Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hiếu Huệ Chương hoàng hậu
孝惠章皇后
Thuận Trị Đế Hoàng hậu
《孝惠章皇后朝服像》.jpg
Hoàng hậu nhà Thanh
Tại vị 1654 - 1661
Tiền nhiệm Phế Hoàng hậu Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị
Kế nhiệm Hiếu Thành Nhân hoàng hậu
Hoàng thái hậu nhà Thanh
Tại vị 1661 - 1718
(tại vị cùng Từ Hòa hoàng thái hậu)
Tiền nhiệm Chiêu Thánh hoàng thái hậu
Kế nhiệm Nhân Thọ hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Thế Tổ
Thuận Trị hoàng đế
Thụy hiệu Hiếu Huệ Nhân Hiến Đoan Ý Từ Thục Cung An Thuần Đức Thuận Thiên Dực Thánh Chương hoàng hậu
孝惠仁憲端懿慈淑恭安純德順天翼聖章皇后
Hoàng tộc Bát Nhĩ Tế Cát Đặc
Ái Tân Giác La
Sinh 5 tháng 11, 1641
Mất 7 tháng 1, 1718
An táng Hiếu Đông lăng (孝東陵)
Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu
tên tiếng Trung
Tiếng Trung 孝惠章皇后
Lady Borjigit
Phồn thể 博爾濟吉特氏
Giản thể 博尔吉济特氏
Tên tiếng Mãn
Tiếng Mãn ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ ᡶᡠᠯᡝᡥᡠᠨ ᡝᠯᡩᡝᠮᠪᡠᡥᡝ ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ

Hiếu Huệ Chương hoàng hậu (chữ Hán: 孝惠章皇后, Mãn Châu: Hiyoošungga Nesuken Eldembuhe Hūwangheo, 5 tháng 11, 1641 - 7 tháng 1, 1718), hay còn gọi Nhân Hiến hoàng thái hậu (仁宪皇太后), là hoàng hậu thứ hai của hoàng đế Thanh Thế Tổ Thiệu Trị hoàng đế.

Hoàng hậu là vị Hoàng thái hậu có thời gian tại vị cao nhất hậu cung nhà Thanh, cũng như xét trong lịch sử Trung Quốc (57 năm), cao hơn cả Hiếu Nguyên Hoàng thái hậu nhà Hán (54 năm). Cùng với thời gian ở ngôi Hoàng hậu, Hiếu Huệ hoàng hậu đã tại vị tối cao trong Hậu cung nhà Thanh tổng cộng 64 năm, lâu hơn bất kỳ vị Hoàng hậu nào khác.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Huệ hoàng hậu thuộc dòng họ Bát Nhĩ Tề Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏), thuộc bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm của Mông Cổ. Tên thật của hoàng hậu trong lịch sử không nhắc đến.

Ông nội Hoàng hậu là Mãn Châu Tập Lễ (滿珠習禮), tức Trát Tát Khắc Đạt Nhĩ Hãn thân vương(扎薩克達爾罕親王), một người con của Trung Thân vương Trại Tang (寨桑), như vậy Mãn Châu Tập Lễ là một người anh của Hiếu Trang Văn hoàng hậu. Cha Hoàng hậu là Xước Nhĩ Tế (綽爾濟), Trấn Quốc công của Khoa Nhĩ Thẩm. Hoàng hậu còn có anh trai là Ngạc Tập Nhĩ (鄂緝爾), kế thừa tước vị Bối lặc (貝勒), em gái bà là Thục Huệ phi (淑惠妃), cũng là phi tần của Thuận Trị Đế.

Hoàng hậu nhà Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thuận Trị thứ 10 (1653), tháng 8, Hoàng hậu Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị bị phế truất, vốn là con gái của Ngô Khắc Thiện (吳克善), anh trai của Hiếu Trang Hoàng thái hậu. Thuận Trị Đế do không hợp tính với Hoàng hậu, sau nhiều lần cãi vả đã phế truất Hoàng hậu. Một năm sau đó, Hiếu Huệ hoàng hậu nhập cung, trở thành phi tần của Thuận Trị Đế. Một tháng sau đó, Thuận Trị đế chính thức lập bà làm Hoàng hậu thứ hai.

Tân hoàng hậu cùng Thuận Trị Đế cũng không hòa thuận, cũng giống tình cảnh của Phế hoàng hậu lúc trước. Đến khi Đổng Ngạc phi, con gái đại thần Ngạc Thạc (鄂碩) tiến cung, liền được sắc phong Hiền phi (賢妃), và hết mực được Thuận Trị Đế sủng ái. Bát Nhĩ Tế Cát Đặc hoàng hậu hoàn toàn bị thất sủng. Quá yêu thương Đổng Ngạc phi, Thuận Trị còn phong ngôi Hoàng quý phi, duy chỉ dưới chức vị Hoàng hậu.

