Đại Thiện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đại Thiện
Hòa Thạc Lễ Thân vương
Daisan.jpg
Chân dung Đại Thiện của một họa sĩ vô danh thời nhà Thanh
Thông tin chung
Phối ngẫuNguyên phối:
Lý Giai thị
Kế thất:
Diệp Hách Ná Lạp thị
Diệp Hách Ná Lạp thị
Trắc thất:
Cáp Đạt Ná Lạp thị
Bác Nhĩ Tể Cát Đặc thị
Thái Tùng Công chúa
Thiếp:
Phú Sát thị
Hậu duệNhạc Thác
Thạc Thác
Tát Cáp Lân
Ngõa Khắc Đạt
Ba Lạt Mã
Mã Chiêm
Mãn Đạt Hải
Hỗ Tắc
Tên đầy đủÁi Tân Giác La Đại Thiện
(愛新覺羅 代善)
Thụy hiệuLễ Liệt Thân vương
(禮烈親王)
Thân phụNỗ Nhĩ Cáp Xích
Thân mẫuĐông Giai thị
Sinh(1583-08-19)19 tháng 8 năm 1583
Mất25 tháng 11 năm 1648(1648-11-25) (65 tuổi)
Bắc Kinh, Trung Quốc

Đại Thiện (chữ Mãn: Daišan1.png, phiên âm: Daišan; tiếng Trung: 代善; bính âm: Dàishàn; 19 tháng 8 năm 1583 - 25 tháng 11 năm 1648) là một Hoàng thân Mãn Châu và Chính trị gia có ảnh hưởng của nhà Thanh trong thời gian khai quốc.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Thiện là thành viên của gia tộc Ái Tân Giác La, ông là con trai thứ hai của Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích, tức người lập nên Hậu Kim (sau đổi quốc hiệu thành Thanh). Mẹ của ông là Cáp Cáp Nạp Trác Thanh (Hahana-jacing), thuộc Đông Giai thị (Tunggiya), là Đại Phúc tấn (vợ cả) của Nỗ Nhĩ Cáp Xích.(佟佳氏). Ông là anh trai cùng cha khác mẹ của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Nỗ Nhĩ Cáp Xích[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các chiến dịch của cha mình chống lại các bộ lạc Ô LạpBối lặc của bộ lạc này là Bố Chiếm Thái năm 1607, Đại Thiện đã có đóng góp nổi bật trân chiến trường với việc giúp đỡ Thư Nhĩ Cáp TềTrử Anh. Do những công lao của ông, ông được ban danh hiệu "Cổ Anh Ba Đồ Lỗ" (tiếng Trung: 古英巴圖魯).

Năm 1613, Đại Thiện một lần nữa lại thể hiện được mình trên chiến trận trong chiến dịch chống lại bộ lạc Ô Lạp của cha.

Năm 1616, khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích xưng làm Đại hãn và lập nên nước Đại Kim, Đại Thiện trở thành một trong bốn "Hòa thạc Bối lặc", xưng là "Đại Bối lặc", là kỳ chủ của Chính Hồng kỳ trong hệ thống Bát kỳ. Ba người còn lại trong Tứ đại Bối lặc là A Mẫn, Mãng Cổ Nhĩ TháiHoàng Thái Cực.

Từ năm 1618, khi bắt đầu các chiến dịch chống lại nhà Minh sau khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích tuyên bố Thất đại hận, cho đến năm 1622, Đại Thiện là một tướng lĩnh quân sự hàng đầu và năm giữ Chính Hống kỳ của Bát kỳ, đóng vai trò quan trọng trong cuộc bao vây Phủ Thuận vào năm 1618, trong chiến thắng Tát Nhĩ Hử năm 1619, và chiếm Thẩm Dương năm 1621. Bắt đầu từ năm 1621, Đại Thiện và ba vị Đại Bối lặc khác luân phiên hàng tháng giúp đỡ Nỗ Nhĩ Cáp Xích trong các công việc điều hành nhà nước của Đại Kim.

Trử Anh là con trai trưởng và ban đầu dược Nỗ Nhĩ Cáp Xích lập ngôi vị Quảng Lược Thái tử, xác nhận là người kế vị. Tuy nhiên, do tính tình kiêu ngạo, coi khinh người khác cho nên Trử Anh không được lòng nhiều vị đại thần. Năm 1615, Trử Anh bị năm vị đại thần khai quốc cùng với một số người em vốn có mối bất hòa với Trử Anh, tập trung công kích[1]. Cuối cùng, ông ta bị tố cáo, tống giam và chết trong ngục vào năm 1618. Sau khi thu lại binh quyền của Trử Anh, Nỗ Nhĩ Cáp Xích phân Hồng kỳ làm hai và giao cho Đại Thiện và con trai ông ta quản lý. Đại Thiện tuy thay anh trai mình giữ ngôi vị Đại Bối lặc, trực tiếp khống chế 2 bộ Hồng kỳ, nhưng vẫn không được Nỗ Nhĩ Cáp Xích lập làm người thừa kế mà chỉ được xem là một Hòa thạc Bối lặc như các vị Hòa thạc khác.

