Hiếu Đoan Văn Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Hiếu Đoan Văn hoàng hậu
孝端文皇后
Sùng Đức Đế Hoàng hậu
Hoàng hậu Đại Thanh
Tại vị 1636 - 1643
Tiền nhiệm Hoàng hậu đầu tiên
Kế nhiệm Phế hậu Tĩnh phi
Hoàng thái hậu Đại Thanh
Tại vị 1643 - 1649
Tiền nhiệm Hoàng thái hậu đầu tiên
Kế nhiệm Chiêu Thánh Hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Thái Tông
Hoàng Thái Cực
Hậu duệ Cố Luân Ôn Trang Trưởng công chúa
Cố Luân Tĩnh Đoan Trưởng công chúa
Cố Luân Vĩnh An Trưởng công chúa
Tên đầy đủ Bát Nhĩ Tế Cát Đặc Triết Triết
(博爾濟吉特哲哲)
Tước hiệu [Trung cung Đại Phúc tấn; 中宫大福晋]
[Thanh Ninh cung Hoàng hậu; 清寧宮皇后]
[Hoàng thái hậu; 皇太后]
Thụy hiệu Hiếu Đoan Chính Kính Nhân Ý Triết Thuận Từ Hi Trang Mẫn Phụ Thiên Hiệp Thánh Văn hoàng hậu
(孝端正敬仁懿哲順慈僖庄敏輔天協聖文皇后)
Thân phụ Mãng Cổ Tư
Thân mẫu Kha Nhĩ Thấm đại phi
Sinh 13 tháng 5, 1600(1600-05-13)
Mất 27 tháng 5, 1649 (49 tuổi)
An táng Chiêu lăng (昭陵)

Hiếu Đoan Văn hoàng hậu (chữ Hán: 孝端文皇后; tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᡩᠣᡵᠣᠩᡤᠣ
ᡤᡝᠩᡤᡳᠶᡝᠨ
ᡧᡠ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
tiếng Mãn Châu:hiyoošungga doronggo genggiyen šu hūwangheo,thái thanh:hiyouxungga doronggo genggiyen xu hvwangheu; 13 tháng 5 năm 160017 tháng 5 năm 1649), là Hoàng hậu chính thức khi tại vị của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực. Tuy ở vị trí chính thất nhưng bà chỉ hạ sinh 3 công chúa mà không có người con trai kế vị nào cho Hoàng Thái Cực.

Bà là cô ruột của 2 cung tần khác của Thanh Thái Tông là Mẫn Huệ Cung Hoà Nguyên phiHiếu Trang Văn hoàng hậu, người sinh ra Thuận Trị Đế.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu có tên thật là Bát Nhĩ Tế Cát Đặc Triết Triết (博爾濟吉特哲哲), sinh ngày 19 tháng 4 (âm lịch) năm thứ 27 niên hiệu Vạn Lịch triều Minh (1599), xuất thân quý tộc Khoa Nhĩ Thấm của Mông Cổ, dòng dõi Thành Cát Tư Hãn. Cha của bà là bối lặc Mãng Cổ Tư (莽古思), truy phong làm Hòa Thạc Phúc Thân vương (和硕福亲王), mẹ làm Hòa Thạc Phúc phi (和硕福妃). Khi thời kì Hậu Kim, các Đại hãn Ái Tân Giác La thị rất coi trọng liên hôn với Mông Cổ, do đó địa vị các Phúc tấn người Mông Cổ rất được coi trọng, và liên hôn luôn được đề bạt trước tiên.

Năm Vạn Lịch thứ 42 (1614), Triết Triết kết hôn với Hoàng Thái Cực, Đại hãn của Đại Kim, trở thành Đại phúc tấn, chánh thất của Đại hãn. Hoàng Thái Cực khi đó phái thân quân từ Hách Đồ A Lạp thành (赫图阿拉城; nay thuộc tỉnh Liêu Ninh) xuất phát, hơn trăm dặm đến Hỗ Nhỹ Kỳ Sơn thành (扈尔奇山城) thuộc Huy Phát, tiến hành lễ đón dâu cùng lễ thành hôn long trọng. Năm đó Triết Triết 16 tuổi, còn Hoàng Thái Cực 22 tuổi.

