Hậu cung Chân Hoàn truyện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hậu cung Chân Hoàn truyện
后宫甄嬛传
Empresses in the Palace
250px
Thể loại Cổ trang
Cung đấu
Kịch bản Nguyên tác: Lưu Liễm Tử
Biên kịch: Lưu Liễm Tử, Vương Tiểu Bình
Đạo diễn Trịnh Hiểu Long, Cao Dực Tuấn
Diễn viên Tôn Lệ
Thái Thiếu Phân
Lý Đông Học
Tưởng Hân
Lưu Tuyết Hoa
Nhạc dạo Kiếp hồng nhan《红颜劫》- Diêu Bối Na
Nhạc kết Phượng hoàng vu phi《凤凰于飞》- Lưu Hoan
Quốc gia Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Quốc
Ngôn ngữ

Trung Quốc Tiếng Phổ thông

Việt Nam Tiếng Việt
Số tập 76 tập
Trình chiếu
Kênh trình chiếu Trung Quốc Dragon TV, đài An Huy
Hồng Kông Entertainment Channel
Đài Loan CTS
Malaysia Astro華麗台
Nhật Bản BS富士
Kênh trình chiếu tại Việt Nam THVL1
Truyền hình Hà Nội
Phát sóng tại Việt Nam 23 tháng 6, 2013
THVL1

Hậu cung Chân Hoàn truyện (tiếng Trung: 后宫甄嬛传, tiếng Anh: Empresses in the Palace), thường gọi tắt là Chân Hoàn Truyện (甄嬛传), là một bộ phim truyền hình cổ trang Trung Quốc.

Đây là bộ phim cung đình ăn khách nhất trên màn ảnh Đại lục năm 2012 và được đánh giá là tác phẩm cổ trang kinh điển của Trung Quốc trong nhiều năm trở lại đây. Bộ phim tạo nên cơn sốt tương tự như Tây du ký (1986) hay Hoàn Châu cách cách (1997)[1], bộ phim là phần trước của Hậu cung Như Ý truyện. Chân Hoàn truyện có mặt trong danh sách những bộ phim được khán giả đón xem lại hàng năm.

Xuất xứ[sửa | sửa mã nguồn]

Phim được chuyển thể từ tiểu thuyết ngôn tình cùng tên của nhà văn trẻ Lưu Liễm Tử (流瀲紫). Về tên gọi, hiện có bản dịch là Hậu cung Chân Huyên truyện, vì chữ có hai âm Hán-ViệtHuyênHoàn. Bộ phim mua bản quyền tiểu thuyết khi tác giả mới chỉ hoàn thành một phần ba tác phẩm, lên kế hoạch sản xuất và công chiếu lần đầu vào cuối năm 2011. Đây cũng là lần đầu tiên đạo diễn Trịnh Hiểu Long - đạo diễn của phim - thử sức với dòng phim cổ trang.

Tuy là dùng cốt truyện của tiểu thuyết, song thực tế nội dung tiểu thuyết hoàn toàn khác với phim. Thể loại của tiểu thuyết được gọi là giá không tiểu thuyết (架空小说), theo tiếng Anh gọi là Alternate History, đặt bối cảnh hư cấu tại một quốc gia Đại Chu (大周), hoàn toàn không có trong lịch sử Trung Quốc.

Tóm tắt cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung phim xoay quanh những cuộc tranh đấu quyền lực và tình yêu của những nữ nhân trong chốn thâm cung vào triều đại Hoàng đế Ung Chính nhà Thanh. Các phi tần lập mưu, tranh đấu nhau để có được quyền lực cũng như sự sủng ái của Hoàng đế.

Chân Hoàn là một thiếu nữ hiền lành, không màng danh lợi, thế sự, thế nhưng luôn bị hãm hại bởi những thế lực trong hậu cung. Hoàn cảnh buộc cô phải cứu lấy bản thân mình để rồi sau này cô trở thành phi tần quyền lực bậc nhất trong chốn hậu cung, nhưng điều gì cũng có cái giá của nó, để bước lên bảo tọa Hoàng thái hậu, Chân Hoàn vì mất dần những người thân yêu bên cạnh mình nên trở thành người phụ nữ tự cường, quyền lực, ra tay phòng thủ trước những âm mưu của người khác.

Các tuyến nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyến nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn viên Nhân vật Cung điện cư trú Giới thiệu Nguyên tác nhân vật
Tôn Lệ
孫儷
Chân Hoàn
(甄嬛)
Nữu Hỗ Lộc Chân Hoàn
(鈕祜祿•甄嬛)
Chân phủ
(甄府)
Toái Ngọc Hiên
(碎玉軒)
Cam Lộ tự
(甘露寺)
Lăng Vân phong
(凌雲峰)
Vĩnh Thọ cung
(永壽宮)
Thọ Khang cung
(壽康宮)
Hoàn thường tại (莞常在) → Hoàn quý nhân (莞貴人) → Hoàn tần (莞嬪) → Hoàn phi (莞妃; chưa thành lễ sắc phong) → Hoàn tần (莞嬪) → Mạc Sầu nương tử (莫愁) → Hi phi (熹妃) → Hi quý phi (熹貴妃) → Thánh Mẫu hoàng thái hậu (聖母皇太后)
Vốn có xuất thân từ Hán quân Hạ ngũ kỳ, sinh vào ngày 17 tháng 4, con gái của Đại Lý tự Thiếu khanh Chân Viễn Đạo. Vì dung mạo có vài phần giống Thuần Nguyên hoàng hậu nên được Ung Chính để mắt đến trong buổi tuyển Tú nữ, nhập cung nhờ vào trí thông minh nên dần trở thành phi tử được sủng ái nhất của Ung Chính, nàng cũng toàn tâm toàn ý yêu Ung Chính.


* Do Hoàng hậu bố trí ở Thừa Càn cung rất gần Dưỡng Tâm điện của Hoàng đế, nên Hoa phi chuyển về Túy Ngọc hiên.
* Ở tập 43, Chân Hoàn bị Hoàng hậu hãm hại, cho mặc chiếc áo cũ của Thuần Nguyên hoàng hậu. Cũng vì đây, nàng bị sốc khi phát hiện Ung Chính sủng ái mình chỉ vì giống Thuần Nguyên hoàng hậu, bị tước Phi vị và giam cầm ở Túy Ngọc hiên. Trong thời gian đó, Chân Viễn Đạo cha nàng bị đồng liêu là Qua Nhĩ Giai Ngạc Mẫn hãm hại, bị buộc tội. Tập 46, sau khi sinh Lung Nguyệt công chúa, Chân Hoàn xin xuất gia tu hành tại Cam Lộ tự.
* Tại Cam lộ tự, bị bức ép mà Chân Hoàn chuyển đến Lăng Vân phong, tại đây nàng cùng Quả quận vương Doãn Lễ nảy sinh tình cảm, quyết định kết bái phu thê. Nhưng duyên cố xảy ra, nàng trở về Hậu cung cùng Ung Chính, nói dối đứa con đang mang thai là con của Ung Chính, thực chất là con của Doãn Lễ.
* Tập 53, Ung Chính cải danh cho Chân Hoàn để nàng không còn là con gái của tội thần Chân Viễn Đạo, quyết định ban họ lớn Nữu Hỗ Lộc, hồi cung với thân phận là mẹ ruột của Tứ a ca Hoằng Lịch, sắc phong làm Hi phi.
* Chân Hoàn tại hậu cung tổng cộng 4 lần mang thai:

  • Lần một ở tập 25, sau biến cố của Phú Sát quý nhân thì chẩn đoán có thai. Tập 29, khi Ung Chính và Hoàng hậu rời Tử Cấm Thành, Chân Hoàn bị Hoa quý phi mời đến hầu chuyện ở Dực Khôn cung, bị phạt quỳ hơn nửa canh giờ và sảy thai. Hoa Quý phi vì chuyện này mà bị Ung Chính trách phạt và tước đi địa vị Quý Phi kèm phong hiệu Hoa. Thực tế là do lượng xạ hương trong kem thoa của An Lăng Dung mà sảy thai. Nguyên do trong sự cố Phú Sát quý nhân, Chân Hoàn bị thương ở cổ và để lại sẹo, An Lăng Dung theo sự sai khiến của Hoàng hậu mà chế ra keo trị sẹo này, cho vào lượng lớn xạ hương.
  • Lần hai là ở tập 44, sinh ra Lung Nguyệt công chúa. Sau đó, Chân Hoàn xuất gia tu hành, quyết định đoạn tuyệt tình cảm với Ung Chính, vô tình gặp và tương ái với Quả quận vương Doãn Lễ tại Lăng Vân phong.
  • Lần ba là ở tập 52, nghe tin Quả quận vương bị đắm thuyền chết đuối, lại hay tin gia quyến ở Ninh Cổ tháp chịu khổ, Chân Hoàn quyết định dùng kế quay về hậu cung, giả xưng cái thai là của Ung Chính. Sau sinh ra long phụng thai, là Lục a ca Hoằng ChiêmLinh Tê công chúa.
  • Lần thứ tư ở tập 70, sau sự kiện Anh quý nhân và Tam a ca, Chân Hoàn bị nghi ngờ, nhưng vừa hay lại có thai nên tình thế dần ổn thỏa. Tuy vậy, Ôn Thực Sơ chẩn đoán cái thai khó giữ quá 5 tháng, Chân Hoàn bèn dùng mưu sử dụng cái thai lật đổ Hoàng hậu. Sự việc thành công, Hoàng hậu bị cấm túc tại Cảnh Nhân cung. Tứ a ca nhân đó xúi giục Tam a ca cầu xin Ung Chính thả Bát thân vương Doãn Tự, khiến Tam a ca bị tước mất Hoàng đái, xóa tên khỏi Ngọc Điệp.


* Ở tập 74, Ung Chính vì nghi kị Quả quận vương nên sai khiến Chân Hoàn tự tay bỏ thuốc hạ sát. Chân Hoàn căm hận, đến cuối cùng bày mưu cùng Ninh tần Diệp Lan Y hạ sát Ung Chính. Khi Ung Chính hấp hối, tiết lộ chuyện Tịnh Hòa công chúa của Huệ phi Thẩm Mi Trang không phải của Ung Chính, khiến Ung Chính tắt khí huyết mà chết.
* Tập cuối (tập 76), Tứ a ca Hoằng Lịch được Chân Hoàn sắp xếp lập nên ngôi, tức Càn Long. Tân đế tôn Chân Hoàn làm Thánh mẫu hoàng thái hậu.

Chân Huyên
Thái Thiếu Phân
蔡少芬
Ô Lạt Na Lạp Nghi Tu
烏拉那拉•宜修
Cảnh Nhân cung
(景仁宮)
Ung thân vương Trắc phúc tấn (雍亲王侧福晋) → Ung thân vương Phúc tấn (雍亲王福晋) → Hoàng hậu (皇后)→ Cảnh Nhân Cung Hoàng hậu (景仁宮皇后) (không có thụy hiệu)
Mãn quân Tương hoàng kỳ Ô Lạt Na Lạp thị thứ nữ, xuất thân là con vợ lẽ, em gái của Thuần Nguyên hoàng hậu, cháu gái của Thái hậu. Người tinh thông y lý, tâm cơ thâm sâu khó đoán, nhiều mưu kế, bị đích thứ tôn ti ám ảnh, hận thù sâu sắc.


* Tại Vương phủ, sinh hạ Đại a ca Hoằng Huy, nhưng lên 3 tuổi thì chết, ngay khi đó chị là Thuần Nguyên hoàng hậu lại mang thai Nhị a ca, khiến Nghi Tu sinh lòng oán hận. Khi Thuần Nguyên mang thai, lén đánh tráo thức uống, đồ ăn dẫn đến băng huyết và sinh tử thai.
* Về sau không thể sinh con, bày mưu hại chết Tề phi để lấy con của Tề phi là Tam a ca Hoằng Thời làm con của mình, mưu đồ muốn trở thành Hoàng thái hậu độc nhất. Nội tâm thâm hiểm, hãm hại rất nhiều tần phi có thai, hoặc khiến họ không thể mang thai. Đứng đằng sau rất nhiều vụ làm hại phi tần có thai trong hậu cung, trong đó có lần sảy thai của Hân quý nhân, Phú Sát quý nhân và Chân Hoàn.
* Ung Chính Đế biết rõ chân tướng cái chết của Thuần Nguyên, định bụng ra chỉ Phế hậu (tập 72), nhưng Thái hậu lâm chung viết di chiếu ”Ô Lạt Na Lạp thị bất xuất phế hậu”. Ung Chính cho thu hồi lại thánh chỉ sắc phong, Hoàng hậu kim sách và phụng ấn, giam cầm vĩnh viễn ở Cảnh Nhân cung, đến chết không gặp lại.
* Tập cuối, Tứ a ca kế vị, Chân Hoàn đến vấn an, cho biết không phong Nghi Tu làm Thái hậu mà chỉ tôn làm Hoàng hậu như cũ, gọi là Cảnh Nhân cung Nương nương, uất ức mà chết. Sau khi mất, hạ táng tại Phi lăng, là lăng của các Phi tần.
* Theo ý nguyện của Ung Chính, Chân Hoàn quyết định xóa sạch mọi ghi chép về Nghi Tu, khi chết chỉ táng với nghi lễ dành cho phi tần vào Phi lăng của Ung Chính. Mọi hoạt động của Nghi Tu khi còn tại thế đều đồng nhất hành trạng với Thuần Nguyên hoàng hậu, tức Hiếu Kính Hiến hoàng hậu trong lịch sử.

Chu Nghi Tu
Tưởng Hân
蔣欣
Niên Thế Lan
年世蘭
Dực Khôn cung
(翊坤宮)
Lãnh cung
(冷宮)
Ung Thân vương Trắc phúc tấn (雍亲王侧福晋) → Hoa phi (華妃) → Hoa quý phi (華貴妃) → Niên phi (年妃) → Hoa phi (華妃) → Niên đáp ứng (年答應) → Đôn Túc quý phi (敦肅貴妃; truy phong) → Đôn Túc hoàng quý phi (敦肅皇貴妃; truy phong)
Xuất thân Hán quân Tương hoàng kì, em gái của Niên Canh Nghiêu. Danh gia vọng tộc, khuynh chấn thiên hạ nên Niên Thế Lan rất cuồng bạo, áp chế cả Hoàng hậu. Nhờ xuất thân hiển hách và có nhan sắc mỹ lệ, Thế Lan từng được Ung Chính sủng ái nhất trước khi Chân Hoàn nhập cung, ban cho thứ hương liệu quý hiếm duy nhất gọi là Hoan Nghi hương.