Thời Hoàng Thái Cực[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích mất sau trận Ninh Viễn năm 1626, Đại Thiện đã sử dụng ảnh hưởng của mình để khiến cho các Hoàng tử và tướng lĩnh đi đến một thỏa thuận về việc Hoàng Thái Cực lên ngôi kế vị. Sau khi lên ngôi Hãn, Hoàng Thái Cực thực hiện thỏa hiệp với Đại Thiện. Trước tiên ông thề ước với tất cả các vị Bối lặc, sau đó ba vị Đại Bối lặc dẫn đầu là Đại Thiện cùng tuyên thệ với các vị Bối lặc. Mỗi khi lên triều, khánh lễ hay tiếp kiến quần thần, ông cùng ba vị Đại Bối lặc cùng ngồi vị trí ngang hàng, cùng hướng mặt phía Nam, nhận lễ của các bồi thần, nghiễm nhiên như là Tứ Hãn, đồng thời ông cũng miễn lễ quân thần cho họ, coi như anh em tương kiến.

Cuối năm 1631, Hoàng Thái Cực tổ chức hội nghị các Bối lặc họp bàn để định việc sắp xếp thứ tự khi chầu triều, nhân đó, Hán thần của Hoàng Thái Cực là Tham chính Lý Bá Long nêu vấn đề có nên có việc Đại Bối lặc ngồi ngang hàng với Đại Hãn hay không. Hiểu được là Đại Hãn muốn thăm dò phản ứng của mình, Đại Thiện ý thức được tình thế bấy giờ khi Hoàng Thái Cực đã hoàn toàn khống chế được 6 Kỳ. Ông ta buộc phải chấp nhận từ bỏ chế độ Ba vị Đại bối lặc cùng ngồi ngang hàng nghị bàn việc triều chính với Đại Hãn. Từ đây, ngôi vị tối cao của Hoàng Thái Cực đã được xác lập.

Tuy nhiên, về thực lực, Đại Thiện vẫn còn nhiều ảnh hưởng trong Bát Kỳ, vẫn nắm quyền khống chế 2 Hồng kỳ, uy tín vẫn phần nào lấn át Đại hãn. Tháng 9 năm 1635, nhân một lỗi nhỏ của Đại Thiện, Hoàng Thái Cực đã họp các Kỳ chủ Bát kỳ và quan lại sáu bộ để định tội Đại Thiện. Ông ta bị tước bỏ ngôi vị Đại Bối lặc, bị thu lại quyền kiểm soát 2 Hồng kỳ. Tuy không mất mạng, nhưng qua sự kiện này, thế lực của Đại Thiện không còn cách nào phục hồi được nữa. Đối thủ lớn cuối cùng của Hoàng Thái Cực đã bị triệt tiêu.

Giữa các năm 1629 và 1634, Đại Thiện tham gia hầu hết các chiến dịch của Hoàng Thái Cực chống lại nhà Minh. Năm 1636, Hoàng Thái Cực lên ngôi Hoàng đế và cải quốc hiệu Đại Kim thành "Thanh". Đại Thiện được phong tước hiệu "Hòa Thạc Lễ Thân vương" (和碩禮親王) và "huynh" (兄).

Thời Thuận Trị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1643, Hoàng Thái Cực mất trong khi chưa chọn ra người kế vị. Ban đầu Đại Thiện chọn con trai trưởng của Hoàng Thái Cực là Hào Cách làm người kế vị, nhưng Hào Cách đã từ chối. A Tế CáchĐa Đạc muốn Đa Nhĩ Cổn lên ngôi, song Đa Nhĩ Cổn cũng từ chối vì cho rằng đây là hành động không trung thành với Hoàng Thái Cực, người đã đề bạt ông. Vấn đề cuối cùng đã được giải quyết khi nhiều khi các vị tướng từng theo Hoàng Thái Cực chinh chiến tuyến bố rằng họ muốn một người con trai của Hoàng Thái Cực lên ngôi. Do vậy, người con trai thứ 9 của Hoàng Thái Cực là Phúc Lâm (Hoàng đế Thuận Trị tương lai), khi ấy mới sáu tuổi, đã lên ngôi Hoàng đế, Đa Nhĩ Cổn và Tế Nhĩ Cáp Lãng cùng làm Nhiếp chính vương. Tuy vậy, ngay cả sau khi toàn thể triều Thanh đã thề trung thành trong lễ đăng cơ thì vẫn có một số người âm mưu đưa Đa Nhĩ Cổn lên thay thế Phúc Lâm. Đại Thiện giải quyết tranh chấp bằng cách trợ giúp Phúc Lâm và vạch trần những kẻ chủ mưu, trong đó có cả con trai ông là Thạc Thác và cháu nội A Đạt Lễ (con trai cả của Tát Cáp Lân). Đại Thiện đã cho hành quyết cả hai người này.