Trong nhiều năm bà lần lượt sinh 3 công chúa mà không sinh được con trai nối dõi có dòng máu Ái Tân Giác LaBác Nhĩ Tề Cát Đặc. Điều này khiến anh trai Triết Triết là Trại Tang (寨桑), Bối lặc của Khoa Nhĩ Thấm vào năm Thiên Mệnh thứ 10 (1625) đề xuất Hoàng Thái Cực cho hai người con gái là Bố Mộc Bố Thái nhập cung làm Trắc Phúc tấn.

Năm Thiên Mệnh thứ 11 (1626), Hoàng Thái Cực kế thừa Hãn vị, Triết Triết trở thành Đại Phúc tấn (大福晋). Danh vị Đại Phúc tấn, là người vợ cả nhất và cũng là người có tư cách nhất quản lý mọi sự vụ trong nội đình, bao gồm cả quản lý các thứ thiếp của Hãn là Trắc Phúc tấn cùng Thứ Phúc tấn. Triết Triết đã có sự coi trọng như vậy, đạt được địa vị Đại Phúc tấn tôn quý, chủ yếu vẫn là do xuất thân từ Mông Cổ đại lĩnh chủ thế gia, là do sự coi trọng liên hôn mật thiết với Mông Cổ của nhà Thanh thời kì đầu.

Đại Thanh quốc mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thiên Thông thứ 6 (1632), Hoàng Thái Cực bắt đầu sử dụng các nguyên lý Trung hoa, hủy bỏ Tứ Đại bối lặc đồng tòa, bắt đầu Nam diện độc tọa, do đó địa vị Hậu cung của các Phúc tấn cũng được thay đổi. Triết Triết được phong làm Hậu Kim quốc quân Phúc tấn (后金国君福晋), còn gọi [Trung cung Đại Phúc tấn; 中宫大福晋].

Năm Sùng Đức nguyên niên (1636), Hoàng Thái Cực xưng Hoàng đế, chính thức lập ra nhà Thanh. Án theo chế độ Trung nguyên, Trung cung Đại phúc tấn Triết Triết được phong Chính cung Hoàng hậu, cư ngụ Thanh Ninh cung (清寧宮). Hai người cháu gái gọi bà là cô, gồm Hải Lan Châu được phong [Quan Thư cung Thần phi], và Bố Mộc Bố Thái được phong [Vĩnh Phúc cung Trang phi].

Tại sách phong đại điển, Hoàng Thái Cực thụ cho bà những vật tượng trưng cho địa vị cấp bậc, gồm: sách văn, kim ấn, cùng với nghi thức loan giá. Sách văn năm đó như sau:

Năm Sùng Đức thứ 2 (1637), mẹ của Triết Triết là Khoa Nhĩ Thẩm đại phi đến triều, Hoàng Thái Cực cho bày yến đại tiệc thiết đãi. Sau đó, Hoàng Thái Cực liền đối với Khoa Nhĩ Thấm tiến hành phong tặng, truy phong Bối lặc Mãng Cổ Tư làm Hòa Thạc Phúc Thân vương, Đại phi do đó trở thành Hòa Thạc Phúc phi. Hoàng Thái Cực còn sai người đến Khoa Nhĩ Thấm tiến hành lễ ban đặc ấn, cũng thiết trí cho lập bia thờ.

Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thuận Trị nguyên niên (1643), Thanh Thái Tông băng hà. Hoàng cửu tử Phúc Lâm, hoàng tử của cháu gái bà là Vĩnh Phúc cung Trang phi lên kế vị, tức Thuận Trị Đế. Chính cung Hoàng hậu Triết Triết của Tiên đế trở thành Mẫu hậu Hoàng thái hậu, Trang phi là mẹ của Thuận Trị Đế chỉ xưng gọi Thánh Mẫu (聖母), mà không phải Hoàng thái hậu, nói cách khác Triết Triết nương nương là Mẫu hậu Hoàng thái hậu duy nhất.