* Do muốn độc chiếm sự sủng ái nên đố kị nhiều phi tần, đặc biệt là Chân Hoàn và Thẩm Mi Trang, luôn bày mưu hãm hại 2 người, thành công ban đầu khi hãm hại Thẩm Mi Trang giả mang thai để tranh sủng, khiến Mi Trang bị giáng xuống làm Đáp ứng.
* Có thủ hạ là Lệ tần và Quý nhân Tào Cầm Mặc. Vốn tính khí bá đạo, Niên Thế Lan rất hà khắc độc đoán, hành hạ và lợi dụng hai mẹ con Tào Cầm Mặc để tranh sủng khiến về sau Tào Cầm Mặc liên thủ với Chân Hoàn quay ra hãm hại.
* Hoan Nghi hương thực chất có rất nhiều xạ hương, do Ung Chính và Thái hậu chủ động phòng ngừa Niên Thế Lan có thai, vì nghi kị thế lực nhà họ Niên, lo rằng Niên Thế Lan sinh hạ Hoàng tử sẽ khiến Niên Canh Nghiêu càng có ý tạo phản.
* Ở Vương phủ, khi đang có thai, do uống thuốc an thai của Đoan phi mà sẩy thai. Thực chất là Ung Chính và Thái hậu lén làm thuốc hủy thai, và Đoan phi là nước cờ thế thân. Sau đó, Niên Thế Lan bắt ép Đoan phi uống hồng hoa, làm cả đời Đoan phi không thể có thai được nữa.
* Sau khi Niên Canh Nghiêu thất thế, Niên Thế Lan bị Tào quý nhân cùng Chân Hoàn liên thủ hạch tội, bị tước phong hiệu và giáng làm Đáp ứng.
* Tập 42, vì âm mưu phóng hỏa thiêu chết Chân Hoàn nên bị ban cho tự sát, nhưng Niên Thế Lan nhất quyết không chịu. Chân Hoàn đến cho Niên thị biết chân tướng sự việc, việc Ung Chính dùng Hoan Nghi hương khiến Niên thị không thể có thai, và cái thai khi xưa cũng chính là do Ung Chính nhẫn tâm phá bỏ. Niên Thế Lan oán thán và đâm đầu tự sát.
* Truy phong làm Quý phi, thụy hiệu Đôn Túc. Sau này được truy phong làm Hoàng Quý Phi.

Mộ Dung Thế Lan
Trần Kiến Bân
陳建斌
Ái Tân Giác La Dận Chân
愛新覺羅•胤禛
Dưỡng Tâm điện
(養心殿)
Ung Thân vương (雍亲王) → Ung Chính Đế (雍正帝)
Hoàng đế thứ năm của nhà Thanh, con trai thứ tư của Thanh Thánh Tổ Khang Hy hoàng đế, mẹ là Đức phi Ô Nhã thị, sau được tôn làm Thái hậu. Được Chân Hoàn và Thuần Nguyên hoàng hậu gọi là Tứ lang. Khi còn trẻ, rất yêu thương Thuần Nguyên hoàng hậu. Về sau do Chân Hoàn dung mạo giống, nên sủng ái, dần dần yêu chân thành Chân Hoàn.


* Khi nạp Chân Hoàn làm phi tần, ông ban cho phong hiệu [Hoàn; 莞 nghĩa là cười], đồng âm với tên tự của Thuần Nguyên hoàng hậu [Uyển Uyển; 菀菀].
* Cùng với Thái hậu là chủ mưu trong việc ngăn ngừa Hoa phi có thai. Khi Hoa phi ở Vương phủ hoài thai, mượn tay Đoan phi giết hại thai nhi mới thành hình.
* Nghi kị hoàng thân, ngoài Bát a ca Doãn Tự, Cửu a ca Doãn Đường còn có cả Doãn Lễ. Khi Tam a ca Hoằng Thời bị mưu của Chân Hoàn xin cho Bát a ca Doãn Tự ân xá, Ung Chính tước hoàng đái của Hoằng Thời và đày làm con của Bát Gia, được giao cho Hằng thân vương quản thúc.
* Ở tập 74, ép Chân Hoàn giết chết Doãn Lễ bằng rượu độc.
* Cuối đời, nghe theo đạo sĩ được sắp xếp bởi Chân Hoàn, Ung Chính chuyên dùng đan dược, trong đó trộn lẫn lưu huỳnhthủy ngân. Sau lại bị Ninh tần Diệp Lan Y dùng chu sa kích thích, thân thể nhìn ngoài kiện khang nhưng thực tế suy nhược trầm trọng.

Huyền Lăng
Lý Đông Học
李東學
Ái Tân Giác La Doãn Lễ
愛新覺羅•允禮
Ngưng Huy đường
(凝暉堂)
Quả quận vương (果郡王) → Quả thân vương (果親王)
Hoàng tử thứ 17 của Thanh Thánh Tổ Khang Hy hoàng đế, mẹ là Thư phi, là người Hán. Doãn Lễ tinh thông âm luật, giỏi thơ ca, theo phim truyện thì là người con rất được Khang Hy Đế sủng ái, do Thư phi là sủng phi của Khang Hy Đế. Điều này hoàn toàn là biên kịch/ tác giả Lưu Liễm Tử hư cấu, dựa vào nguyên tác Long Khánh Đế sủng ái Thư Quý phi Nguyễn thị mà thành.


* Trọng tình cảm, nhất kiến chung tình với Chân Hoàn. Khi Chân Hoàn tu hành ở Cam lộ tự, bị ức hiếp phải dời lên Lăng Vân phong, Doãn Lễ thường lui tới và nảy sinh tình cảm, sau chính thức yêu nhau (tập 49).
* Tập 65 xảy ra biến cố, thành hôn cùng lúc với Hoán BíchMạnh Tĩnh Nhàn, nhưng chỉ với vị trí Trắc phúc tấn.
* Sau ung Chính Đế phát hiện tình ý của Doãn Lễ đối với Chân Hoàn, bị điều đi trấn thủ Nhạn Môn quan. Sau 3 năm triệu về kinh sư, bị Ung Chính Đế ép Chân Hoàn hạ độc hại chết (tập 74). Khi phát tang cũng không thể công khai.
* Là cha ruột của Thế tử Nguyên Triệt (do Mạnh Tĩnh Nhàn sinh ra); Lục a ca Hoằng ChiêmLinh Tê công chúa.

Huyền Thanh
Lan Hi
斕曦
Thẩm Mi Trang
沈眉莊
Tồn Cúc đường
(存菊堂)
Túy Ngọc hiên
(碎玉軒)
Thẩm quý nhân (沈貴人) → Huệ quý nhân (惠貴人) → Thẩm đáp ứng (沈答應) → Huệ quý nhân (惠貴人) → Huệ tần (惠嬪) → Huệ phi (惠妃; truy phong) → Huệ quý phi (惠貴妃; truy phong)
Xuất thân Hán quân Tương hoàng kì, con gái của Hiệp lĩnh Tế Châu Thẩm Tự Sơn, con nhà gia giáo, đoan trang, tính tình khẳng khái, không tự hạ thấp mình cầu xin điều gì từ Hoàng đế. Mi Trang là chị em tốt của Chân Hoàn.