Thuận Trị Đế lại có ý phế truất ngôi Hậu, tính lập Đổng Ngạc thị lên thay. Nhân khi Hiếu Trang Hoàng thái hậu không an dưỡng được, ông cho rằng Hoàng hậu bất cẩn hầu hạ, nghị luận cùng các quan thần phế bỏ hoàng hậu, nhưng do gia thế quá lớn mà điều đình mãi. Ông vẫn kiêng quyết kỳ kéo các đại thần, hòng lập Đổng Ngạc hoàng quý phi làm Hoàng hậu mới.

Năm Thuận Trị thứ 17 (1660), ngày 23 tháng 9, Đổng Ngạc phi lâm bệnh rồi mất. Sau khi Đổng Ngạc Hoàng quý phi qua đời, Thuận Trị Đế vốn đã truy phong cho bà làm Hiếu Hiến Đoan Kính Hoàng hậu (孝獻端敬皇后). Trong khi đó Bát Nhĩ Tế Cát Đặc hoàng hậu vẫn còn đang tại vị, trái ngược với điều lệ cung đình nhà Thanh.

Hoàng thái hậu nhà Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thuận Trị thứ 18 (1661), sau cái chết của Đổng Ngạc Hoàng quý phi, Thuận Trị Đế quá đau buồn mà sinh bệnh qua đời . Năm 1662, ngày 7 tháng 2, Tam hoàng tử Huyền Diệp (玄燁) đăng cơ, tức Thanh Thánh Tổ Khang Hi hoàng đế. Tôn vị Bát Nhĩ Tề Cát Đặc hoàng hậuMẫu hậu hoàng thái hậu (母后皇太后), phong hiệu là Nhân Hiến hoàng thái hậu (仁宪皇太后), cư ở Từ Nhân cung (慈仁宮). Thân mẫu của Hoàng đế là Đông Giai Khang phi được tôn làm Thánh mẫu Hoàng thái hậu (聖母皇太后), tôn hiệu là Từ Hòa hoàng thái hậu (慈和皇太后).

Năm Khang Hi thứ 26 (1688), Hiếu Trang Thái hoàng thái hậu băng hà. Quan hệ giữa Khang Hi Đế và đích mẫu từ trước luôn chỉ là quan hệ trên danh nghĩa, có phần dè dặt. Khi Thái hoàng thái hậu qua đời, Đế Hậu mẫu tử đều nhất loạt bi ai, chu đáo tang nghi cho Thái hoàng thái hậu. Từ đây trở đi, Khang Hi Đế thường xuyên lui tới vấn an Thái hậu hơn, dần dần tiếp xúc nhiều mà trở nên thân thiết như tình mẹ con ruột vậy.

Năm Khang Hi thứ 28 (1690), Khang Hi Đế tu kiến Ninh Thọ cung (寧壽宮), đích thân dẫn quần thần làm lễ, mời Thái hậu ngự cung mới. Vào các đợt Bắc tuần, Nam tuần, Khang Hi Đế đều bồi Thái hậu cùng ngự dự, các vật phẩm tươi ngon, mới lạ nhất đều dâng lên Thái hậu trước. Tuy vậy, Thái hậu là người cần kiệm, khuyến Hoàng đế ít tổ chức tiệc tùng, các tiệc mừng thọ của Thái hậu vì thế cũng bớt đi xa hoa.

Năm Khang Hi thứ 56 (1718), ngày 7 tháng 1, Nhân Hiến hoàng thái hậu giá băng, thọ 78 tuổi. Khang Hi Đế dùng nghi lễ Cát Biện (割辮), vốn chỉ dùng cho tang lễ của Hoàng đế để an táng cho Hoàng thái hậu. Thụy hiệu của bà đầy đủ là Hiếu Huệ Nhân Hiến Đoan Ý Từ Thục Cung An Thuần Đức Thuận Thiên Dực Thánh Chương hoàng hậu (孝惠仁憲端懿慈淑恭安純德順天翼聖章皇后). An táng ở phía đông của Hiếu lăng (孝陵), chôn cất Thế Tổ Thuận Trị Đế, gọi là Hiếu Đông lăng (孝東陵).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Daily Life in the Forbidden City, Wan Yi, Wang Shuqing, Lu Yanzhen ISBN 0-670-81164-5
  • Draft history of the Qing dynasty《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.世祖孝惠章皇后.

Tước hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu
Tước hiệu Hoàng gia
Tiền nhiệm:
Phế Hoàng hậu Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị
Hoàng hậu nhà Thanh
1654–1661
Kế nhiệm:
Hiếu Thành Nhân hoàng hậu
Tiền nhiệm:
Chiêu Thánh hoàng thái hậu
Hoàng thái hậu nhà Thanh
1661–1718

Đồng vị: Từ Hòa hoàng thái hậu (1661-1663)

Kế nhiệm:
Nhân Thọ hoàng thái hậu