Hiếu Từ Cao Hoàng hậu (Thanh Thái Tổ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hiếu Từ Cao Hoàng hậu
孝慈高皇后
Thanh Thái Tổ Đích Phúc tấn
Thông tin chung
Phối ngẫuThanh Thái Tổ
Nỗ Nhĩ Cáp Xích
Hậu duệThanh Thái Tông
Tên đầy đủ
Mạnh Cổ Triết Triết
(孟古哲哲)
Thụy hiệu
Hiếu Từ Chiêu Hiền Thuần Đức Trinh Thuận Thừa Thiên Dục Thánh Vũ Hoàng hậu
(孝慈昭憲純德貞順承天育聖武皇后)
Hiếu Từ Chiêu Hiến Kính Thuận Nhân Huy Ý Đức Hiến Khánh Thừa Thiên Phụ Thánh Cao Hoàng hậu
(孝慈昭憲敬順仁徽懿德顯慶承天輔聖高皇后)
Thân phụDương Cát Nỗ
Sinh1575
Diệp Hách, Hải Tây Nữ Chân
Mất31 tháng 10 năm 1603
Hách Đồ A Lạp, Kiến Châu Nữ Chân
An tángPhúc lăng (福陵)

Hiếu Từ Cao Hoàng hậu (chữ Hán: 孝慈高皇后, tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᡤᠣᠰᡳᠨ
ᡩᡝᡵᡤᡳ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
, Möllendorff: hiyoošungga gosin dergi hūwangheo, Abkai: hiyouxungga gosin dergi hvwangheu; 1575 - 31 tháng 10 năm 1603), là một Đại phúc tấn của Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích, đồng thời là sinh mẫu của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực, hoàng đế sáng lập ra triều đại nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Bà chưa từng làm Hoàng hậu khi còn sống, thụy hiệu của bà được truy phong bởi Hoàng Thái Cực sau khi đã qua đời. Vì là sinh mẫu của hoàng đế, bà trở thành vị Đại phúc tấn đầu tiên của Hậu Kim được truy phong thụy hiệu Hoàng hậu dưới thời nhà Thanh, và gần như là duy nhất.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Từ Cao Hoàng hậu nguyên danh Mạnh Cổ Triết Triết (chữ Hán: 孟古哲哲, tiếng Mãn: ᠮᠣᠩᡤᠣᠵᡝᠵᡝ, Möllendorff: Monggojeje), xuất thân từ bộ tộc Diệp Hách Na Lạp, sinh ra vào năm Vạn Lịch thứ 3 (1575), cha bà là Bối lặc Dương Cát Nỗ. Năm Vạn Lịch thứ 16 (1588), tháng 10, bà được gả cho Nỗ Nhĩ Cáp Xích vào năm 13 tuổi[1]. Tính tình bà ổn trọng, biết cư xử, không can dự chuyện bên ngoài[2].

Năm thứ 20 (1592), tháng 10, bà sinh hạ con trai thứ 8 cho Nỗ Nhĩ Cáp Xích là Hoàng Thái Cực. Đây là người con duy nhất của bà, về sau bà không hoài thai lần nữa.

Năm Vạn Lịch thứ 31 (1603), ngày 27 tháng 9 (âm lịch), Nỗ Nhĩ Cáp Xích tấn công Diệp Hách bộ tộc, Mạnh Cổ Triết Triết qua đời trong sự thù hận[3], hưởng dương 28 tuổi. Niềm an ủi lớn nhất của bà là Hoàng Thái Cực, con trai bà về sau trở thành Đại hãn Hậu Kim, và nhiều năm sau đó trở thành Hoàng đế đầu tiên của triều Thanh.