* Ban đầu nhập cung, là tân sủng đầu tiên của Ung Chính, rất có triển vọng và được Ung Chính lẫn Thái hậu sủng ái. Nơi ở Tồn Cúc đường là do chính Ung Chính sửa từ tên cũ. Lúc ban đầu, Thẩm Mi Trang đối với Ung Chính rất kính trọng và luôn mong muốn mình trở thành thế lực ban trợ Ung Chính, bảo vệ chị em tốt Chân Hoàn.
* Ở tập 15, bị Hoa phi vu cáo giả mang thai để tranh sủng nên bị Ung Chính giáng xuống làm Đáp ứng. Sau đó tình cảm lạnh nhạt với Ung Chính, do đau lòng khi xưa Ung Chính không tin tưởng mình. Khi bị Hoa phi đầu độc bởi đồ vật bị nhiễm bệnh, được Ôn Thực Sơ tận tình cứu chữa nên về sau Mi Trang đem lòng yêu mến Ôn Thực Sơ.
* Khi Chân Hoàn xuất cung, chăm sóc phủ dưỡng Thái hậu nên được phong làm Huệ tần. Rất quý mến và chăm sóc Lung Nguyệt công chúa trong thời gian Chân Hoàn ở Cam Lộ tự. Báo việc toàn gia họ Chân bị Hoàng hậu hãm hại, thúc đẩy ý định hồi cung của Chân Hoàn.
* Ở tập 59, cùng Ôn Thực Sơ tư thông và hoài thai, ngụy tạo là con của Ung Chính.
* Qua đời ở tập 64, do bị cung nữ của An Lăng Dung kích động qua sự kiện trích máu nghiệm thân, hãm hại Chân Hoàn của Hoàng hậu nên sinh khó băng huyết mà chết. Sinh ra công chúa duy nhất, gọi là Tịnh Hòa công chúa. Truy phong làm Huệ phi, sau nhờ Chân Hoàn nhắc nhở Ung Chính nên được truy phong làm Huệ Quý Phi.

Thẩm Mi Trang
Đào Hân Nhiên
陶昕然
An Lăng Dung
安陵容
Diên Hi cung
(延禧宮)
An đáp ứng (安答應) → An thường tại (安常在) → An quý nhân (安貴人) → An tần (安嬪) → Ly phi (鸝妃)
Xuất thân Hán quân Hạ ngũ kì, cùng với Chân Hoàn và Thẩm Mi Trang nhập cung, ban đầu là bộ ba chị em rất thân thiết. Trước khi cha là An Tỉ Hòe nhận quan tước Huyện thừa Tùng Dương, từng là lái buôn hương liệu, mẹ là Tô Châu kỹ nữ, rất rành rẽ hương liệu. Thân thể mỏng manh yếu đuối, có chất giọng trong trẻo.


* Do cha chỉ là Bát phẩm Huyện thừa, An Lăng Dung ban đầu vào cung rất bị khi dễ, tuy bên ngoài yếu đuối nhưng tâm can sâu thẳm, sinh ra hận thù vì cho rằng ai ai cũng khi dễ và lợi dụng mình.
* Bị Hoàng hậu phát hiện bùa chú yếm hại Hoa phi, An Lăng Dung trở thành con cờ trong tay Hoàng hậu, giúp Hoàng hậu mưu hại không chỉ Chân Hoàn mà còn toàn bộ các tần phi khác.
* Ở tập 26, là hung thủ ra tay với con mèo Tùng Tử, dùng hương liệu khiến nó trở tính, nhảy bổ vào Phú Sát quý nhân khiến Phú Sát thị bị sẩy thai.
* Khi Chân Hoàn mang thai lần đầu, bị chấn thương do vết mèo cào khi đỡ Phú Sát quý nhân, An Lăng Dung vờ mang keo liền sẹo đến, giúp trị vết thương. Thực chất bên trong có đầy xạ hương, khiến Chân Hoàn bị sảy thai ở tập 30. Trùng hợp việc này lại đổ tội được cho Hoa quý phi, khiến Hoa quý phi bị phế truất phong hiệu.
* Do dưới trướng Hoàng hậu, An Lăng Dung không thể hoài thai. Đến tập 67, Hoàng hậu dùng kế cho uống thuốc tọa thai có dược lực cực mạnh khiến An Lăng Dung mang thai, nhưng thai khí rất yếu, không thể giữ được đứa trẻ. Hoàng hậu nhân đó muốn hãm hại Chân Hoàn, thế nhưng sự việc không thành.
* Tập 68, Chân Hoàn tương kế tựu kế, vạch trần thủ đoạn của An Lăng Dung, khiến An thị bị giam ở Diên Hi cung, ngày ngày bị nô tài tát hai bên mặt. Sau đó nói chuyện với Chân Hoàn, ăn quả hạnh đắng tự sát.
* Trước khi chết, nói với Chân Hoàn “Hoàng hậu giết Hoàng hậu”, ám chỉ cái chết của Thuần Nguyên hoàng hậu.

An Lăng Dung

Đại Thanh hoàng tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn viên Nhân vật Cung điện cư trú Giới thiệu Nguyên tác nhân vật
Ô Lạt Na Lạp Nhu Tắc
(烏拉那拉•柔则)
Ung Thân vương phủ
(雍親王府)
Ung Thân vương Đích phúc tấn (雍亲王嫡福晋) → Thuần Nguyên hoàng hậu (純元皇后) → Hiếu Kính hoàng thái hậu (孝敬皇太后)
Mãn quân Tương hoàng kỳ Ô Lạt Na Lạp thị đích nữ, tiểu danh Uyển Uyển [菀菀], con gái chính thất, chị của Ô Lạt Na Lạp Nghi Tu, cháu gái của Thái hậu. Tính tình hòa nhã thiện lương, giỏi cầm kì thi họa, là tình yêu lớn nhất của Ung Chính.


* Nhân vật chưa từng xuất hiện trong phim, chỉ được nhắc đến qua hồi ức của các nhân vật Ung Chính, Nghi Tu và Thái hậu.
* Khi Nghi Tu mang thai lần đầu tiên, Nhu Tắc với danh nghĩa chị cả đến để bầu bạn cùng em gái ở Ung Thân vương phủ. Tại đây, Ung Chính đã gặp gỡ Nhu Tắc và nhất kiến chung tình.
* Ung Chính từng nói lập Nghi Tu thành Trắc phúc tấn trước, sau khi có vương tử thì sẽ lập làm Phúc tấn. Nhưng khi gặp gỡ và si mê Nhu Tắc, Ung Chính đổi ý quyết lấy Nhu Tắc. Theo thân phận "đích thứ khác biệt", Nhu Tắc trở thành "Đích phúc tấn", còn Nghi Tu trở thành "Trắc phúc tấn".
* Khi Nghi Tu mất đi đứa con ba tuổi Hoằng Huy, Nhu Tắc lại lập tức có thai, khiến Nghi Tu căm hận. Vì tinh thông y lý, Nghi Tu chủ động kề bên Nhu Tắc, ngầm thay đổi thực phẩm bổ thai thành các thực phẩm có tính hoại thai. Khiến Nhu Tắc khi lâm bồn trở nên đau đớn vô cùng. Sinh được một tử thai rồi qua đời không lâu sau đó.
* Trước khi chết, Nhu Tắc hấp hối nhắn nhủ Ung Chính: Thần thiếp mệnh bạc, không thể cùng Tứ lang đầu bạc răng long. Ngay cả đứa con của chúng ta cũng bảo vệ không được. Thần thiếp chỉ có duy nhất một người em gái là Nghi Tu. Tứ lang phải hứa rằng, phải thiện đãi em ấy, không được phế bỏ em ấy.
* Tập cuối, Tứ a ca được Chân Hoàn lập nên ngôi, tức Càn Long. Tân đế tôn Chân Hoàn làm "Thánh mẫu hoàng thái hậu", còn Thuần Nguyên hoàng hậu làm Hiếu Kính hoàng thái hậu.

