Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu
孝惠章皇后
Thuận Trị Đế Hoàng hậu
《孝惠章皇后朝服像》.jpg
Hoàng hậu Đại Thanh
Tại vị 15 tháng 6, 1654
- 7 tháng 1, 1661
Đăng quang 16 tháng 6, 1654
Tiền nhiệm Phế hậu Tĩnh phi
Kế nhiệm Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu
Hoàng thái hậu Đại Thanh
Tại vị 3 tháng 10, 1661
- 6 tháng 12, 1718
(Tại vị cùng Từ Hòa Hoàng thái hậu)
Đăng quang 3 tháng 10, 1661
Tiền nhiệm Chiêu Thánh hoàng thái hậu
Kế nhiệm Nhân Thọ Hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Thế Tổ
Thuận Trị Hoàng đế
Tước hiệu Nhân Hiến Khác Thuận Thành Huệ Thuần Thục Đoan Hi Hoàng thái hậu
(仁憲恪順誠惠純淑端禧皇太后)
Thụy hiệu Hiếu Huệ Nhân Hiến Đoan Ý Từ Thục Cung An Thuần Đức Thuận Thiên Dực Thánh Chương Hoàng hậu
(孝惠仁憲端懿慈淑恭安純德順天翼聖章皇后)
Thân phụ Xước Nhĩ Tế
Thân mẫu Ái Tân Giác La thị
Sinh (1641-11-05)5 tháng 11, 1641
Khoa Nhĩ Thấm, Mông Cổ
Mất 7 tháng 1, 1718(1718-01-07) (76 tuổi)
Ninh Thọ cung, Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
An táng Tháng 3, 1718
Hiếu Đông lăng (孝東陵), Thanh Đông lăng

Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu (chữ Hán: 孝惠章皇后, tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᡶᡠᠯᡝᡥᡠᠨ
ᡝᠯᡩᡝᠮᠪᡠᡥᡝ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
tiếng Mãn Châu:hiyoošungga fulehun eldembuhe hūwangheo,thái thanh:hiyouxungga fulehun eldembuhe hvwangheu, 5 tháng 11 năm 1641 - 7 tháng 1 năm 1718), hay còn gọi Nhân Hiến Hoàng thái hậu (仁宪皇太后), là Hoàng hậu thứ hai của Thanh Thế Tổ Thuận Trị Hoàng đế.

Bà là vị Hoàng thái hậu có thời gian tại vị cao nhất hậu cung Nhà Thanh, cũng như xét trong lịch sử Trung Quốc (57 năm), cao hơn cả Hiếu Nguyên Hoàng thái hậu nhà Hán (54 năm). Cùng với thời gian ở ngôi Hoàng hậu, Hiếu Huệ Hoàng hậu đã tại vị tối cao trong Hậu cung Nhà Thanh tổng cộng 64 năm, lâu hơn bất kỳ vị Hoàng hậu nào khác.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Huệ Hoàng hậu Bát Nhĩ Tế Cẩm thị

Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu sinh ngày 3 tháng 10 (âm lịch) năm Sùng Đức thứ 6 (1641), xuất thân từ dòng họ Bát Nhĩ Tề Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏), còn gọi Bát Nhĩ Tế Cẩm thị (博尔济锦氏), thuộc bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm của Mông Cổ. Dòng họ này là một dòng dõi hoàng tộc, vua chúa của người Mông Cổ[1], Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu thuộc cánh tả Trát Tát Khắc (扎薩克) của Khoa Nhĩ Thấm.

Tằng tổ phụ của Hiếu Huệ Hoàng hậu là Trung Thân vương Trại Tang (寨桑), vị Bối lặc (貝勒) của Khoa Nhĩ Thấm. Trại Tang có 3 người con với vợ đầu là Trác Lễ Khác Đồ Thân vương Ngô Khắc Thiện (吴克善), Đạt Nhĩ Hán Ba Đồ Lỗ Thân vương Mãn Châu Tập Lễ (滿珠習禮) và Hiếu Trang Hoàng thái hậu. Mãn Châu Tập Lễ, em trai Ngô Khắc Thiện và anh trai Hiếu Trang Thái hậu, chính là tổ phụ của Hiếu Huệ Hoàng hậu, dưới thời Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực lãnh tước Trát Tát Khắc Đạt Nhĩ Hãn Thân vương(扎薩克達爾罕親王).

Cha của Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu là Xước Nhĩ Tế (綽爾濟), con trai của Mãn Châu Tập Lễ, nhận tước hiệu Trấn Quốc công (鎮國公) của Khoa Nhĩ Thẩm, về sau cũng được gia tặng Bối lặc. Mẹ là Ái Tân Giác La thị, con gái của A Ba Thái (阿巴泰), con trai thứ 7 của Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

Xét vai vế, Hiếu Huệ Hoàng hậu là cháu gọi Hiếu Trang Thái hậu bằng bà; gọi Bát Nhĩ Tề Cát Đặc Phế hậu bằng cô mẫu vì Phế hậu là con gái của Ngô Khắc Thiện và là biểu tỷ của cha Hoàng hậu; ngoài ra gọi Thuận Trị Đế vừa bằng chú, vừa bằng dượng, vì Thuận Trị Đế là biểu đệ của cha Hoàng hậu và là chồng của cô mẫu. Hoàng hậu có anh trai là Ngạc Tập Nhĩ (鄂緝爾), kế thừa tước vị Bối lặc; anh thứ Nạp Mục Tề (纳穆齐); anh ba là Nặc Mộc Đức Lực Cách Nhật Lỗ Tề Cách (诺木德力格日鲁齐格), anh thứ 4 là Ngạch Nhĩ Đức Ni (额尔德尼), tất cả đều là anh ruột cùng mẹ của Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu. Trong gia đình, Hoàng hậu là con gái thứ 3 của Xước Nhĩ Tế, chị gái cả của Hoàng hậu làm Đích Phúc tấn cho Giản Thân vương Tế Độ (济度), đường huynh của Thuận Trị Đế; chị thứ lấy cháu nội của A Ba Thái; em gái thứ 4 là Thục Huệ phi (淑惠妃), một phi tần khác của Thuận Trị Đế; và một người em gái út lấy một cháu nội khác của A Ba Thái.

