Nhân Thọ Hoàng thái hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hiếu Cung Nhân hoàng hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhân Thọ Hoàng thái hậu
仁壽皇太后
Khang Hi Đế Hoàng hậu
Empress XiaoGong.PNG
Hoàng thái hậu Đại Thanh
Tại vị 1722 - 1723
Tiền nhiệm Nhân Hiến Hoàng thái hậu
Từ Hòa Hoàng thái hậu
Kế nhiệm Sùng Khánh Hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Thánh Tổ
Khang Hi hoàng đế
Thụy hiệu Hiếu Cung Tuyên Huệ Ôn Túc Định Dụ Từ Thuần Khâm Mục Tán Thiên Thừa Thánh Nhân Hoàng hậu
(孝恭宣惠溫肅定裕慈純欽穆贊天承聖仁皇后)
Thân phụ Ô Nhã Uy Vũ
Sinh 1660
Mất 23 tháng 5 năm 1723 (63 tuổi)
An táng Cảnh lăng (景陵), Thanh Đông Lăng, Tuân Hóa.

Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu (chữ Hán: 孝恭仁皇后; Mãn Châu: Hiyoošungga Gungnecuke Gosin Hūwanghu; 1660 - 23 tháng 5 năm 1723) hay còn gọi là Nhân Thọ Hoàng thái hậu (仁壽皇太后), là phi tần của Thanh Thánh Tổ Khang Hy hoàng đế, thân mẫu của Thanh Thế Tông Ung Chính hoàng đế.

Bà chưa bao giờ được phong ngôi Hoàng hậu khi còn sống, chỉ được truy phong ngôi Hoàng hậu khi đã qua đời.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Cung hoàng hậu Ô Nhã thị.

Hiếu Cung hoàng hậu xuất thân từ dòng họ Ô Nhã thị (乌雅氏), lại có thuyết gọi Ngô Nhã thị (吴雅氏), thuộc Mãn quân Chính Hoàng kỳ, tuy là Chính hoàng kỳ Thượng tam kỳ xuất thân nhưng gia cảnh của bà chính thị là Bao y xuất thân.

Tằng tổ phụ Ngạch Bách Căn (额柏根), thế cư Cáp Đạt, lại có chỗ nói thế cư Diệp Hách, buổi đầu quốc sơ thì quy thuận. Tổ phụ Ngạch Tham (额参), là con trưởng của Ngạch Bách Căn, buổi đầu phò tá Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực, làm chức Thiện Phòng tổng lĩnh, này vốn là Nội Vụ Phủ bao y (內務府包衣), Thượng tam kỳ Bao y khi đó được gọi như vậy. Về sau ông lập được công danh, chinh chiến Triều Tiên, lại đến Sơn Đông, Tế Nam, công lao hiển hách nên dần thăng Nhất đẳng Đô úy, kiêm nhậm Tá lĩnh, thụ Nam tước tước vị. Phụ thân của bà là Ô Nhã Uy Vũ (乌雅威武), lại có tên khác Ngụy Vũ (魏武), là trưởng tử của Ngạch Tham, đương thời nhậm chức vụ Hộ quân tham lĩnh (護軍參領). Trong nhà bà còn có người chú Nhạc Sắc (岳色), nguyên nhậm Tư Hộ quan, sau đặc ban chức Kỵ đô úy.

Về sau, khi bà hiển quý, cả gia đình cũng vinh hiển, cả ông cụ, ông nội và cha bà được Ung Chính Đế phong tước phong Nhất đẳng công (一等公). Ung Chính Đế còn tự xưng dòng họ của bà là Bổn triều cựu tộc, sang thế danh gia (本朝旧族, 创世名家), lại ra chỉ dụ tán thưởng:"Ngạch Bách Căn, hệ triều đại cũ tộc, gây dựng sự nghiệp danh gia. Ở Thái Tổ Cao hoàng đế khi, dưỡng dục cấm đình, coi cùng con cháu. Ngạch Tham lịch sự tam triêu, quân công mậu. Ngụy Vũ thiên rất tuấn kiệt, khải sau thừa trước, hậu đức chung linh, đốc sinh thánh mẫu, nghi thêm tuấn trật, lấy hiệp di chương. Đem Ngạch Bách Căn, Ngạch Tham, Ngụy Vũ, đều truy nhất đẳng công. Nhất đẳng công, thừa kế võng thế"[1].

Ngoài ra bà còn có anh em trai tên Bác Khải (博启), sau kế thừa tước Nhất đẳng công.

