Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu
孝誠仁皇后
Khang Hi Đế Hoàng hậu
孝诚仁皇后.jpg
Hoàng hậu Đại Thanh
Tại vị 8 tháng 9, 1665
3 tháng 5, 1674
Đăng quang 8 tháng 9, 1665
Tiền nhiệm Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu
Kế nhiệm Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Thánh Tổ
Khang Hi Hoàng đế
Hậu duệ
Thụy hiệu Hiếu Thành Cung Túc Chánh Huệ An Hòa Thục Ý Khác Mẫn Lệ Thiên Tương Thánh Nhân Hoàng hậu
(孝誠恭肅正惠安和淑懿恪敏儷天襄聖仁皇后)
Thân phụ Cát Bố Lạt
Sinh (1653-11-26)26 tháng 11 năm 1653
Mất 16 tháng 6 năm 1674(1674-06-16) (20 tuổi)
Khôn Ninh cung, Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
An táng 17 tháng 2, 1681
Cảnh lăng (景陵), Thanh Đông lăng

Hiếu Thành Nhân hoàng hậu (chữ Hán: 孝誠仁皇后, tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᡠᠨᡝᠩᡤᡳ
ᡤᠣᠰᡳᠨ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
tiếng Mãn Châu:hiyoošungga unenggi gosin hūwangheo,thái thanh:hiyouxungga unenggi gosin hvwangheu; 26 tháng 11 năm 165316 tháng 6 năm 1674), còn được biết đến là Nhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后), là Hoàng hậu đầu tiên của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế, mẹ đẻ của Phế thái tử Dận Nhưng.

Suốt cuộc đời Khang Hi Đế, bà là vị Hoàng hậu khiến vị Hoàng đế dù có hậu cung đông đảo này không bao giờ quên được. Đến tận vài chục năm sau, sau khi Hoàng hậu qua đời, Khang Hi Đế vẫn vào ngày giỗ của bà, dành trọn một ngày ở bên mộ của bà, không làm gì khác dù có quốc sự quan trọng. Sự trân trọng bà còn thể hiện ở chỗ Khang Hi Đế nhất quyết lập con trai bà Dận Nhưng mới 2 tuổi làm Hoàng thái tử, trở thành điển cố có một không hai.

Bà cũng là một trong 4 vị Hoàng hậu chính thức của nhà Thanh có lễ đại hôn, tức là phong Hoàng hậu ngay ngày đại hôn lễ, rước kiệu đi qua Đại Thanh môn, mà không phải từ Tiềm để phong lên hay thứ phi tấn phong. Những người kia là: Phế hậu Tĩnh phi, Hiếu Triết Nghị Hoàng hậuHiếu Định Cảnh Hoàng hậu.

Gia tộc hiển quý[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Thành Hoàng hậu Hách Xá Lý thị.

Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu sinh ngày 7 tháng 10 (âm lịch) năm Thuận Trị thứ 10 (1653), xuất thân từ Hách Xá Lý thị, thuộc Mãn Châu Chính Hoàng kỳ. Hách Xá Lý thị truyền thế cổ xưa, xuất xứ từ thời kỳ nhà Đường, lại có liên hệ với Hung Nô, Mông Cổ.

Đầu thời Hậu Kim, có người tộc Hách Xá là Thạc Sắc (硕色), thế cư Điền Anh Ngạch, sau dời Cáp Đạt, đã cùng em trai Hi Phúc (希福) vào thời Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã quy phục, Nỗ Nhĩ Cấp Xích rất vui mừng, phân vào Mãn Châu Chính Hoàng kỳ, một trong Thượng tam kỳ của quý tộc Mãn Châu, chỉ kém duy nhất Tương Hoàng kỳ. Do thông hiểu Mãn - Mông - Hán, Thạc Sắc được bổ vào làm trong Văn Học quán, giữ tước hiệu "Ba Khắc Thập" (巴克什; có nghĩa là người tinh thông văn hóa), một kiểu chức vụ thời đầu Thanh ý chỉ một người giỏi Hán - Mông - Mãn văn; còn Hi Phúc về sau thăng Hoằng Văn viện Đại học sĩ, rồi "Nhị đẳng Giáp Lạt chương kinh" (二等甲喇章京).