Chu Nhu Tắc
Lưu Tuyết Hoa
劉雪華
Ô Nhã Thành Bích
(烏雅•成璧)
Thọ Khang cung
(壽康宮)
Nữ quan (女官) → Đức quý nhân (德貴人) → Đức tần (德嬪) → Đức phi (德妃) → Hoàng thái hậu (皇太后) → Hiếu Cung thái hậu (孝恭太后; truy phong)
Mãn quân Chính hoàng kỳ Ô Nhã thị thứ nữ, phi tần của Thanh Thánh Tổ Khang Hi hoàng đế, mẹ sinh của Ung Chính, biểu cô của Thuần Nguyên hoàng hậuNghi Tu. Không chuyện gì là không biết, tâm kế cao sâu.


* Năm xưa, cùng Long Khoa Đa có quan hệ ân ái, về sau bị Long Khoa Đa lợi dụng đưa vào cung, phò giúp chị của ông ta là Hiếu Ý Nhân hoàng hậu Đông Giai thị, dưỡng mẫu của Ung Chính khi còn thiếu thời. Tranh chấp sủng vị cùng Thư phi, Ôn Hi quý phiLương phi, cực kì trải nghiệm.
* Biết rõ mọi việc làm của Nghi Tu, song vì vinh quang của Ô Lạt Na Lạp thị và Ô Nhã thị, bà nhắm mắt làm ngơ hết mọi việc. Ngay cả việc Nghi Tu hại chết Thuần Nguyên hoàng hậu, bà cũng rất rõ.
* Ở tập 49, sau khi giết chết Niên Canh Nghiêu, Ung Chính ám thị Thái hậu phải thủ tiêu Long Khoa Đa. Sau khi rượu độc chết Long Khoa Đa, bà ngã bệnh triền miên do thương nhớ.
* Trước khi qua đời, lập di chiếu cản trở Ung Chính không được phế bỏ Nghi Tu, bảo vệ toàn vẹn vinh hoa của Ô Lạt Na Lạp thị và Ô Nhã thị. Cuối cùng, Ung Chính giam cầm vĩnh viễn Nghi Tu trong Cảnh Nhân cung.

Chu Thành Bích
Lưu Nham
劉岩
Thư Thái phi
(舒太妃)
An Tê quán
(安棲觀)
Thư phi (舒妃) → Thư thái phi (舒太妃) → Trùng Tĩnh nguyên sư (冲静元师)
Hán quân Hạ ngũ kỳ xuất thân, phi tần rất được sủng ái của Thanh Thánh Tổ Khang Hi hoàng đế, mẹ sinh của Doãn Lễ.


Tính tình hòa nhã, vô tranh với đời, sau khi Tiên đế băng thì xin xuất cung tu hành. Có tình cảm đặc biệt sâu đậm với Tiên đế.

Nguyễn Yên Nhiên
Lam Doanh Oánh
藍盈瑩
Hoán Bích
(浣碧)
Nữu Hỗ Lộc Ngọc Ẩn
(钮祜禄•玉隱)
Chân phủ
(甄府)
Túy Ngọc hiên
(碎玉軒)
Vĩnh Thọ cung
(永壽宮)
Quả quận vương phủ Thường Thanh các
(果郡王府常青閣)
Chân Hoàn bồi giá thị nữ (甄嬛陪嫁侍女) → Quả quận vương Trắc phúc tấn (果郡王侧福晋)
Chân Hoàn nghĩa muội, Chân Ngọc Nghiêu nghĩa tỉ, thực chất là chị em ruột cùng cha khác mẹ của Chân Hoàn và Ngọc Nghiêu. Mẹ của Hoán Bích là một nữ tữ xuất thân con nhà tội thần, do Chân Viễn Đạo lén lút tư thông mà có Hoán Bích.


* Cùng với Lưu Châu là bồi giá thị nữ của Chân Hoàn, rất được Chân Hoàn tín nhiệm. Từng có thời gian đố kị Chân Hoàn và tiếp cận Ung Chính, nhưng về sau chuyển tâm tư đến với Quả quận vương Doãn Lễ.
* Ở tập 66, Doãn Lễ bị phát hiện hình nhân bằng giấy giống Chân Hoàn được cất giữ trong túi thơm, Hoán Bích liền đứng ra nhận thay. Thuận theo đó, Chân Hoàn nhận Hoán Bích làm nghĩa muội, cho vào tộc phả Nữu Hỗ Lộc thị, sau đó cải danh thành Ngọc Ẩn [玉隱].
* Ở tập 74, Doãn Lễ bị Ung Chính ép buộc rượu độc, Ngọc Ẩn vì đau thương quá độ mà tự sát theo cùng. An táng theo nghi lễ của Đích phúc tấn.

Hoán Bích
Dương Kì
楊淇
Mạnh Tĩnh Nhàn
(孟靜嫻)
Quả quận vương phủ
(果郡王府)
Quả quận vương Trắc phúc tấn (果郡王側福晉)
Con gái của Phái quốc công, tâm tính thiện lương, mẹ sinh của Nguyên Triệt.


* Từ lâu ngưỡng mộ tài danh của Doãn Lễ, nên nhất quyết không xuất giá. Khi nghe tin Doãn Lễ cưới Hoán Bích, tâm trạng tuyệt vọng. Phái quốc công vì yêu thương con gái mà cầu xin Ung Chính ban hôn, nguyện lấy thân phận tỳ thiếp vào phủ. Cuối cùng, cùng lúc nhập phủ với Hoán Bích, phân vị Trắc phúc tấn.
* Ở tập 71, do nếm dùm thức ăn cho Hoằng Chiêm mà bị dính độc Hạc đỉnh hồng, sau khi sinh ra Nguyên Triệt thì qua đời.

Vưu Tĩnh Nhàn
Điền Tây Bình
田西平
Ái Tân Giác La Doãn Ngã
(愛新覺羅•允䄉)
Đôn Thân vương phủ
(敦親王府)
Đôn quận vương (敦郡王) → Đôn thân vương (敦親王)
Con trai thứ 10 của Thanh Thánh Tổ Khang Hi hoàng đế, mẹ là Ôn Hi quý phi Nữu Hỗ Lộc thị, con gái của Át Tất Long, em gái của Hiếu Chiêu Nhân hoàng hậu. Tính tình uy vũ, không nhường nhịn ai, tự cao tự đại do mẹ là Ôn Hy quý phi xuất thân cao, mà thái hậu Ô Nhã thị khi xưa từng là Thị nữ hầu học cho Hiếu Chiêu Nhân hoàng hậu.


* Sau khi Ung Chính lên ngôi, luôn có ý chống đối. Liên kết với Niên Canh Nghiêu, có giao hảo tốt.
* Ở tập 39, mưu đồ phản nghịch, bị tước hết chức vị và ban chết.

Nhữ Nam vương Huyền Tế
Điền Phác Quân
田樸珺
Đôn thân vương Phúc tấn
(敦親王福晉)
Đôn Thân vương phủ
(敦親王府)
Đôn thân vương Phúc tấn Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (敦親王福晉博爾濟吉特氏)
Con gái hoàng thân Mông Cổ, hiền lương thục đức, thông tuệ hơn người. Khi Chân Hoàn bị thất thế (tập 33), từng có đến thăm vọng, rất được Chân Hoàn tôn trọng.


* Ở tập 35, Đôn thân vương đánh Ngôn quan Ngự sử đại phu, triều đình không yên, Chân Hoàn thuyết phục Phúc tấn khuyên Đôn thân vương đến cửa tạ lỗi, sự việc mới xong.