Có tổ phụ vốn là Bao y, nên Hiếu Cung hoàng hậu Ô Nhã thị tính ra phải vào Nội Vụ phủ Bao y làm việc khi còn nhỏ. Như vậy có thể thấy bà xuất thân cơ bản không cao, nếu không muốn nói là cực kì thấp kém. Vì thế, Ung Chính Đế luôn tích cực truy phong mẫu gia, vì đối với Ung Chính Đế mà nói, mẫu tộc thấp kém là một nỗi khổ, xuất phát từ chính trị tuyên truyền yêu cầu, Ung Chính Đế cần thiết thần thoại chính mình xuất thân.

Tiền trình[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Cung hoàng hậu Ô Nhã thị như vậy nhập cung, là một chức Quan nữ tử, khi ấy Thanh triều chưa hoàn toàn định rõ cấp bậc như ta thường hay thấy, nên khi ấy Quan nữ tử chưa phải là danh vị tần phi, mà là một dạng cung nữ chuyện phụ trách rót trà. Xuất thân như vậy, thế mà về sau lại có thể được đến Khang Hi Đế sủng ái, vì Khang Hi Đê sinh dục liên tiếp hoàng tự, là một trong những tần phi sinh dục nhiều nhất, thế thì chắc chắn Ô Nhã thị có chỗ hơn người.

Năm Khang Hi thứ 17 (1678), bà sinh Tứ Hoàng tử Dận Chân (胤禛). Lúc này Ô Nhã thị chưa có thân phận, nên sau khi đầy tháng thì Khang Hi Đế đem Hoàng tử Dận Chân đưa cho Hiếu Ý Nhân hoàng hậu Đông Giai thị nuôi dưỡng, khi ấy bà đang là Quý phi. Một năm sau (1679), Khang Hi Đế tấn phong cung nhân Ô Nhã thị làm Đức tần (德嬪). Do là xuất thân Bao y, Đức tần có địa vị thấp kém nhất trong số các tần phi có tước vị khi ấy.

Năm Khang Hi thứ 20 (1681), bà sinh ra 1 người con trai nữa tên Dận Tộ. Sang năm sau (1682), ngày 20 tháng 12, Đức tần Ô Nhã thị cùng Huệ tần Na Lạp thị, Vinh tần Mã Giai thị cùng Nghi tần Quách Lạc La thị đồng thời phong Phi vị, do đó Ô Nhã thị được thăng lên Đức phi (德妃). Chủ vị tại Vĩnh Hòa cung (永和宮).

Trong 5 năm sau đó, Đức phi hạ sinh ra 3 công chúa và cuối cùng là Hoàng tử Dận Trinh, Hoàng tử thứ 14 của Khang Hi Đế.

Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Khang Hi thứ 61 (1722), Thánh Tổ Khang Hi hoàng đế băng hà. Ung Thân vương Dận Chân lên nối ngôi, tức Ung Chính Đế. Đức phi Ô Nhã thị được tấn tôn làm Hoàng thái hậu. Ung Chính Đế lên ngôi khi bà đã hơn 60 tuổi, Hoàng đế cực kì hiếu thuận, chuẩn bị làm lễ long trọng mời bà từ Vĩnh Hòa cung đến cung thất dành riêng cho Thái hậu là Ninh Thọ cung (寧壽宮).

Năm Ung Chính nguyên niên (1723), tháng 5, Thái hậu bị bệnh, Ung Chính Đế dâng tôn hiệu Nhân Thọ Hoàng thái hậu (仁壽皇太后), chuẩn bị khánh thành Ninh Thọ cung để mời bà chuyển sang. Tuy nhiên, vào tháng 6 cùng năm, Hoàng thái hậu qua đời do bạo bệnh tại Vĩnh Hòa cung, thọ 64 tuổi. Tử cung của bà đặt tại Ninh Thọ cung, Ung Chính Đế thương cảm mặc đồ trắng cư tang. Sau 3 ngày vật vã, tử cung của bà đem đến Thọ Hoàng điện (壽皇殿).