Con trai của Thạc Sắc là Sách Ni, cũng kế thừa cha danh hiệu Ba Khắc Thập, thời kỳ đầu nhậm "Nhị đẳng Thị vệ", sau đó thăng làm Khải tâm lang thuộc bộ Lại, lại thăng "Tam đẳng Giáp Lạt chương kinh" (三等甲喇章京). Khi Thanh Thái Tông băng hà, Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn triệu Sách Ni bàn việc, cuối cùng trong những người đó chọn lập Thuận Trị Đế. Sau một thời gian bị điều chức, đến khi Thuận Trị Đế thân chính, thì Sách Ni lại được triệu về, tiến "Nhất đẳng Bá" thừa kế, lại thăng Nội đại thần, kiêm thêm Nội vụ phủ Tổng quản.

Thuận Trị Đế băng bà, Khang Hi Đế còn nhỏ, Sách Ni như vậy là một trong bốn đại thần phụ chính, cùng Tô Khắc Xa Cáp, Át Tất LongNgao Bái, tận lực phò tá 8 tuổi đăng cơ Khang Hi Đế, như vậy mà phong "Nhất đẳng Công", gia tộc Hách Xá Lý thị đến lúc này mới chính thức đạt đến vinh quang tột bậc.

Con trai trưởng là Cát Bố Lạt, giữ chức "Thị vệ Nội đại thần", chính là cha sinh của Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu. Một thúc phụ của bà là Sách Ngạch Đồ, đương khi làm Thị vệ, dần cất nhắc Thị lang bộ Lại. Ngoài ra, cô cô của bà Hách Xá Lý thị gả cho Anh Thân vương Nhạc Nhạc làm Kế Phúc tấn, sinh ra anh em Mã Nhĩ Hồn. Trong nhà bà có anh trưởng Trường Thái (长泰), Luân Bố (纶布). Tuy không rõ mẹ bà là ai nhưng theo ghi nhận thì bà là con vợ lẽ, có thể 2 em gái bà cũng là như vậy. Hai em gái bà, một về sau thành Bình phi của Khang Hi Đế, một thì gả cho Pháp Khách (法喀) làm Kế thê, đây là con trai út của Át Tất Long.

Tham gia tuyển hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Hoàng đế Khang Hi đến tầm 12 tuổi, Tứ trụ đại thần và triều đình tiến hành cân nhắc tuyển nữ tú để lập Hoàng hậu cho Tiểu Hoàng đế. Bà lúc đó tuy chưa đến chưa đến 10 tuổi, nhưng gia tộc hiển hách, nhiều đời lương thần, lại là cháu nội của Phụ chính đại thần Sách Ni, hiển nhiên nằm trong hàng đầu.

Tuy nhiên, tham gia tuyển hậu, còn có cả con gái của hai Phụ chính đại thần khác là Ngao BáiÁt Tất Long. Cân nhắc chính trị, Hiếu Trang Thái hoàng Thái hậu đã chọn cháu của Sách Ni để lập Hậu và con gái của Át Tất Long làm Phi tần, khác với truyền thống chọn con cháu trong tộc Khoa Nhĩ Thấm Mông Cổ làm Hoàng hậu như các đời trước.

Biết được điều đó, Ngao Bái tức giận. Ông nhiều lần uy hiếp nạt nộ, lấy lý do "Mãn Châu hạ nhân chi nữ" mà khuyên can, vì Hách Xá Lý thị vốn là thứ xuất, sao có thể đem thứ xuất làm Hoàng hậu. Lời này của Ngao Bái không chỉ lăng nhục cháu gái Sách Ni, mà còn lăng nhục cả Khang Hi Đế vì Khang Hi Đế vốn là thứ xuất, mẹ đẻ là Hiếu Khang Chương Hoàng hậu vốn là tần phi của Thuận Trị Đế.