Qua đời và di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các sử sách, dường như Đại Thiện chưa từng cố gắng để giành lấy quyền lực về mình, thay vào đó, ông làm những việc vì lợi ích của gia tộc Ái Tân Giác La. Năm 1643, ông lãnh đạo một hội đồng bao gồm các Hoàng thân bổ nhiệm Tế Nhĩ Cáp Lãng và Đa Nhĩ Cổn làm đồng Nhiếp chính vương của Hoàng đế Thuận Trị. Năm 1644 ông theo Đa Nhĩ Cổn tới Bắc Kinh và mất bốn năm sau đó tại đây.

Tại thời điểm qua đời, ông không được ban một danh hiệu đặc biệt nào, ngoại trừ việc gia đình ông được trao 10.000 lượng thay vì 5.000 như thông thường để tổ chức tang lễ và dựng nơi tưởng nhớ ông. Các Hoàng đế sau đó của nhà Thanh đã công nhận và đánh giá cao các đóng góp mà ông đã làm cho triều đại và Hoàng tộc. Hoàng đế Khang Hi đã ban cho Đại Thiện thụy hiệu "Liệt" (烈) năm 1671. Năm 1778, Hoàng đế Càn Long đã vinh danh ông cùng với Tế Nhĩ Cáp Lãng, Đa Nhĩ Cổn, Hào Cách, và Nhạc Thác với những công lao lẫy lừng của họ trong thời gian đầu của triều đại và lệnh đưa tên họ vào Thái Miếu.

Cùng thời gian đó tước hiệu của năm người này, cùng với Đa Đồ, Thư Nhĩ Cáp Tề và Lặc Khắc Đức Hồn (勒克德渾) sẽ do tử tôn kế thừa vĩnh viễn. Tước hiệu của Đại Thiện sau khi ông mất đã thay đổi hai lần dưới thời con trai Mãn Đạt Hải và cháu nội Kiệt Thư, về sau lại phục hồi là Lễ, và những người thừa kế được xếp vào hàng cao hơn trong các lễ kỉ niệm của triều đình so với bất kỳ Hoàng thân nào khác.

Người con trai cả của ông là Nhạc Thác, được ban tước hiệu "Khắc Cần Quận vương" (克勤郡王) và người con trai thứ ba, Tát Cáp Lân được phong tước "Dĩnh Thân vương" (穎親王). Con trai của Tát Cáp Lân là Lặc Khắc Đức Hồn được phong là "Thuận Thừa Quận vương" (順承郡王) vào năm 1648. Người con trai thứ tư của Đại Thiện, Ngõa Khắc Đạt, là "Khiêm Quận vương" (謙郡王). Ngõa Khắc Đạt được ban thụy hiệu là Tương (襄), song không có quyền kế tục vĩnh viễn.

Gia tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Phả hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Phi tần[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyên phối:
    • Lý Giai thị (李佳氏), con gái của Đạt Trữ Hỗ Ba Yến (達褚祜巴晏). Bà là mẹ đẻ của Nhạc Thác và Thạc Thác.
  • Kế thất:
    • Diệp Hách Ná Lạp thị (葉赫納喇氏), mẹ đẻ của Tát Cáp Lân, Ngõa Khắc Đạt và Ba Lạt Mã.
    • Diệp Hách Ná Lạp thị (葉赫納喇氏), mẹ đẻ của Mãn Đạt Hải và Hỗ Tắc.
  • Trắc thất:
    • Cáp Đạt Ná lạp thị (哈達納喇氏), mẹ đẻ của Mã Chiêm.
    • Bác Nhĩ Tể Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏).
    • Thái Tùng Công chúa (泰松公主).
  • Thiếp:
    • Phú Sát thị (富察氏).