Nhữ Nam vương phi Hạ thị
Vương Dân
王民
Ái Tân Giác La Doãn Kì
(愛新覺羅•允祺)
Hằng thân vương (恒親王)
Con trai thứ 5 của Thanh Thánh Tổ Khang Hi hoàng đế, mẹ là Nghi phi Quách Lạc La thị, anh trai cùng mẹ với Cửu a ca Doãn Đường. Tính tình cương trực, hay cười cười nói nói với cung nhân trong cung.


* Ở tập 76, chất vấn Hi Quý phi Nữu Hỗ Lộc Chân Hoàn trong việc truyền kế vị cho Tứ a ca Hoằng Lịch.

Kì Sơn vương Huyền Tuân
Khang Phúc Chấn
康福震
Ái Tân Giác La Doãn Hi
(愛新覺羅•允禧)
Thận bối lặc (慎貝勒) → Thận quận vương (慎郡王)
Con trai thứ 21 của Thanh Thánh Tổ Khang Hi hoàng đế, mẹ là Hi tần Trần thị, người Hán.


* Cùng với Chân Ngọc Nghiêu có tình cảm. Được Ung Chính ban hôn ở tập 66. Sau do duyên cớ Trung quân Ái quốc (ở tập 73) mà ban tặng tước Quận vương.
* Chỉ có một con gái, lấy Nguyên Triệt con trai của Quả quận vương làm con thừa tự.

Bình Dương vương Huyền Phần
Từ Lộ
徐璐
Chân Ngọc Nghiêu
(甄玉嬈)
Nữu Hỗ Lộc Ngọc Nghiêu
(钮祜禄•玉嬈)
Chân phủ
(甄府)
Vĩnh Thọ cung Vĩnh Bảo đường
(永壽宮永寶堂)
Thận quận vương Phúc tấn (慎郡王福晉)
Con gái út trong gia đình họ Chân, em gái của Chân Hoàn và Hoán Bích. Tính tình mạnh mẽ, dung mạo xinh đẹp, không yêu thích làm tì thiếp của người khác.


* Dung mạo tương tự Thuần Nguyên hoàng hậu, được Ung Chính có ý nạp làm Tần phi. Sau Ngọc Nghiêu khéo léo từ chối, lại lợi dụng được sự sủng ái của Ung Chính mà khiến gia đình được giải oan, Qua Nhĩ Giai thị gia tộc toàn bộ bị trảm sát.
* Cùng Thận bối lặc Doãn Hi tương ái, được Ung Chính tứ hôn (ở tập 66). Án theo nghi lễ của Đa La cách cách (多羅格格)[2] mà chuẩn bị.

Chân Ngọc Nghiêu
Ổ Lập Bằng
鄔立鵬
Ái Tân Giác La Hoằng Thời
(愛新覺羅•弘時)
A Ca sở
(阿哥所)
Tam a ca (三阿哥)
Con trưởng thành niên của Ung Chính, mẹ là Tề phi Lý thị, con gái Tri phủ Lý Văn Phúc. Sau khi Tề phi tự sát, được Hoàng hậu Nghi Tu nuôi dưỡng.


* Tính tình nhút nhát, do không dụng công chăm học nên không được Ung Chính yêu thích. Trong tập 69, cự tuyệt cháu gái của Hoàng hậu là Thanh Anh, đem lòng yêu thích sủng thiếp của cha mình là Anh Quý nhân. Khiến Anh Quý nhân bị ban chết.
* Trong tập 71, do bị Tứ a ca Hoằng Lịch ngầm hại, xin Ung Chính tha bổng cho Doãn Tự, Doãn Đề cùng Hoàng hậu, bị Ung Chính đại nộ mà tước đi Hoàng đái, giáng làm con trai của Doãn Tự, đưa cho Hằng thân vương giáo dưỡng.

Dữ Li
Vương Văn Kiệt
王文杰
Ái Tân Giác La Hoằng Lịch
(愛新覺羅•弘曆)
Viên Minh viên
(圓明園)
A Ca sở
(阿哥所)
Dưỡng Tâm điện
(養心殿)
Tứ a ca (四阿哥) → Bảo thân vương (寶親王) → Thanh Cao Tông Càn Long hoàng đế
Con trai thứ hai thành niên của Ung Chính. Mẹ là cung nữ Lý Kim Quế, một cung nữ xấu xí của Nhiệt Hà hành cung. Sau khi sinh Hoằng Lịch, băng huyết mà chết, Hoằng Lịch từ đó được các Nhũ mẫu nuôi dưỡng trong Viên Minh viên.


* Ung Chính khi còn là Thân vương, do say sỉn đã lâm hạnh cung nữ xấu xí Lý thị, chuyện này đến tai Thánh Tổ Khang Hi do Bát thân vương Dận Tự mách lẻo, khiến Ung Chính suýt nữa bị phế truất. Do đó Ung Chính rất không thích Tứ a ca, luôn để trong Viên Minh viên nuôi dưỡng.
* Từ nhỏ tự ti vì xuất thân, sau được Ung Chính ban chỉ, nhận Hi Quý phi Nữu Hỗ Lộc Chân Hoàn làm mẹ ruột.
* Tài trí thông minh, nhưng luôn biết phấn đấu và ẩn mình, không lộ rõ tâm cơ. Cùng Chân Hoàn lên mưu kế hạ bệ Tam ca va Hoằng Thời, từ đó khiến Hoàng hậu không còn căn cơ nương tựa.