Bên cạnh đó, tư duy người Mãn thời sơ kỳ tôn sùng thân phận dòng dõi rất cao. Ngao Bái bên cạnh lấy lý do Hách Xá Lý thị là con vợ lẽ, còn dùng lý do Hách Xá Lý thị là một dòng dõi kém, nếu so với Nữu Hỗ Lộc thị của Át Tất Long. Vì bởi lẽ, Sách Ni tuy là Phụ chính đaị thần, quan hàm cao quý, song xuất thân Hách Xá Lý thị rất thấp, chỉ là Hải Tây bộ nhân, không có chức Bộ trưởng hay Lộ trưởng, trong khi đó Át Tất Long xuất thân cao quý Nữu Hỗ Lộc, thế tập Lộ trưởng của Anh Ngạch địa phương. So sánh thì dòng dõi của Sách Ni hoàn toàn thua xa.

Tuy nhiên, vào cuối cùng, Thái hoàng Thái hậu vẫn thành công chọn được Hách Xá Lý thị đăng vị Hoàng hậu.

Đại hôn và cuộc sống hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Khang Hi thứ 4 (1665), ngày 7 tháng 7, Hách Xá lý thị 11 tuổi chính thức được Khang Hi Đế cử hành lễ nạp thái[1][2].

Ngày 7 tháng 9, vì ngày tiếp theo sẽ là ngày tốt, nên trong ngày này Khang Hi Đế tiến hành tế cáo Thiên địa, Thái miếu, Xã tắc[3]. Sang ngày 8 tháng 9, tại Bắc Kinh cử hành Đại hôn điển lễ, là Hoàng hậu thứ 3 từ khi Đại Thanh nhập quan. Hách Xá Lý thị phong phong quang quang trở thành Hoàng hậu.

Căn cứ tài liệu 《Khang Hi triều trữ vị đấu tranh ghi lại sự thật - 康熙朝储位斗争记实》 của học giả Hoa kiều Ngô Tú Lương, đại lễ đại hôn diễn ra rất long trọng:

Sách văn viết:

Ngày 10 tháng 3, Hoàng đế ngự Thái Hòa điện, chư vương đại thần đến làm lễ triều hạ, kết thúc Đại hôn điển lễ. Ban chiếu cáo thiên hạ. Chiếu thư viết rằng:

Khoảng 2 năm sau đại hôn (1667), Sách Ni bệnh mất, Tô Khắc Xa Kháp bị Ngao Bái vu hãm. Nhìn cảnh Ngao Bái ngày một cuồng vọng, tâm ý đoạt ngôi đã rõ khiến Khang Hi Đế rất lo ngại. Cuối cùng, Khang Hi Đế quyết định nghe theo thúc phụ của Hoàng hậu là Sách Ngạch Đồ, vây bắt Ngao Bái, triệt toàn bộ thế lực của y.

Hách Xá Lý Hoàng hậu hiền lương thục đức, thống lĩnh Hậu cung, giúp Khang Hi Đế không ít việc chính sự, đối với Thái hoàng Thái hậu muôn phần tôn kính, được Thái hoàng Thái hậu và Thái hậu yêu thương. Dù khi tuyển làm Hoàng hậu hoàn toàn là mục đích chính trị, nhưng Hách Xá Lý thị chưa đến 16 tuổi lại có cử chỉ đoan trang, hết mực cung kính hiểu chuyện, bà giành hết được sự tín nhiệm của Khang Hi Đế một cách thuyết phục, và từ đó trở thành người vợ mà ông tâm niệm nhất.

Năm Khang Hi thứ 9 (1670), ngày 4 tháng 1, Hách Xá Lý Hoàng hậu sinh ra Hoàng tử Thừa Hỗ (承祜), nhưng sang năm thứ 11 (1672) thì chết yểu. Khi nghe tin Hoàng tử qua đời, Khang Hi Đế đã thất thần đau thương rất lâu, dù khi đó ông cũng đã có nhiều Hoàng tử.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Khôn Ninh cung

Năm Khang Hi thứ 13 (1674), ngày 3 tháng 5 (âm lịch), Hách Xá Lý Hoàng hậu lâm bồn lần thứ hai.