Thân phận tranh luận[sửa | sửa mã nguồn]

Việc Mạnh Cổ Triết Triết sinh thời có được phong Đại phi (大妃) hay Đại Phúc tấn không vẫn đang được các sử gia tranh luận, vì xét trình tự thời gian, bà qua đời sớm hơn Kế phi Phú Sát Cổn Đại những 17 năm. Kế phi mắc tội nên bị phế và ban chết năm Thiên Mệnh thứ 5 (1620), vào năm Mạnh Cổ Triết Triết qua đời, Phú Sát Cổn Đại vẫn chưa bị phế nên về lý, Mạnh Cổ Triết Triết không thể là Đại phi. Tuy nhiên, căn cứ vào việc Phú Sát Cổn Đại được an táng tại thành Hách Đồ A Lạp, có thuyết cho rằng bà đã mất vào trước năm Thiên Mệnh thứ 4 (1619), khi đó Hậu Kim vẫn đang định đô tại đây[4].

Ngoài ra, có một điểm cần lưu ý là ở xã hội Mãn Châu trước khi nhập quan, quý tộc thừa hành chế độ [Một chồng, nhiều vợ, nhiều thiếp], một lúc có thể có hơn 1 chính thất và tất cả đều xưng là Phúc tấn. Trong chế độ này, giữa các Phúc tấn với nhau không phân biệt Đích-thứ rõ rệt, nếu cùng là Phúc tấn (có cưới gả đàng hoàng) thì được xem như nhau, con cái sinh ra cũng đều có quyền thừa kế. Nhân tư liệu lịch sử khuyết thiếu, giới giáo dục Trung Quốc hay đem chuyện Đích-thứ thuần Trung Nguyên mà lý giải địa vị các Phúc tấn thời trước Thanh, dẫn đến nhiều nhầm lẫn. Hơn nữa, thời điểm bà qua đời thì Nỗ Nhĩ Cáp Xích vẫn chưa xưng Đại hãn. Khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích lên ngôi Đại hãn, lập nên Hậu Kim, chính thê của Đại hãn được gọi là Đại Phúc tấn (大福晋), còn lại xưng là Trắc Phúc tấn (侧福晋) và Thứ Phúc tấn (庶福晋), lúc này Đích-thứ khác biệt mới hình thành.

Sách Mãn Châu thực lục (满洲实录) hoàn thiện thời Hoàng Thái Cực, ghi lại Mạnh Cổ Triết Triết có danh xưng [Dulimbai amba fujin], tức Trung thất Đại Phúc tấn (中室大福晋). Còn sách Thanh sử cảo viết: "sau khi Mạnh Cổ Triết Triết qua đời, Ô Lạt Na Lạp A Ba Hợi được lập làm Đại Phúc tấn thay thế, còn gọi là Đại phi (大妃)"[5][6]. Như vậy có thể thấy rõ, vị thế Mạnh Cổ Triết Triết chính là Đại Phúc tấn, không kém gì Cổn Đại hay A Ba Hợi.

Truy phong[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Sùng Đức nguyên niên (1606), ngày 16 tháng 5, Hoàng Thái Cực đăng vị Hoàng đế theo thể chế Trung nguyên, lập ra triều Thanh. Với tư cách là sinh mẫu của Hoàng đế, Mạnh Cổ Triết Triết được truy phong thụy hiệuHiếu Từ Chiêu Hiến Thuần Đức Chân Thuận Thừa Thiên Dục Thánh Vũ Hoàng hậu (孝慈昭宪纯德真顺承天育圣武皇后), phối hưởng Thái Miếu và cho cải táng mộ phần của bà, dời từ vùng Man Sơn của thành Hách Đồ A Lạp đến Phúc lăng (福陵).

Bà là vị Đại phúc tấn đầu tiên được truy phong thụy hiệu Hoàng hậu dưới thời nhà Thanh. Điều này không thường xảy ra với các Đại phúc tấn Hậu Kim, dù họ đều là chính thê của Đại hãn, thậm chí một số vị còn là Nguyên phi, tức "người vợ đầu tiên", thân phận hơn hẳn Mạnh Cổ Triết Triết khi còn sống. Mặc dù năm Thuận Trị thứ 7 (1650), Kế phi A Ba Hợi của Nỗ Nhĩ Cáp Xích cũng được truy phong hậu vị năm và thờ phụng trong Thái Miếu, nhưng một năm sau A Ba Hợi lại bị truy phế và trục xuất bài vị. Mạnh Cổ Triết Triết gần như trở thành vị Đại phúc tấn duy nhất được hưởng đặc ân này.