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Yoto (岳託, Nhạc Thác; mất 1638), được phong là "Khắc Cần Quận vương" (克勤郡王), là một trong 12 Thiết mạo tử vương của nhà Thanh; kết hôn với con gái thứ hai của Cáp Đạt Ná Lạp Ngô Nhĩ Cổ Đại (哈達部納喇.吳爾古代) và Mãng Cổ Tế, Cáp Đạt Cách cách (con gái thứ ba của Nỗ Nhĩ Cáp Xích).
  • Šoto (碩託, Thạc Thác), được ban tước hiệu Bối lặc (貝勒).
  • Sahaliyen (薩哈璘, Tát Cáp Lân; 1604–1636), được ban tước hiệu "Dĩnh Thân vương" (穎親王), được ban thụy "Nghị" (毅).
  • Wakda (瓦克達, Ngõa Khắc Đạt), được ban tước hiệu "Khiêm Quận vương" (謙郡王), được ban thụy "Tương" (襄).
  • Balama (巴喇瑪, Ba Lạt Mã)
  • Majan (瑪佔, Mã Chiêm), được ban tước hiệu "Phụng ân Phụ Quốc công" (奉恩輔國公).
  • Mandahai (滿達海, Mãn Đạt Hải) (1622–1652), ban đầu được ban một tước hiệu Bối lặc (貝勒), về sau được thế tập tước vị của Đại Thiện và được đổi thành "Tốn Thân vương" (巽親王), được ban thụy "Giản" (簡).
  • Huse (祜塞, Hỗ Tắc), được ban tước hiệu "Huệ Thân vương" (惠親王), được ban thụy "Thuận" (順).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhánh Nhạc Thác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con trai cả: Nhạc Thác, kế hôn với Cáp Đạt Ná Lạp thị (哈達那拉氏).
    • Con trai cả: Nhạc Lạc Hoan (岳洛歡).
    • Con trai thứ hai: La Lạc Hồn (羅洛渾; 1616–1646), được ban tước hiệu "Diễn Hi Quận vương" (衍僖郡王) vào năm 1639, được ban thụy "Giới" (介).
      • Con trai: La Khoa Đạc (羅科鐸; 1640–1682), được ban tước hiệu "Bình Quận vương" (平郡王) vào năm 1648, được ban thụy "Bỉ" (比).
        • 1. Con trai cả: Nột Nhĩ Đồ (訥爾圖; 1665–1687), trở thành "Bình Quận vương" vào năm 1683, sau bị tước.
          • Con trai: Nột Thanh Ngạch (訥清額; 1692–1765), sau khi mất được ban tước hiệu "Khắc Cần Quận vương" (克勤郡王).
            • Con trai: Nhã Lãng A (雅朗阿; 1733–1794), trở thành "Khắc Cần Quận vương" vào năm 1780, được ban thụy "Trang" (莊).
              • Con trai cả: Hằng Cẩn (恆謹; d. 1799), trở thành "Khắc Cần Quận vương" vào năm 1795, về sau bị tước.
              • Con trai thứ hai: Hằng Nguyên (恆元; 1750–1789), sau khi mất được ban tước hiệu "Khắc Cần Quận vương".
                • Con trai: Thượng Cách (尚格; 1770–1833), trở thành "Khắc Cần Quận vương" vào năm 1799, được ban thụy "Giản" (簡).
                  • Con trai: Thừa Thạc (承碩; 1802–1839), trở thành "Khắc Cần Quận vương" vào năm 1833, được ban thụy "Khác" (恪).
                    • Con trai: Khánh Huệ (慶惠; 1819–1861), trở thành "Khắc Cần Quận vương" vào năm 1842, được ban thụy "Kính" (敏).
                      • Con trai: Tấn Kỳ (晉祺; 1840–1900), trở thành "Khắc Cần Quận vương" vào năm 1861, được ban thụy "Thành" (誠)
                        • Con trai: Tung Kiệt (崧傑; 1879–1910), trở thành "Khắc Cần Quận vương" vào năm 1900, được ban thụy "Thuận" (順).
                          • Con trai: Yến Sâm (晏森; sinh 1896), trở thành "Khắc Cần Quận vương" vào năm 1910.
                            • Con trai: Bân Nguyên (彬沅; sinh 1918).
        • 2. Con trai thứ hai: Nột Nhĩ Phúc (訥爾福; 1671–1701), trở thành "Bình Quận vương" (平郡王) vào năm 1687, được ban thụy "Điệu" (悼).
          • Con trai: Nột Nhĩ Tô (訥爾蘇; 1690–1740), trở thành "Bình Quận vương" vào năm 1701, bị tước năm 1726.
            • Con trai cả: Phúc Bành (福彭; 1708–1748), trở thành "Bình Quận vương" vào năm 1726, được ban thụy "Mẫn" (敏).
              • Con trai: Khánh Minh (慶明; 1732–1750), trở thành "Bình Quận vương" vào năm 1749, được ban thụy "Hi" (僖).
            • Con trai thứ hai: Phúc Tú (福秀; 1710–1740), được ban tước hiệu Bối tử (貝子).
              • Con trai: Khánh Hằng (慶恆; 1733–1779), được bác là Phúc Bành nhận nuôi, trở thành "Khắc Cần Quận vương" (克勤郡王) vào năm 1750 sau cái chết của anh họ, được ban thụy "Lương" (良).
  • Con trai thứ ba: Khách Nhĩ Sở Ngộn (喀爾楚諢), được ban tước hiệu "Đa La Hiển Vinh Bối lặc" (多羅顯榮貝勒).
  • Con trai thứ tư: Ba Nhĩ Sở Ngộn (巴爾楚諢), được ban tước hiệu "Đa La Hòa Huệ Bối lặc" (多羅和惠貝勒).
  • Con trai thứ năm: Ba Tư Cáp (巴思哈), được ban tước hiệu "Trấn quốc Tướng quân" (鎮國將軍).
  • Con trai thứ sáu: Hỗ Lý Bố (祜里布), được ban tước hiệu "Đa La Cương Nghị Bối lặc" (多羅剛毅貝勒).
  • Con trai thứ bảy: Phú Anh Vũ (富英武).