Trên dưới Khôn Ninh cung tất bật bận rộn, những ma ma đỡ đẻ đã chờ sẵng, những bát đĩa, dây cắt rốn, vải lụa đỏ, bát bảo, đều đã chuẩn bị tốt, chỉ cần chờ Hoàng hậu hạ sinh. Cuối cùng, vào giờ Tỵ, mắt trời đỉnh điểm buổi trưa, Hoàng hậu sinh ra Hoàng nhị tử Dận Nhưng, Khang Hi Đế vui mừng như có đại xá, đặt ấu danh Bảo Thành (保成), hi vọng đứa nhỏ sẽ lớn lên khỏe mạnh. Nhưng rồi, Hoàng hậu do di chứng khó sinh, dẫn đến băng huyết, rơi vào trạng thái bất tỉnh. Các ngự y cấp tốc chữa trị, cứu lấy Hoàng hậu nhưng rồi vào giờ Thân, Hoàng hậu Hách Xá Lý thị trút hơi thở cuối cùng vào buổi chiều hôm ấy[5]. Lúc đó, Hách Xá Lý hoàng hậu chỉ độ vừa 21 tuổi.

Khôn Ninh cung từ không khí vui sướng, lập tức đột biến thành bi thương. Gần mấy canh giờ sau, Khang Hi Đế từ đại hỉ vì có được Đích hoàng tử, đột ngột lại đại bi thống khi vợ chết ngay sau đó, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần của Hoàng đế. Sau khi Hoàng hậu qua đời, tử cung của bà được tạm đặt ở tư điện của Hoàng đế là Càn Thanh cung[6]. Ngày 5 tháng 5, Khang Hi Đế đặt tử cung ở Tây phương của Tử Cấm Thành.

Ngày 8 tháng 5, dụ Lễ Bộ: "Hoàng Hậu Hách Xá Lý thị, làm thê tử của trẫm đã qua 10 năm. Bên trên, đối Thái hoàng Thái hậu, Hoàng thái hậu hết sức chân thành, hiếu thuận. Giúp trẫm nội trị, càng hết mực cẩn trọng, chu đáo. Bên dưới, đối người rộng lượng, khoan dung. Dạy dỗ lễ nghĩa cung đình. Thục đức sáng rọi. Thế mà, than ôi, tại Khang Hi 13 năm, ngày mùng 3 tháng 5 băng thệ. Mang theo nỗi nhớ về sự thuần khiết, tốt đẹp, đức hạnh mẫu mực của nàng. Tràn đầy đau đớn, tưởng niệm sâu sắc. Nên cần xưng thụy. Để truyền cho con cháu đời đời. Văn chương do Nội Các Hàn Lâm viện cùng nhau nghĩ tấu. Thuận theo điển lễ, các ngươi nghe rõ mà làm"[7].

Vì Đại hành Hoàng hậu băng thệ, Khang Hi Đế cho nghỉ triều 5 ngày, lệnh từ Chư vương đến đại thần, Công chúa, Vương phi và Bát kỳ Nhị phẩm mệnh phụ trở lên đến khóc tang. Cầm phục 27 ngày. Lấy quân hưng, miễn Trực Lệ các tỉnh văn võ quan tụ tập đầy đủ khóc tang chế phục. Lệnh các quan dâng hương. Mậu Thần, phụng Đại hành Hoàng hậu tử cung đến bên ngoài Tây Hoa môn (西华门), Hoàng đế đích thân đến đưa. Liên tiếp những ngày sau đó, Khang Hi Đế đều đích thân đến tế rượu, khóc tang.

Ngày Canh Dần, phụng di Đại hành Hoàng hậu tử cung, tới Củng Hoa thành, phía Bắc của Bắc Kinh. Hoàng đế đích thân tới đưa. Chư vương, văn võ quan viên đều tụ tập đầy đủ bên ngoài Tây An môn, khóc tang quỳ đưa. Phụng an tử cung xong. Khóc tang hành lễ.

