Chử Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Trử Anh)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chử Anh
Quảng Lược Bối lặc
Bối lặc
Tại vị? - 1615
Tiền nhiệmTước vị thành lập
Thông tin chung
ConsortsQuách Lạc La thị
Diệp Hách Na Lạp thị
Hậu duệĐỗ Độ
Quốc Hoan
Ni Kham
Tên đầy đủ
Ái Tân Giác La Chử Anh
(愛新覺羅 褚英)
Thụy hiệu
Quảng Lược Bối lặc
(廣略貝勒)
Hoàng tộcÁi Tân Giác La
Thân phụNỗ Nhĩ Cáp Xích
Thân mẫuCáp Cáp Nạp Trác Thanh
SinhBản mẫu:Birth year
Mất14 tháng 10 năm 1615(1615-10-14) (34–35 tuổi)

Chử Anh ( tiếng Mãn: ᠴᡠᠶᡝᠨ, Möllendorff: cuyen, Abkai: quyen, tiếng Trung: 褚英; bính âm: Chǔyīng; 15801618), hay Cuyen, là một trong những thủ lĩnh Mãn Châu đóng vai trò quan trọng trong việc kiến lập quốc gia Hậu Kim.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là con trai cả của Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích, người sáng lập nhà Hậu Kim. Mẹ ông tên là Cáp Cáp Nạp Trác Thanh (Hahana-jacing), thuộc Đông Giai thị (Tunggiya), là Đại Phúc tấn (vợ cả) của Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc mới khởi nghiệp, Chử Anh vừa là con trai trưởng, từng theo cha lập nhiều võ công hiển hách cho nhà Hậu Kim, từng được Nỗ Nhĩ Cáp Xích phong hiệu "A Nhĩ Cáp Đồ Thổ Môn", trong tiếng Mãn có nghĩa là "người nhiều tài mưu lược", theo chữ Hán là Quảng Lược (廣略), được vua cha lập ngôi vị Quảng Lược Thái tử, xác nhận là người kế vị. Tuy nhiên, do tính tình kiêu ngạo, coi khinh người khác cho nên Chử Anh không được lòng nhiều vị đại thần. Năm 1615, Chử Anh bị năm vị đại thần khai quốc là Phí Anh Đông, Ngạch Diệc Đô, Hà Hòa Lý, An Phí Dương CổHô Nhĩ Hán cùng với một số người em vốn có mối bất hòa với Chử Anh, tập trung công kích[1]. Do đó, Chử Anh dần không còn được sự tín nhiệm của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, bị vua cha tước bỏ binh quyền, nảy sinh ra bất mãn, nhiều lần tỏ ý oán trách vua cha cùng với những kẻ đã dèm pha mình. Cuối cùng, ông ta bị tố cáo, tống giam và chết trong ngục vào năm 1618[2]. Mẹ ông vì chuyện này mà bị tước mất vị Chính thất.

Sau khi Thanh Thái Tông kế vị, đã cải phong ông là Quảng Lược Bối lặc (廣略貝勒).

Gia tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Đích Phu nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyên phối: Quách Lạc La thị (郭絡羅氏), con gái của Thường Thư (常舒).
  • Kế thất: Diệp Hách Na Lạp thị (叶赫納喇氏), con gái của Thanh Giai Nỗ (清佳努).

Thứ thiếp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phú Sát thị (富察氏), con gái của Ngạch Nhĩ Cát Đồ (額爾吉圖).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

Chử Anh có ba con trai, trong đó có hai người được phong tước vị.

  1. An Bình Bối lặc Đỗ Độ (杜度; 1597 - 1642), mẹ là Đích Phu nhân Quách Lạc La thị. Có bảy con trai.
  2. Quốc Hoan (國歡; 1598 - 1624), mẹ là Đích Phu nhân Quách Lạc La thị. Vô tự.
  3. Kính Cẩn Trang Thân vương Ni Kham (尼堪; 1610 - 1652), mẹ là Kế Phu nhân Diệp Hách Na Lạp thị. Có hai con trai.
    • Trưởng tử: Dĩ Cách Kính Cẩn Thân vương Lan Bố (蘭布).
    • Thứ tử: Kính Cẩn Điệu Thân vương Ni Tư Cáp (尼思哈).

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Ái Tân Giác La thị (1601 - 1662), mẹ là Kế Phu nhân Diệp Hách Na Lạp thị. Năm 1614 được gả cho Phí Anh Đông.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Quang Thiệu - Quang Ninh, sđd, trang 186-187
  2. ^ Khi Hoàng Thái Cực lên ngôi Đại hãn, đã truy phong Chử Anh là Quảng Lược Bối lặc.
  3. ^ a ă 阿古都督世系的《永陵喜塔腊氏谱书》.满族文化网,2008-1-24

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]