Năm Thuận Trị thứ 6 (1649), ngày 16 tháng 4 (tức ngày 27 tháng 5 dương lịch), Hoàng thái hậu giá băng ở tuổi 50. Sang năm sau (1650), Hoàng đế thân dâng tôn thụy hiệu rằng Hiếu Đoan Chính Kính Nhân Ý Trang Mẫn Phụ Thiên Hiệp Thánh Văn hoàng hậu (孝端正敬仁懿莊敏輔天協聖文皇后)[1]. Sách thụy viết:

Năm Thuận Trị thứ 7 (1650), tháng 2, kim quan của Hiếu Đoan Văn hoàng hậu được an táng tại Chiêu Lăng (昭陵) ở Thẩm Dương.

Về sau, các con cháu Ung ChínhCàn Long thêm tự vào thụy hiệu của bà đầy đủ là Hiếu Đoan Chính Kính Nhân Ý Triết Thuận Từ Hi Trang Mẫn Phụ Thiên Hiệp Thánh Văn hoàng hậu (孝端正敬仁懿哲順慈僖庄敏輔天協聖文皇后).

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Đoan Văn hoàng hậu hạ sinh 3 công chúa là:

  1. Cố Luân Ôn Trang Trưởng công chúa (固倫溫莊長公主, 1625 – 1663), tên là Mã Khách Tháp (馬喀塔). Năm 1635, thành thân với Ngạch Triết (Eje), con của Lâm Đan - hãn của Sát Kha Nhĩ bộ, Mông Cổ. Năm 1661, Ngạch Triết qua đời, Mã Khách Tháp tái giá với em chồng là A Bố Nại (Abunai).
  2. Cố Luân Tĩnh Đoan Trưởng công chúa (固倫靖端長公主, 1628 – 1686), năm 1639 thành thân với Kỳ Tháp Đặc (Jitate) thuộc Khoa Nhĩ Thấm bộ, Mông Cổ.
  3. Cố Luân Vĩnh An Trưởng công chúa (固倫永安長公主, 1634 – 1692), năm 1645 thành thân với vương tử Ba Nhã Tư Hộ Lãng, con của Tạ Đồ - hãn của Khoa Nhĩ Thấm bộ, Mông Cổ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 清实录顺治朝实录-卷之四十七: 顺治七年。庚寅。春正月。丁亥。上大行皇太后尊谥曰。孝端正敬仁懿庄敏辅天协圣文皇后其册文曰。孝子嗣皇帝稽首顿首上言壸闱著圣善之仪。凝禧未艾。典礼重徽懿之报。备物宜隆。聿示来兹。用光前美。恭惟皇妣大行皇后、安贞应地。敬顺承天。佐先皇致治之功。启冲子缵承之业。方竭诚于奉养。忽抱痛于升遐。爰考旧章。博咨公议。用申哀慕。式表尊崇。谨奉册宝上尊谥曰。孝端正敬仁懿庄敏辅天协圣文皇后荐显号于几筵。垂休有永昭鸿名于简册。锡祐无疆。谨言宝曰。孝端正敬仁懿庄敏辅天协圣文皇后宝。是日、以孝端文皇后梓宫将发引。和硕亲王以下梅勒章京侍郎以上、和硕福金以下、一品命妇以上、齐集几筵前致祭。
  • Hummel, Arthur William, ed. Eminent Chinese of the Ch'ing Period (1644–1912). 2 vols. Washington: United States Government Printing Office, 1943.
  • Daily life in the Forbidden City, Wan Yi, Wang Shuqing, Lu Yanzhen. ISBN 0-670-81164-5.
  • Draft history of the Qing dynasty. 《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.太宗孝端文皇后.