Năm Khang Hi thứ 13, ngày 27 tháng 6, Khang Hi Đế mặc áo trắng đến Thái Hòa môn, tặng thụy hiệuNhân Hiếu Hoàng hậu (仁孝皇后). Lấy Trang Thân vương Bác Quả Lạc (博果铎), Khang Thân vương Kiệt Thư (杰书) cùng bê sách bảo, tiến hành đại lễ dâng thụy hiệu cho Hoàng hậu. Ngày hôm sau, lễ thành, ban chiếu thư[8].

Sách thụy văn cho Nhân Hiếu Hoàng hậu:

Hậu sự[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng đế tiếc thương[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thứ 14 (1675), tháng giêng, cử Đại học sĩ Mãn - Hán mỗi quân kì 1 viên quan, đến phụng điểm với Nhân Hiếu Hoàng hậu. Ngày này cũng thăng phụ thần vị, dâng lên Phụng Tiên điện. Tháng 5 năm đó, nhân ngày kị của Nhân Hiếu Hoàng hậu, Khang Hi Đế đích thân đến hiến tế, sau đó vào ngày 3 tháng 6, tức đầy năm trăng ngày giỗ của Nhân Hiếu Hoàng hậu, Khang Hi Đế quyết định lập Dận Nhưng làm Hoàng thái tử.

Năm Khang Hi thứ 14, ngày 12 tháng 12, lấy sách lập Hoàng thái tử, Khang Hi Đế tế thiên địa, cùng tế Thái miếu, tế Xã tắc và cuối cùng là đến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu. Ngày 13, cử hành đại lễ phong Hoàng thái tử tại Thái Hòa điện, sang ngày 17 thì đích thân đến Củng Hoa thành hiến tế Nhân Hiếu Hoàng hậu.

Năm Khang Hi thứ 15 (1677), trừ tịch, Khang Hi Đế vẫn đi làm bạn với Nhân Hiếu Hoàng hậu. Tại đây trong mấy năm liền, mỗi phùng trừ tịch trước một ngày, Khang Hi Đế đều vô ngoại lệ mà đi Củng Hoa thành làm bạn với vong linh của Nhân Hiếu Hoàng hậu, cho dù là ông đã có đông đảo phi tần. Trừ tịch năm đó, Khang Hi Đế cũng y nguyên như cũ mà mạo hiểm gió táp mưa sa tiến đến Củng Hoa thành.

Từ đây bắt đầu hằng năm đến ngày kỵ của Nhân Hiếu Hoàng hậu, Khang Hi Đế đều đích thân đến mộ phần của bà mà viếng, đặc biệt dành trọn một ngày để ở bên lăng của bà. Sử sách chỉ rõ Khang Hi Đế nổi tiếng cần cù, giải quyết chính sự không lơi nhưng vẫn có thể bỏ ra cả ngày ở bên mộ bà để thăm, chứng tỏ tình cảm nồng hậu của ông đối với người vợ xấu số. Việc này kéo dài đến năm Khang Hi thứ 38 (1699), tức là hơn 25 năm từ khi Nhân Hiếu Hoàng hậu qua đời. Cái chết của bà đã tác động sâu sắc đến Thánh Tổ Khang Hi, ông ưu buồn quá độ, xin phép Thái hoàng Thái hậu đặc cách, đem Hoàng nhị tử Dận Nhưng nuôi ở Càn Thanh cung, còn bất chấp vì Dận Nhưng, chỉ chưa tới 3 tuổi đã lập làm Hoàng thái tử.

Về sau, tuy Khang Hi Đế có lập Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu, Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu, cũng đều qua đời sớm, nhưng chưa hề thấy qua cách đối đãi nào như với Nhân Hiếu Hoàng hậu.