Sang tháng sau, Tổng lý đại thần các quan hội nghị việc phụng thờ Thái hậu, thêm chữ Nhân là Đế thụy của Khang Hi Đế vào thụy hiệu của Thái hậu, cũng như 3 vị hoàng hậu trước đó. Các đại thần cùng nghị phối thờ Tứ hậu (Hiếu Thành Nhân hoàng hậu, Hiếu Chiêu Nhân hoàng hậu, Hiếu Ý Nhân hoàng hậu cùng Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu - Nhân Thọ Hoàng thái hậu) vào Thánh Tổ miếu, đó là dựa vào lệ có từ thời Tống Thái Tông cùng Tống Chân Tông. Ung Chính Đế ra chỉ dụ: "Hiếu Thành Nhân hoàng hậu là nguyên phối, Hiếu Chiêu Nhân hoàng hậu cùng Hiếu Ý Nhân hoàng hậu kế vị trung cung, Hiếu Cung Thái hậu sinh dục trẫm cung, mẫu nghi thiên hạ. Án theo tiên nho chi lễ: Một nguyên hậu, một Kế hậu, một Quyển sinh, theo thứ tự song song. Nay mẫu hậu thăng phụ vị thứ, đương đầu tiên phụng Hiếu Thành Nhân hoàng hậu, sau là Hiếu Chiêu Nhân hoàng hậu, Hiếu Ý Nhân hoàng hậu, cuối cùng phụng miếu Hiếu Cung Nhân hoàng hậu. Như thế thứ với cổ lễ phù hợp, mà trẫm tâm cũng an rồi."

Bà được dâng thụy hiệuHiếu Cung Tuyên Huệ Ôn Túc Định Dụ Tán Thiên Thừa Thánh Nhân hoàng hậu (孝恭宣惠溫肅定裕贊天承聖仁皇后) và hợp táng cùng Khang Hi Đế ở Cảnh lăng (景陵) thuộc Thanh Đông lăng ở Tuân Hóa. Qua các đời con cháu, thụy hiệu đầy đủ của bà là Hiếu Cung Tuyên Huệ Ôn Túc Định Dụ Từ Thuần Khâm Mục Tán Thiên Thừa Thánh Nhân Hoàng hậu (孝恭宣惠溫肅定裕慈純欽穆贊天承聖仁皇后).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Dận Chân (胤禛), tức Thế Tông Hiến hoàng đế.
  2. Dận Tộ (胤祚; 1680 – 1685), con trai thứ sáu của Khang Hy Đế.
  3. Hoàng thất nữ, chết non.
  4. Cố Luân Ôn Hiến công chúa (固倫溫憲公主; 22 tháng 9 năm 1683tháng 7 năm 1702), thụy hiệu do Ung Chính Đế truy tặng.
  5. Hoàng thập nhị nữ, chết non.
  6. Tuân Cần Quận vương Dận Đề [恂勤郡王胤禵].

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim truyền hình Diễn viên
1980 Đại nội quần anh Lương Thuấn Yên
1995 Cửu vương đoạt vị Bào Khởi Tĩnh
1997 Giang hồ kỳ hiệp truyện Trần Sa Lợi
1997 Vương triều Ung Chính Thi Kiến Lam
2011 Cung tỏa tâm ngọc Lưu Tuyết Hoa
2012 Hậu cung Chân Hoàn truyện Lưu Tuyết Hoa
2012 Bộ bộ kinh tâm Đới Xuân Vinh
2014 Thực vi nô Lữ San

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyên văn:“额柏根,系本朝旧族,创业名家。在太祖高皇帝时,抚育禁庭,视同子侄。额参历事三朝,军功懋著。魏武天挺俊杰,启后承先,厚德钟灵,笃生圣母,宜加峻秩,以协彝章。将额柏根、额参、魏武,俱追一等公。一等公,世袭罔替。”
  • Hummel, Arthur William, ed. Eminent Chinese of the Ch'ing Period (1644-1912). 2 vols. Washington: United States Government Printing Office, 1943.
  • Daily Life in the Forbidden City, Wan Yi, Wang Shuqing, Lu Yanzhen ISBN 0-670-81164-5
  • Draft history of the Qing dynasty《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.聖祖孝恭仁皇后.
  • Passionate women: female suicide in late imperial China. Paul S. Ropp,Paola Zamperini,Harriet Thelma Zurndorfer. ISBN 90-04-12018-1, ISBN 978-90-04-12018-1.

Tước hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân Thọ Hoàng thái hậu
Sinh: , 1660 Mất: , 1723
Tước hiệu Hoàng gia
Tiền nhiệm:
Nhân Hiến Hoàng thái hậu
Hoàng thái hậu nhà Thanh
1722 - 1723
Kế nhiệm:
Sùng Khánh Hoàng thái hậu