Hào Cách

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hào Cách
Thông tin chung
Tên đầy đủ Ái Tân Giác La Hào Cách
(愛新覺羅豪格)
Thụy hiệu Túc Vũ Thân vương (肅武親王)
Hoàng tộc Ái Tân Giác La
Thân phụ Hoàng Thái Cực
Thân mẫu Kế phi Ô Lạp Nạp Lạt thị
Sinh 16 tháng 4 năm 1609
Mất tháng 4 năm 1648

Hào Cách [豪格; 16 tháng 4 năm 1609 - tháng 4 năm 1648], là hoàng trưởng tử của Hoàng Thái Cực, mẹ là Kế phi Ô Lạp Nạp Lạt thị (继妃乌拉纳喇氏).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hào Cách tham gia vào nhiều cuộc chiến chống lại quân Mông Cổ, Hàn Quốc và quét sạch những tàn dư của triều đại nhà Minh. Năm 1636, được phong Túc Thân vương (肅親王).

Sau cái chết của Hoàng Thái Cực năm 1643, Hào Cách và Đa Nhĩ Cổn (em của Hoàng Thái Cực) xảy ra cuộc chiến giành ngôi báu. Lợi thế bấy giờ đang nghiêng về Hào Cách, bởi vì cả ba Bát kỳ do cha ông kiểm soát trước đây đã được trao lại cho Hào Cách.

Mặt khác, Đa Nhĩ Cổn lại được sự giúp sức của các huynh đệ của mình và của hai Bạch kỳ của mình. Đại Thiện và người con trai của mình thì quản Chính Hồng kỳ và Tương Hồng kỳ, và Tế Nhĩ Cáp Lãng quản Tương Lam kỳ. Điều này rất quan trọng cho việc lên ngôi của Hào Cách. Sau nhiều lần tranh cãi, Đại Thiện dần quý Hào Cách.

Hào Cách là một người thiếu quyết đoán, thế lực chỉ gồm 61 Niru, nhưng lại có được sự ủng hộ của các Đại bối lặc khác là Đại Thiện và Tế Nhĩ Cáp Lãng. Lực lượng của 3 người hợp lại có khoảng 145 Niru (khoảng 43.500 người). Cộng thêm ảnh hưởng do công lao của Hoàng Thái Cực quá lớn, Đa Nhĩ Cổn không thể thực hiện thành công ý định của mình. Ông đành chấp nhận giải pháp thỏa hiệp là phò lập con thứ 9 của Hoàng Thái Cực mới 6 tuổi là Phúc Lâm (顺治) lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Thuận Trị. Duệ Thân vương Đa Nhĩ CổnTrịnh Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng cùng phụ chính.

Mặc dù Thuận Trị nắm quyền, xích mích giữa Hào Cách và Đa Nhĩ Cổn vẫn không chấm dứt. Nhiều người tin rằng Đa Nhĩ Cổn đã sắp đặt cuộc chiến giành quyền lực với hoàng đế Thuận Trị khi Hoàng đế đã sang tuổi trưởng thành nhưng kế hoạch bị bại lộ bởi Đa Đạc, một người em khác của ông. Đa Nhĩ Cổn sau đó đã đổ tội cho Hào Cách và vị trưởng tử này bị tống giam. Ông chết trong tình trạng vẫn bị giam cầm.

Hào Cách được truy thụy Túc Vũ Thân vương (肅武親王) vào năm 1650, hai năm sau khi ông qua đời.

Gia thất[sửa | sửa mã nguồn]

Đích phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chính thất Cáp Đạt Na Lạp thị (哈達那拉氏), con gái của Ngô Nhĩ Cổ Đại (吳爾古代) với mẹ là Mãng Cổ Tế (莽古濟) (con gái của Nỗ Nhĩ Cáp Xích), bị giết bởi chính chồng mình do sự bất phục của mẹ bà với Hoàng Thái Cực.
  • Kế thất Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏), em họ của Hiếu Trang Văn Hoàng Hậu, kết hôn năm 1636 sau cái chết của chính thất

Trắc phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nạt Lạp thị (納喇氏), con gái của Hách Lễ Di Cát (赫礼台吉)
  • Thạc Long Vũ thị (碩隆武氏), con gái của Đức Nhĩ Hách Lễ Tha Bố Nang (德尔赫礼他布囊)
  • Cát Nhĩ Nhạc Đại thị (吉爾岳岱氏), con gái của Bố Mặc Hỗ Di Cát (布穆祜台吉)
  • Ninh Cổ Tháp thị (宁古塔氏), con gái của Tá lĩnh Tha Khắc Đồ (他克图)
  • Tây Lâm Giác La thị (西林觉罗氏), con gái của Nam tước Ninh Nhĩ Nạp (宁尔纳)
  • Tây Lâm Giác La thị (西林觉罗氏), con gái của Tá Lĩnh Thái Nhĩ Khang (泰尔康)
  • Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏), em gái Đích phúc tấn của Đa Nhĩ Cổn và cũng là một người thiếp của ông. Tái giá sau khi Đa Nhĩ Cổn mất
  • Hoàng thị (黄氏), con của Hoàng Nghiệp Thẫm (朝鲜黄业沁), gốc Triều Tiên, tự thiêu mà chết
  • Đài Ti Nã (苔丝娜), không rõ gốc gác

Thứ thiếp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Qua Nhĩ Giai thị (瓜爾佳氏), con gái của Lạc Nhĩ Hách Nạp (乐尔赫纳)
  • Ngưu thị (牛氏), con gái của Chư Nhĩ Mật (诸尔密)
  • Na Lạp thị (那拉氏), con gái của Đặc Mục (特穆)
  • Y Nhĩ Căn Giác La thị (伊爾根覺羅氏), con gái của Hàng Tố (杭素)
  • Vương thị (王氏), con gái của Vương Minh (王明)

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Tề Chinh Ngạch (齐正额; 1635 - 1677), con của Y Nhĩ Căn Giác La thị, bị đuổi khỏi hoàng tộc, không con
  2. Cố Thái (固泰; 1639 - 1701), con của Hoàng thị, được phong Phụ quốc tướng quân, sau bị tước
  3. Ác Hách Nạp (握赫纳; 1640 - 1662), con của Hoàng thị, được phong Phụ quốc tướng quân, có một con trai
  4. Phú Thụ (富绶; 1644 - 1669), con của Kế thất Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị, thừa tước của Hào Cách, được phong Hiển Thân vương (顯親王) (1651), qua đời truy phong Hiển Khác Thân vương (顯愨親王)
  5. Mãnh Nga (猛峨; 1644 - 1674), con của Thạc Long Vũ thị, được phong Ôn Quận vương (溫郡王) (1657), qua đời truy phong Ôn Lương Quận vương (溫良郡王)
  6. Tinh Bảo (星保; 1644 - 1686), con của Ninh Cổ Tháp thị, được phong Nhất đẳng thị vệ
  7. Thư Thư (舒书; 1646 - 1685), con của Y Nhĩ Căn Giác La thị

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]