Nhánh Thạc Thác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con trai thứ hai: Thạc Thác, là một Bối lặc (貝勒).
    • Con trai cả: Lạt Khách (喇喀).
    • Con trai thứ hai: Tề Lan Bố (齊蘭布).
    • Con trai thứ ba: Nhạc Tái Bố (岳賽布).

Nhánh Tát Cáp Lân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con trai thứ ba: Tát Cáp Lân, được ban tước hiệu "Dĩnh Thân vương" (穎親王). Sau khi qua đời được ban thụy "Nghị" (毅).
    • Con trai cả: A Đạt Lễ (阿達禮).
    • Con trai thứ hai: Lặc Khắc Đức Hồn (勒克德渾; 1619 - tháng 4/đầu tháng 5 năm 1652), được làm "Bối lặc" vào năm 1644, trở thành "Thuận Thừa Quận vương" (順承郡王) vào năm 1648, được ban thụy "Cung Huệ" (恭惠), là một trong 12 Thiết mạo tử vương của nhà Thanh.
    • Con trai thứ ba: Đỗ Lan (杜蘭).

Nhánh Ngõa Khắc Đạt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con trai thứ tư: Ngõa Khắc Đạt, được ban tước hiệu "Khiêm Quận vương" (謙郡王). Sau khi qua đời được ban thụy "Tương" (襄).
    • Con trai cả: Ba Khắc Đạt (巴克達).
    • Con trai thứ hai: Lưu Ung (留雍).
    • Con trai thứ ba: Cát Nhĩ Tái (噶爾塞).

Nhánh Ba Lạt Mã[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con trai thứ năm: Ba Lạt Mã (巴喇瑪).

Nhánh Mã Chiêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con trai thứ sáu: Mã Chiêm, được ban tước hiệu "Phụng ân Phụ Quốc công".

Nhánh Mãn Đạt Hải[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con trai thứ bảy: Mãn Đạt Hải, được ban tước hiệu "Tốn Thân vương" (巽親王). Sau khi qua đời được ban thụy "Giản" (簡).
    • Con trai cả: Thường A Đại (常阿岱), được ban tước hiệu "Đa La Hoài Hàm Bối lặc" (多羅懷憨貝勒).
    • Con trai thứ hai: Lăng Tắc Nghi (楞塞宜).

Nhánh Hỗ Tắc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con trai thứ tám: Hỗ Tắc, được ban tước hiệu "Huệ Thân vương" (惠親王). Sau khi qua đời được ban thụy "Thuận" (順).
    • Con trai cả: A Lâm (阿林).
    • Con trai thứ hai: Tinh Tế (精濟), được ban tước hiệu "Đa La Hoài Hàm Quận vương" (多羅懷憨郡王).
    • Con trai thứ ba: Kiệt Thư (杰書; mất 1697), được ban tước hiệu "Hòa Thạc Khang Thân vương" (和碩康親王). Sau khi qua đời được ban thụy "Lương" (良).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Quang Thiệu - Quang Ninh, sđd, trang 186-187
  2. ^ a ă 阿古都督世系的《永陵喜塔腊氏谱书》.满族文化网,2008-1-24