Dữ Nhuận

Tuyến nhân vật hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tề Nguyệt Tân (齊月賓): nguyên là Đoan phi (端妃), là phi tần của Ung Chính khi còn ở tiềm để. Tính tình rất hiền từ lương thiện, quý mến Chân Hoàn, yêu trẻ con. Xưa bị Ung Chính (lúc còn là Ung Thân vương) mượn tay loại bỏ cái thai của Niên Thế Lan. Sau bị Niên thị trả thù, chuốc độc hồng hoa nên cả đời đau ốm, vô sinh. Sau khi Tương Tần mất được giao nuôi Ôn Nghi công chúa. Từ vị Đoan phi, trở thành Hoàng quý phi rồi Hoàng quý thái phi (皇貴太妃). Nơi ở Diên Khánh điện (延慶殿).
  • Phùng Nhược Chiêu (馮若昭): nguyên là Kính tần (敬嬪), phi tần của Ung Chính khi còn ở tiềm để, ngụ tại Hàm Phúc cung (咸福宮), sau được sắc phong Kính phi (敬妃), Kính quý phi (敬貴妃), cuối phim trở thành Kính Quý thái phi (敬貴太妃). Tính tình hiền từ nhưng khôn ngoan, không tranh sủng với các phi tần khác, đứng về phía Chân Hoàn. Sau khi Chân Hoàn đến Cam lộ tự thì Kính phi trở thành dưỡng mẫu của Lung Nguyệt công chúa. Có một thời gian Chân Hoàn giận Kính phi vì Lung Nguyệt gần gũi Kính phi và xa lạ với mẹ đẻ là Chân Hoàn nhưng 2 người sớm hóa giải hiểu lầm và lấy lại hòa khí.
  • Diệp Lan Y (葉瀾依): vốn là một cung nữ thuần dưỡng ngựa, sau trở thành phi tần của Ung Chính. Tính tình thẳng thắn, cương trực, lúc nào cũng lạnh lùng nên được Ung Chính yêu thích nhưng cô một lòng một dạ yêu Quả quận vương Doãn Lễ. Ban đầu ác cảm với Chân Hoàn vì chứng kiến Doãn Lễ đau khổ khi nàng hồi cung nhận sắc phong Hi Quý phi, nhưng về sau luôn đồng cảm và bảo vệ Chân Hoàn (điển hình là vụ Chân Hoàn bị vu khống tư thông với Ôn Thái y). Sau cô căm hận Ung Chính hạ độc Doãn Lễ mà ngấm ngầm đầu độc Ung Chính bằng chu sa. Khi Càn Long Đế lên ngôi thì tự sát. Từ vị Đáp ứng, trở thành Ninh quý nhân (寧貴人) và Ninh tần (寧嬪). Ngụ tại Xuân Hỉ điện (春禧殿).
  • Dư Oanh Nhi (余鶯兒): cung nữ ở Ỷ Mai viên, giả mạo là người gặp gỡ Ung Chính trong đêm giao thừa nên được phong là Quan nữ tử (官女子), rồi Dư đáp ứng (余答應). Vì có tài hát Côn khúc nên được phong là Diệu Âm nương tử (妙音娘子). Bị Hoa phi lợi dụng hại Chân Hoàn. Sau này bị Ung Chính ban chết ở lãnh cung. Ngụ tại Chung Túy cung (鍾粹宮).
  • Qua Nhĩ Giai Văn Uyên (瓜爾佳·文鴛): sơ phong Kỳ quý nhân (祺貴人), là con gái của Ngạc Mẫn (鄂敏), kẻ vu oan cha của Chân Hoàn là Chân Viễn Đạo. Vì hận Chân Hoàn dành chủ Trữ Tú cung cho Hân quý nhân, cô đã vu cáo Chân Hoàn tư thông Ôn Thực Sơ, kết cục là bị giam vào lãnh cung. Ung Chính nhân việc Văn Uyên bất kính mà điều tra lại vụ án Ngạc Mẫn vu oan Chân Viễn Đạo. Kết cục Ngạc Mẫn tuyệt vọng tự sát trong ngục, toàn bộ gia tộc Qua Nhĩ Giai thị đều bị xử tội. Qua Nhĩ Giai Văn Uyên trốn khỏi lãnh cung đến cầu xin tha cho người nhà nhưng sau bị đánh chết. Từ vị Kỳ quý nhân, sắc phong làm Kỳ tần (祺嬪), rồi lại giáng làm Quý nhân. Ngụ tại Trữ Tú cung (儲秀宮).
  • Tào Cầm Mặc (曹琴默): sơ phong Quý nhân, là phi tần của Ung Chính khi còn ở tiềm để, có con gái là Ôn Nghi công chúa. Nàng là cánh tay đắc lực của Hoa phi, nuôi tham vọng và dã tâm lớn với mục đích bảo vệ Ôn Nghi công chúa. Sau phản lại Hoa phi, liên thủ với Chân Hoàn. Vì có công vạch tội Hoa phi, được phong làm Tương tần (襄嬪). Cuối cùng bị Hoàng đế và Hoàng thái hậu sai người bên cạnh hạ độc chết. Ngụ tại Cảnh Dương cung (景陽宫).
  • Tề phi (齊妃): đứng về phía Hoàng hậu, kém cỏi và ngu ngốc, mẹ của Tam a ca, trưởng hoàng tử của Ung Chính. Sau bị Hoàng hậu ép phải tự sát để giành nuôi Tam a ca Hoằng Thời và không muốn Tề Phi lên ngôi Thái Hậu cùng mình. Ngụ ở Trường Xuân cung (長春宮).
  • Phương Thuần Ý (方淳意): sơ phong Thuần thường tại (淳常在), tâm tính ngây thơ và lương thiện, trẻ con, rất quý Chân Hoàn. Vì nghe được việc Hoa Phi ăn hối lộ nên bị Châu Ninh Hải - công công theo hầu Hoa phi dìm nước chết. Truy phong làm Thuần quý nhân (淳貴人).
  • Lữ Doanh Phong (欣貴人): sơ phong Hân quý nhân,một phi tần không được sủng ái nhưng vẫn trụ vững để trở thành thái tần khi Càn Long kế vị. Bình an mà sống trong cung, không tranh sủng với ai, cũng không khinh khi ai. Giữ đúng lễ nghĩa, đúng bổn phận của mình. Từ vị Hân quý nhân, dần thành Hân tần (欣嬪) rồi Hân thái tần (欣太嬪). Ngụ tại Trữ Tú cung (儲秀宮).
  • Lệ tần (麗嬪): một phi tần dưới trướng của Hoa Phi, vì nghe lời Hoa Phi hãm hại Chân Hoàn nên bị Chân Hoàn dọa ma đến mức phát điên, phải sống trong lãnh cung suốt đời. Ngụ tại Khải Tường cung (啟祥宮).
  • Kiều Tụng Chi (喬頌芝): vốn là thị nữ hồi môn của Hoa phi, sau Hoa phi bị thất sủng phải cất nhắc Tụng Chi hầu Ung Chính. Sau lần thị tẩm Tụng Chi được phong làm Đáp ứng (答應), đoạt được sự sủng ái nhất thời của Ung Chính. Tuy nhiên Ung Chính chỉ sủng hạnh cô để anh em Niên tướng quân và Hoa phi mất cảnh giác. Sau khi Hoa phi bị phế làm Đáp ứng thì trở lại làm cung nữ hầu hạ nàng.
  • Phú Sát Nghi Hân Phú Sát quý nhân 饰 富察·仪欣(富察贵人): phi tần cùng đợt nhập cung với Chân Hoàn. Xuất thân danh giá nên ngạo mạn. Khi được mang long thai, càng ỷ sủng sinh kiêu, nên bị An Lăng Dung gián tiếp hại sảy thai. Sau vì sinh sự với Chân Hoàn, bị Chân Hoàn dọa đến phát điên, bị cấm túc giam lỏng trong cung suốt đời. Ngụ tại Diên Hi cung (延禧宮).
  • Hạ Đông Xuân (夏冬春): sơ phong Thường tại (常在), phi tần ở đợt tuyển đầu, tính tình tự cao, do một lần gây rối trong cung nên đã bị Hoa phi ban Nhất Trượng Hồng mà trở nên tàn phế, bị đày vào lãnh cung. Ngụ tại Diên Hi cung (延禧宮).
  • Giang Thái Tần (采蘋): vốn là cung nữ phủ Quả quận vương, sau được Trắc phúc tấn Ngọc Ẩn (tức Hoán Bích) đưa vào cung làm Đáp ứng (答應), nhằm làm tai mắt cho phủ Quả quận ương. Tính tình thùy mị ôn nhu, có tài đánh đàn tranh, được Tam A ca Hoằng Thời đem lòng thương nhớ. Sau vì bức thư tình của Tam A ca mà bị Ung Chính ban lụa trắng. Phong hiệu là Anh (瑛), từ vị Anh đáp ứng trở thành Anh quý nhân (瑛貴人), ngụ tại Trường Xuân cung (長春宮)
  • Trinh tần
  • Khang thường tại