Năm Khang Hi thứ 19 (1680), ngày 2 tháng 5, Khang Hi Đế cùng Thái tử Dận Nhưng đến Củng Hoa thành, để chuẩn bị cho ngày giỗ vào ngày mai của Nhân Hiếu Hoàng hậu. Hôm đó, Khang Hi Đế mệnh Thái tử đến tế lăng của mẫu hậu, lấy ý con trai tẫn hiếu với mẫu thân.

Cải táng và cải thụy[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Khang Hi thứ 15 (1676), tháng 2, tẩm lăng của Khang Hi Đế là Cảnh lăng bắt đầu xây dựng. Cùng lúc đó bắt đầu xây dựng địa cung dành cho Nhân Hiếu Hoàng hậu. Năm thứ 16 (1677), Khang Hi Đế tự mình duyệt bản phác thảo vị trí mộ cung của Nhân Hiếu Hoàng hậu.

Năm Khang Hi thứ 20 (1681), ngày 17 tháng 2, Khang Hi Đế quyết định để Nhân Hiếu Hoàng hậu, cùng Hiếu Chiêu Hoàng hậu nhập táng vào địa cung của Cảnh lăng. Cả 2 tử cung của 2 vị Hoàng hậu trong ngày đó đều từ Củng Hoa thành đến nhập táng Cảnh lăng. Khang Hi Đế mệnh Thái tử dẫn đầu chư thần đến hướng tế. Ngày 19 chính thức khải thành. Ngày 7 tháng 3, đến Cảnh lăng, đặc mệnh Khang Thân vương Kiệt Thư (杰书) đến trước tử cung của Nhân Hiếu Hoàng hậu, Trang Thân vương Bác Quả Lạc (博果铎) đến trước tử cung, đọc chí chúc tế. Lễ xong, đưa linh cữu hai vị Hoàng hậu đến Hưởng điện, hôm sau kết thúc buổi lễ an táng. Đồng thời, Khang Hi Đế còn trấn an người nhà hai vị Hoàng hậu, ban thực ban vật, lấy kỳ ân sủng.

Khang Hi năm thứ 61 (1722), Thanh Thế Tông Ung Chính Đế kế vị, truy thụy hiệu bà thành Nhân Hiếu Cung Túc Chính Huệ An Hòa Lệ Thiên Tương Thánh Hoàng hậu (仁孝恭肅正惠安和儷天襄聖皇后).

Năm Ung Chính nguyên niên (1723), tháng 6, thấy thụy hiệu của Nhân Hiếu Hoàng hậu có chữ trùng, và cũng chưa hợp lễ, Ung Chính Đế cải thụy hiệu cho bà thành Hiếu Thành Cung Túc Chính Huệ An Hòa Lệ Thiên Tương Thánh Nhân Hoàng hậu (孝誠恭肅正惠安和儷天襄聖仁皇后). Năm đó, lấy thần vị của Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu, Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu, Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu cùng Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu dâng phụng Thánh Tổ miếu. Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu là nguyên phối, nên để ở đầu, sau đến Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu, Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu và cuối cùng là mẹ đẻ của Tân đế, Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu.

Các đời Càn Long, Gia Khánh liên tiếp dâng tôn thụy cho các Tiên Hoàng hậu, thụy hiệu đầy đủ của bà thành Hiếu Thành Cung Túc Chánh Huệ An Hòa Thục Ý Khác Mẫn Lệ Thiên Tương Thánh Nhân Hoàng hậu (孝誠恭肅正惠安和淑懿恪敏儷天襄聖仁皇后).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu sinh hạ được 2 Hoàng tử:

  1. Thừa Hỗ (承祜; 4 tháng 1 năm 1670 - 3 tháng 3 năm 1672), là Hoàng tử thứ 2 trên thật tế của Khang Hi Đế, do chết yểu nên không xếp thứ tự. Khi sinh ra, Khang Hi Đế và Hoàng hậu khi đó vừa độ 17 tuổi, cặp vợ chồng trẻ thập phần yêu quý. Đáng tiếc khi được 3 tuổi, vào năm Khang Hi thứ 11, giờ Tỵ, vào mùa xuân thì chết non.
  2. Dận Nhưng (胤礽; 6 tháng 6 năm 1674 - 27 tháng 1 năm 1725), Hoàng tử thứ 2 trên số đếm của Khang Hi Đế, vì sinh ông ra mà Hách Xá Lý Hoàng hậu giá băng. Lập Thái tử, sau bị phế, thụy Lý Mật Thân vương (理密亲王).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《清史稿 孝诚仁皇后列传》 康熙四年七月,册为皇后。
  2. ^ 《康熙朝实录》(五) ○辛卯。聘皇后何舍里氏、行纳采礼
  3. ^ 《康熙朝实录》(五) ○庚寅。以大婚。遣官祭告天地、太庙、社稷 ○是日、行大徵礼
  4. ^ 《康熙朝储位斗争记实》叙述,婚礼过程如下:礼仪的程序几乎完全按照汉族的传统,其间也杂有满洲的旧习,最明显的是,纳彩(送礼品到新娘家,是订婚仪式的步骤之一)的重要礼品是马匹和马鞍。婚礼前,由钦天监的官员择一吉日,皇帝派以内务府大臣为首的一行人,其中包括三位公主、三位摄政大臣的夫人以及内侍和侍卫,把礼品送到新娘家。计有十匹鞍辔齐全的骏马,十仗盔甲,一百匹锦缎,以及二百匹其他精美布料。新娘的父亲噶布喇及祖父索尼率家中男性成员,索尼夫人率女性成员迎礼。全家人分列庭院两侧,向北三跪九叩(皇帝的宝座朝南),感谢皇上的恩宠。 九月七日,即大婚礼前一天,皇帝派遣满洲大臣祭告天地、太庙、社稷。同日行大征礼(即纳聘礼)。聘礼包括两万两黄金、一万两白银、一个金茶罐、两个银茶罐、一对银箱、一千匹锦缎、二十付马鞍、及四十匹骏马。这一礼仪同样以女方亲属向北三跪九叩谢恩而结束。九月八日举行大婚礼。康熙皇帝进入太和殿观看册立孝诚皇后的封册和金印。接着,他把两件皇后的象征物交给钦派使臣,使臣手捧册宝,众侍臣尾随其后,送到后邸。皇后接到这两件象征物,行了跪叩礼之后,乘轿到皇宫。轿前由四位大臣的夫人带领,轿后有七位大臣的夫人跟随,她们全部骑马而行(妇女骑马是满洲传统的一个显著特点)。两侧由侍卫和内侍护送,皇后的随从们被恩准在通向中宫的御道上行走。此时,康熙身着大婚礼服,先到太皇太后和皇太后宫中行礼谢恩,接着到太和殿赐皇后亲属(此时皇后仍留在中宫)及诸王百官宴席。与此同时,皇太后率诸大臣和摄政大臣的夫人们到太皇太后宫中,在那里设宴招待皇后的母亲及其母系亲属。下午六时许,大婚礼以汉族传统的合卺宴结束。此宴结束后,皇帝和皇后便留在中宫。 次日,皇帝谕礼部援引汉族先例为太皇太后和皇太后上尊号。同一天,皇后到太皇太后宫及皇太后宫行朝见礼。第三天,皇帝御太和殿,诸王百官上表朝贺,以大婚礼成颁诏天下。诏书阐明了确立皇后,共承宗庙,助隆孝养,绵延本支的意义。附:册赫舍里氏为皇后的诏书:朕惟乾坤德合,式隆化育之功。内外治成,聿懋雍和之用。典礼于斯而备,教化所由以与。咨尔何舍里氏乃内大臣噶布喇之女也。世德钟祥,崇勋启秀。柔嘉成性,宜昭女教于六宫。贞静持躬,应正母仪于万国。兹仰承太皇太后懿命,以册宝立尔为皇后。其尚弘资孝养,克赞恭勤。茂本支奕叶之休,佐宗庙维馨之祀。钦哉。九月初九日,皇后诣太皇太后、皇太后宫,行朝见礼。
