, trang bị gọn nhẹ để tiến quân, hòng bất ngờ tập kích nghĩa quân. Rạng sáng ngày 27, quân Thanh cùng quân đội của Trương Hiến Trung cách khe Thái Dương đối mặt, lập tức phát động tấn công. Trương Hiến Trung lập tức ứng chiến, chỉ huy quân đội nông dân chia ra mã bộ 2 hướng đánh trả quân Thanh. Bấy giờ, đại quân của Hào Cách vừa đến, sai tham lĩnh Cách Bố Khố đánh vào cánh phải, đô thống Chuẩn Tháp tấn công cánh trái của nghĩa quân. Chiến đấu vô cùng kịch liệt, tướng lĩnh Thanh là Cách Bố Khố bị giết chết, quân nông dân cũng tổn thất nặng nề.

Trương Hiến Trung không kịp chuẩn bị, nghe tin binh đến, chỉ khoác trên mình một chiếc áo chẽn dài chừng nửa cánh tay, hông giắt 3 mũi tên; dẫn nha tướng đến bờ sông quan sát hình thế. Lưu Tiến Trung chỉ cho tướng Thanh biết: "Đấy là Bát đại vương!" tướng Thanh bắn tên ngầm, Trương Hiến Trung không may trúng tên, khi mất chưa tròn 40 tuổi.

Tranh Giành Ngôi Báu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cái chết của Hoàng Thái Cực năm 1643, Hào Cách và Đa Nhĩ Cổn (em của Hoàng Thái Cực) xảy ra cuộc chiến giành ngôi báu. Lợi thế bấy giờ đang nghiêng về Hào Cách, bởi vì cả ba Bát kỳ do cha ông kiểm soát trước đây đã được trao lại cho Hào Cách.

Mặt khác, Đa Nhĩ Cổn lại được sự giúp sức của các huynh đệ của mình và của hai Bạch kỳ của mình. Đại Thiện và người con trai của mình là Thạc Thác quản lý Chính Hồng kỳ và Tương Hồng kỳ, và Tế Nhĩ Cáp Lãng quản Tương Lam kỳ. Điều này rất quan trọng cho việc lên ngôi của Hào Cách là được ủng hộ bởi Đại Thiện và Tế Nhĩ Cáp Lãng ngoài ra còn có các đại thần lưỡng Hoàng Kỳ ủng hộ như Sách Ni, Ngao Bái, Át Tất Long, Đồ Nhĩ Cách,....

Hào Cách là một người thiếu quyết đoán, thế lực chỉ gồm 61 Niru, nhưng lại có được sự ủng hộ của các Đại bối lặc khác là Đại Thiện và Tế Nhĩ Cáp Lãng. Lực lượng của 3 người hợp lại có khoảng 145 Niru (khoảng 43.500 người). Cộng thêm ảnh hưởng do công lao của Hoàng Thái Cực quá lớn, Đa Nhĩ Cổn không thể thực hiện thành công ý định của mình. Ông đành chấp nhận giải pháp thỏa hiệp là phò lập con thứ 9 của Hoàng Thái Cực mới 6 tuổi là Phúc Lâm (顺治) lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Thuận Trị. Duệ Thân vương Đa Nhĩ CổnTrịnh Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng cùng phụ chính.

Mặc dù Thuận Trị nắm quyền, xích mích giữa Hào Cách và Đa Nhĩ Cổn vẫn không chấm dứt. Nhiều người tin rằng Đa Nhĩ Cổn đã sắp đặt cuộc chiến giành quyền lực với hoàng đế Thuận Trị khi Hoàng đế đã sang tuổi trưởng thành nhưng kế hoạch bị bại lộ bởi Đa Đạc, một người em khác của ông. Đa Nhĩ Cổn sau đó đã đổ tội cho Hào Cách và vị trưởng tử này bị tống giam. Ông chết trong tình trạng vẫn bị giam cầm.

Hào Cách được truy thụy Túc Vũ Thân vương (肅武親王) vào năm 1650, hai năm sau khi ông qua đời.

Gia thất[sửa | sửa mã nguồn]

Đích phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chính thất Cáp Đạt Na Lạp thị (哈達那拉氏), con gái của Ngô Nhĩ Cổ Đại (吳爾古代) với mẹ là Mãng Cổ Tế (莽古濟) (con gái của Nỗ Nhĩ Cáp Xích), bị giết bởi chính chồng mình do sự bất phục của mẹ bà với Hoàng Thái Cực.
  • Kế thất Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏), em họ của Hiếu Trang Văn Hoàng Hậu, kết hôn năm 1636 sau cái chết của chính thất

Trắc phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nạt Lạp thị (納喇氏), con gái của Hách Lễ Di Cát (赫礼台吉)
  • Thạc Long Vũ thị (碩隆武氏), con gái của Đức Nhĩ Hách Lễ Tha Bố Nang (德尔赫礼他布囊)
  • Cát Nhĩ Nhạc Đại thị (吉爾岳岱氏), con gái của Bố Mặc Hỗ Di Cát (布穆祜台吉)
  • Ninh Cổ Tháp thị (宁古塔氏), con gái của Tá lĩnh Tha Khắc Đồ (他克图)
  • Tây Lâm Giác La thị (西林觉罗氏), con gái của Nam tước Ninh Nhĩ Nạp (宁尔纳)
  • Tây Lâm Giác La thị (西林觉罗氏), con gái của Tá Lĩnh Thái Nhĩ Khang (泰尔康)
  • Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏), em gái Đích phúc tấn của Đa Nhĩ Cổn và cũng là một người thiếp của ông. Tái giá sau khi Đa Nhĩ Cổn mất
  • Hoàng thị (黄氏), con của Hoàng Nghiệp Thẫm (朝鲜黄业沁), gốc Triều Tiên, tự thiêu mà chết
  • Đài Ti Nã (苔丝娜), không rõ gốc gác

Thứ thiếp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Qua Nhĩ Giai thị (瓜爾佳氏), con gái của Lạc Nhĩ Hách Nạp (乐尔赫纳)
  • Ngưu thị (牛氏), con gái của Chư Nhĩ Mật (诸尔密)
  • Na Lạp thị (那拉氏), con gái của Đặc Mục (特穆)
  • Y Nhĩ Căn Giác La thị (伊爾根覺羅氏), con gái của Hàng Tố (杭素)
  • Vương thị (王氏), con gái của Vương Minh (王明)

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Tề Chinh Ngạch (齐正额; 1635 - 1677), con của Y Nhĩ Căn Giác La thị, bị đuổi khỏi hoàng tộc, không con
  2. Cố Thái (固泰; 1639 - 1701), con của Hoàng thị, được phong Phụ quốc tướng quân, sau bị tước
  3. Ác Hách Nạp (握赫纳; 1640 - 1662), con của Hoàng thị, được phong Phụ quốc tướng quân, có một con trai
  4. Phú Thụ (富绶; 1644 - 1669), con của Kế thất Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị, thừa tước của Hào Cách, được phong Hiển Thân vương (顯親王) (1651), qua đời truy phong Hiển Khác Thân vương (顯愨親王)
  5. Mãnh Nga (猛峨; 1644 - 1674), con của Thạc Long Vũ thị, được phong Ôn Quận vương (溫郡王) (1657), qua đời truy phong Ôn Lương Quận vương (溫良郡王)
  6. Tinh Bảo (星保; 1644 - 1686), con của Ninh Cổ Tháp thị, được phong Nhất đẳng thị vệ
  7. Thư Thư (舒书; 1646 - 1685), con của Y Nhĩ Căn Giác La thị

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]