Tuyến nhân vật khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thôi Cận Tịch (崔槿汐): cung nữ chưởng sự của Chân Hoàn. Một lòng trung thành với Chân Hoàn, kể cả khi cô rời cung cũng vẫn theo hầu.
  • Ôn Thực Sơ (溫實初): Thái y của hoàng cung, thanh mai trúc mã của Chân Hoàn, yêu Chân Hoàn say đắm, song lại say rượu tư thông với Thẩm Mi Trang khiến Mi Trang mang thai Tịnh Hòa công chúa. Trong một lần bị vu oan, vì muốn chứng tỏ mình không có tình ý với Chân Hoàn mà dẫn đao tự cung. Mi Trang nghe tin trở nên hoang mang, sinh non rồi chết, lúc này Thực Sơ nhận ra có tình cảm với Mi Trang cũng là lúc âm dương cách biệt, nguyện thủ lăng cho Mi Trang cả đời.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Không quy tụ dàn diễn viên ngôi sao danh giá, Chân Hoàn truyện gặt hái thành công nhờ sở hữu dàn diễn viên thực lực và có phong cách riêng. Nhân vật chính Chân Hoàn được Tôn Lệ biến hóa rất linh hoạt, nhất là Tôn Lệ đã đánh dấu rất ấn tượng từng chặng đường tính cách, nhận thức và quá trình thay đổi của nhân vật Chân Hoàn, Tôn Lệ đã để lại vai diễn mang đậm dấu ấn trong sự nghiệp của bản thân. Nhân vật Ung Chính được Trần Kiến Bân thể hiện bằng sự lạnh lùng tàn nhẫn, tuy được so sánh với rất nhiều Ung Chính do các diễn viên khác thủ vai nhưng Trần Kiến Bân vẫ để lại hình ảnh một Hoàng đế lạnh lùng và tàn nhất rất riêng biệt. Nói về Hoàng hậu của Thái Thiếu Phân, Thái Thiếu Phân là một "đàn chị" trong việc thể hiện phong cách mẫu nghi thiên hạ của Hoàng hậu Nghi Tu, tuy nhiên, lời thoại đôi khi không khớp với khẩu hình nhân vật vì Thái Thiếu Phân vốn là diễn viên Hồng Kông nổi tiếng và vì bộ phim sử dụng Tiếng Trung Quốc phổ thông. Những vai diễn khác cũng rất ấn tượng, tuy chỉ là vai phụ nhưng các nhân vật đều được thể hiện với tính cách riêng, dấu ấn riêng đặc trưng cho từng nhân vật, trong đó không thể không nhắc đến diễn viên gạo cội Lưu Tuyết Hoa.

Bên cạnh đó, bộ phim được quay chủ yếu tại Phim trường Hoành Điếm. Phục trang và dựng cảnh cũng là một trong những thế mạnh đáng chú ý của bộ phim, trang phục dành cho các vị Phi tần, Hoàng hậu rất tinh xảo và sinh động, đẹp mắt, các trang sức, mũ cát phục, Hoàng phục và Cát phục hoàng gia đến Hộ giáp, giày đều được đầu tư rất kĩ từng chi tiết. Đạo diễn, các diễn viên cùng ê kíp đoàn phim đã tham khảo và học hỏi các nhà sử gia rất kĩ lưỡng để bộ phim trông thực và hợp lý, từ văn nghệ, tuồng kịch, trang sức, cống phẩm... Bộ phim thắng lợi ở Nhật và sắp được biên tập rút ngắn và lồng tiếng Anh để phát sóng tại Mỹ.

Tuy nhiên, phim cũng nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ các "tín đồ" ngôn tình. Vì chăng trong tiểu thuyết hình ảnh "Hoàng thượng" được miêu tả với vẻ ngoài khá trái ngược với Trần Kiến Bân. Theo đạo diễn thì đây là ý đồ riêng của ông: " Tôi muốn quay một bộ cổ trang mang ý phê phán. Bởi mấy bộ cổ trang gần đây của chúng ta quá nửa là ca tụng, phần lớn là tâng bốc. Bao gồm một số hoàng thượng vừa trẻ, vừa đẹp, vừa chung tình. [...] tôi thấy thực tế tạo vấn đề rất lớn. Có một số cô gái muốn theo tiểu thuyết đâm đầu xuống giếng để xuyên về (quá khứ - người viết chú thích). Kết cục là bị chết chìm." vì vậy ông muốn tạo ra một bộ phim trần chân thực nhất,trụi nhất,gần với thực tế lịch sử nhất.

Khi công chiếu ở phương Tây, phim bị đánh giá là quá dài, quá nhiều tâm lý, lời thoại phức tạp, nội dung đơn điệu... Nhìn chung đay là những đánh giá khi phim Trung Quốc được giới thiệu ở các nước châu Âu hay Mỹ - nơi có nền điện ảnh thiên về hành động, nhẹ về tâm lý, nội tâm

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim có sử dụng các ca khúc:

  • Kiếp hồng nhan (紅顏劫) - Diêu Bối Na (姚貝娜) thể hiện.
  • Phượng hoàng vu phi (鳳凰于飛) - Lưu Hoan (劉歡) thể hiện.
  • Bồ tát man (菩薩蠻) - Diêu Bối na (姚貝娜), Lưu Hoan (劉歡) thể hiện.
  • Kinh hồng vũ (驚鴻舞) - Diêu Bối Na (姚貝娜) thể hiện.
  • Thái liên (採蓮) - Diêu Bối Na (姚貝娜) thể hiện.
  • Kim lâu y (金縷衣) - Diêu Bối Na (姚貝娜) thể hiện.

(Trong đó, ca khúc chủ đề mở màn là "Kiếp hồng nhan" có chung giai điệu và khác lời với ca khác "Bồ tát man", ca khúc "Bồ tát man" được sử dụng làm nhạc nền của một số cảnh trong bộ phim và phổ nhạc từ bài thơ của nhà thơ Ôn Đình Quân.)

Và nhiều bản nhạc không lời, đều do Lưu Hoan (劉歡) sáng tác:

  • Quân lâm thiên hạ (君臨天下)
  • Trường y cô chẩm (長夜孤枕)
  • Hà biên khuynh tố (河邊傾訴)
  • Thiếp tùy quân khứ (妾隨君去)
  • Tú nữ nhập cung (秀女入宮)
  • Phong tuyết sơn lâm (風雪山林)
  • Nữ nhi lụy liên (女兒淚漣)
  • Tâm tâm tương y (心心相依)

"Tâm tâm tương y" chính là phần nhạc của bài "phượng hoàng vu phi". "Quân lâm thiên hạ" và "Tú nữ nhập cung" có giai điệu gần giống nhau.

Công chiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim đã được phát lại nhiều lần ở nhiều đài truyền hình địa phương tại Trung Quốc Đại lục. Sau thành công ở nội địa, phim tiếp tục gây cơn sốt ở Đài Loan, Nhật BảnHàn Quốc tạo nên cơn sốt cắt mắt hai mí giống đôi mắt của diễn viên Tôn Lệ vai Chân Hoàn, số ca cắt mắt tăng 30% so với cùng kỳ. Ngoài ra, phim còn được biên tập từ 76 tập rút thành 6 tập, mỗi tập 90 phút và có thêm một số cảnh bổ sung để phát sóng ở Mỹ. Bộ phim cũng đã được trình chiếu lần đầu tiên tại Việt Nam trên kênh THVL1 từ 23 tháng 6 năm 2013 với nhan đề Sóng gió hậu cung. Năm 2015, Truyền hình Hà Nội chiếu lại bộ phim với tên Chuyện hậu cung.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ ““湖州籍80后作家吴雪岚创作电视剧热播””. 南海网. 14/12/2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  2. ^ Đa La cách cách (多羅格格) là tiếng Mãn Châu, nghĩa tương ứng với Huyện chúa (縣主). Theo Thanh triều chế độ, con gái của Thế tử và Quận vương mới được phong tước vị này.