Năm Khang Hi, Thanh Thánh Tổ cải thụy hiệu cho Mạnh Cổ Triết Triết có thêm Đế thụy Cao Hoàng hậu (高皇后), cho phù hợp với Đế thụy Cao Hoàng đế của Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Về sau, Ung ChínhCàn Long thêm tự vào thụy hiệu cho đại tổ mẫu, cuối cùng thành Hiếu Từ Chiêu Hiến Kính Thuận Nhân Huy Ý Đức Hiến Khánh Thừa Thiên Phụ Thánh Cao Hoàng hậu (孝慈昭憲敬順仁徽懿德顯慶承天輔聖高皇后). Bà được cải an táng cùng Thanh Thái Tổ vào Phúc lăng (福陵).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《满洲实录·卷二》(戊子年)○初.太祖如葉赫其國主揚吉努.見其相貌非常.言我有小女.堪為君配.待長締姻.太祖曰若締姻.吾願聘汝長女.揚吉努荅云.我非惜長女不與.恐不可君意.小女容貌奇異.或者稱佳偶耳.太祖遂聘之.揚吉努故後.子納林布祿於是年九月內.親送妹于歸.太祖率諸王大臣迎之.大宴成婚.即天聰皇帝母也......
  2. ^ “Thanh Sử Cảo, Quyển 214, Liệt truyện nhất”. 后庄敬聪慧, 词气婉顺, 得誉不喜, 闻恶言, 愉悦不改其常. 不好谄谀, 不信谗佞, 耳无妄听, 口无妄言. 不预外事, 殚诚毕虑以事上. 
  3. ^ 《满洲实录·卷三》○是年中宮皇后疾篤思母一會.太祖遣人至葉赫徃請.后兄納林布祿阻之止.令家人南太來.太祖曰.我未獲罪於舅.前掠我戶布察寨.後復率九國兵來侵我......今爾妹病篤永訣之際欲母一見汝不容相會.是與我斷好矣.既如此我何必諱言.自今後兩家已成敵國.我將築城汝地日為仇殺.言訖.令南太回○九月內中宮皇后薨.后姓納喇.名孟古哲哲.乃葉赫國揚吉努貝勒之女.年十四適太祖......方葬於尼雅滿山.於是太祖恨葉赫不令母子相會之仇.遂於甲辰年正月初八日.率兵攻.十一日至葉赫國二城......
  4. ^ 作者:徐文明 (ngày 2 tháng 12 năm 2002). “天命五年后金国的大福晋” (bằng tiếng Zh-hans). 国学网,原刊《甘肃民族研究》2000年第4期. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2017. 
  5. ^ 《清史稿·列传一·后妃》继妃,富察氏......天命五年,妃得罪,死。子二......大妃,纳喇氏,乌喇贝勒满泰女。岁辛丑,归太祖,年十二。孝慈皇后崩,立为大妃。天命十一年七月,太祖有疾,浴於汤泉。八月,疾大渐,乘舟自太子河还,召大妃出迎,入浑河。庚戌,舟次叆鸡堡,上崩。辛亥,大妃殉焉,年三十七。同殉者,二庶妃。妃子三:阿济格、多尔衮、多铎。顺治初,多尔衮摄政,七年,上谥孝烈恭敏献哲仁和赞天俪圣武皇后,祔太庙。八年,多尔衮得罪,罢谥,出庙。
  6. ^ 《爱新觉罗宗谱·星源集庆》大妃乌喇纳喇氏.满泰贝勒之女.庚寅年生.辛丑年来归.癸卯年立为大妃.天命十一年丙寅八月十一日.太祖遗命以殉.十二日甍.年三十七岁.顺治七年八月.追谥孝烈武皇后.升附太庙......