  5. ^ 《清史稿 孝诚仁皇后列传》 十三年五月丙寅,生皇二子允礽,即於是日崩,年二十二。
  6. ^ 清会典载录:仁孝皇后崩。皇帝安梓宫于乾清宫,设几筵、丹旐于乾清宫门外之右。康熙辍朝成服,妃嫔宫人咸成服,皆素缟。
  7. ^ 康熙十三年五月初八日,康熙帝谕礼部曰:“皇后赫舍里氏,作配朕躬,已经十载。上事太皇太后皇太后,克尽诚孝;佐朕内治,尤极敬勤;节俭居身,宽仁逮下;宫闱式化,淑德彰闻。兹于康熙十三年五月初三日崩逝。惓怀懿范,痛悼弥深。宜有称谥,以垂永久。著内阁翰林院会同拟奏,应行典礼,尔部详察以闻。”
  8. ^ 六月二十八日,以册谥:「仁孝皇后」,颁诏天下。诏曰:国家化理,肇起宫闱,阴教敷宣,实资壸德。自古贤后,咸有徽称,昭垂奕世,诚历代之钜典也。皇后赫舍里氏,温惠性成,柔嘉天亶,发祥世胄,正位中宫。佐朕奉事太皇太后、皇太后,克诚克孝;统理内治,维敬维勤;节俭居身,宽仁逮下;徽音茂著,懿范彰闻。兹于康熙十三年五月初三日崩逝,惓淑仪之备美,宜显号以褒扬。爰敕所司,详稽典礼,祗告太庙。六月二十七日,册谥为仁孝皇后礼成。于戏。翟祎在御,难忘十载之芳型;琬琰增辉,永播千秋之令誉。颁示天下,咸使闻知。
  9. ^ 我希望王道教化能够普及于妇道,确实有赖于妻眷的帮助;女流之教养能够育成在宫庭之内,特别借助于皇后德行的贤淑。所以娥皇、女英作为嫔妃则帝王的道行霸业兴盛,太任、太姒作为妻子则帝王的宏图大略可以永久。我缅怀皇后的贤淑德行,将其记载于文字,永久保存。希望皇后妆服的光彩,那记述之笔能够描绘它的盛艳。(将皇后的淑行)以文章记述加以彰扬,使天下人知晓,能够援引典章称颂褒扬赞美她。赫舍里皇后,出身于名门,以自身之行为成就美德的典范。她是我的结发夫人,作为后宫之主。祥和聪慧出自于天性之纯,柔和美善,谨诚恪守;温顺恭敬深植于先天风骨,礼节风度优雅娴适。在内宫女流中主导高雅纯正的教化,在海内外彰显其仪态万方的外在美。勤勉地尽孝奉养两宫老人家,温婉孝顺让老人家欢颜;对待后宫的女眷侍人宽宏和蔼,恩遇能使众人心悦诚服。主持祭祀严谨守时,奉供陪祀诚心一意。衣着简朴,自行洗涤,坚持并宣谕节俭的风气。中肯地劝戒规谏,帮助处理内外事务非常勤快;力行贞节柔顺的家风,佐理社稷和家庭程式化而有序。正盼望着能够一起永远走在幸福的路上,却不料突然间再见不到你的音容笑貌!明月再也照不到你的所在,只亲眼目睹了亡人的逝去。我的心里哀伤痛悼,普天之下也都为你悲哀。怀念你的聪颖贤惠,原你的芳华美名永垂不朽。按照典例应予纪念,褒扬尊崇加以封号。因此特地用册书与宝玺,加谥号为“仁孝皇后”。呜呼!神圣高洁的善行定要弘扬光大,让人们一代一代颂扬你美沦美涣的盛名;你的母仪风范是多么的完美无瑕,千年万载也必闪耀着美玉的柔丽光辉。如果你的灵魂在天有知的话,应该能够接受这份荣光与宠爱。
  • Thanh sử cảo
  • Jonathan D. Spence. Emperor of China: Self Portrait of K'ang-Hsi. Pimlico, London, 1992.