Hoàng hậu Nhà Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thuận Trị thứ 10 (1653), tháng 8, Thuận Trị Đế phế truất Bát Nhĩ Tế Cát Đặc Hoàng hậu, giáng làm Tĩnh phi.

Năm Thuận Trị thứ 11 (1654), tháng 5, cháu gái Thuận Trị và Phế hậu là Bát Nhĩ Tề Cát Đặc thị phụng chỉ nhập cung, trở thành Quý phi. Một tháng sau, ngày 16 tháng 6, bà chính thức được phong làm tân Hoàng hậu. Sách văn viết:

Theo đánh giá, Hoàng hậu Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị tuổi trẻ xinh đẹp, kém Thuận Trị Đế 3 tuổi, nhưng do quá thật thà, không giỏi nhún nhường lấy lòng Hoàng đế, nên rốt cuộc bà cũng không chiếm được cảm tình của Thuận Trị Đế, cũng giống hoàn cảnh của Phế Hoàng hậu lúc trước.

Năm Thuận Trị thứ 13 (1656), tháng 8, Đổng Ngạc phi, con gái đại thần Ngạc Thạc (鄂碩) tiến cung, năm đó 18 tuổi.

Mới tiến cung, Đổng Ngạc thị có nhan sắc, được Hoàng đế yêu thích nên liền được sắc phong Hiền phi (賢妃), Hoàng hậu trước tình thế đó hoàn toàn bị thất sủng. Vì quá yêu thương vị Hiền phi này, Thuận Trị Đế có ý phế ngôi của Bát Nhĩ Tề Cát Đặc thị, lập Hiền phi lên thay thế, nhưng các đại thần và Chiêu Thánh Hoàng thái hậu nhất quyết phản đối. Thất vọng, Thuận Trị Đế liền phong Đổng Ngạc Hiền phi với chức vị Hoàng quý phi, một danh vị chỉ dưới Hoàng hậu, tổ chức lễ sắc phong long trọng, đại xá thiên hạ, chưa từng có trong điển lệ.

Năm Thuận Trị thứ 15 (1658), tháng giêng, nhân khi Hoàng thái hậu không an dưỡng được, ông cho rằng Hoàng hậu bất cẩn hầu hạ, nghị luận cùng các quan thần về việc phế truất. Tháng 3, Chiêu Thánh Hoàng thái hậu ra chỉ dụ, phản đối Phế hậu quá trình đang rục rịch, vì vậy sự việc mới không thành.

Năm Thuận Trị thứ 17 (1660), ngày 23 tháng 9, Đổng Ngạc phi lâm bệnh rồi mất. Sau khi Đổng Ngạc Hoàng quý phi qua đời, Thuận Trị vốn đã truy phong cho bà làm Hiếu Hiến Đoan Kính Hoàng hậu (孝獻端敬皇后). Trong khi đó Bát Nhĩ Tế Cát Đặc Hoàng hậu vẫn còn đang tại vị, điều này cho thấy Thuận Trị Đế thật sự vô tình, đem Hoàng hậu như đã chết rồi.

Hoàng thái hậu Nhà Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thuận Trị thứ 18 (1661), ngày 7 tháng 1 (tức ngày 5 tháng 2 dương lịch), Thuận Trị Đế băng hà. Tam hoàng tử Huyền Diệp đăng cơ, tức Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế.

Tân Hoàng đế đăng cơ, theo quy tắc tôn vị Đích mẫu Hoàng hậu Bát Nhĩ Tề Cát Đặc thị là Mẫu hậu Hoàng thái hậu (母后皇后). Đến ngày 3 tháng 10, sau khi đặt định huy hiệu, Khang Hi Đế suất chư quần thần, dâng tôn Mẫu hậu Hoàng thái hậu phong hiệu là Nhân Hiến Hoàng thái hậu (仁宪皇太后)[3].

Sách tôn viết:

Năm Khang Hi thứ 26 (1688), Hiếu Trang Thái hoàng Thái hậu băng hà. Quan hệ giữa Khang Hi Đế và Đích mẫu từ trước luôn chỉ là quan hệ trên danh nghĩa, có phần dè dặt. Khi Thái hoàng Thái hậu qua đời, Đế Hậu mẫu tử đều nhất loạt bi ai, chu đáo tang nghi cho Thái hoàng Thái hậu. Từ đây trở đi, Khang Hi Đế thường xuyên lui tới vấn an Thái hậu hơn, dần dần tiếp xúc nhiều mà trở nên thân thiết như tình mẹ con ruột.

Năm Khang Hi thứ 28 (1690), Khang Hi Đế tu kiến Ninh Thọ cung (寧壽宮), đích thân dẫn quần thần làm lễ, mời Thái hậu ngự cung mới. Vào các đợt Bắc tuần, Nam tuần, Khang Hi Đế đều bồi Thái hậu cùng ngự dự, các vật phẩm tươi ngon, mới lạ nhất đều dâng lên Thái hậu trước. Tuy vậy, Thái hậu là người cần kiệm, khuyến Hoàng đế ít tổ chức tiệc tùng, các tiệc mừng thọ của Thái hậu vì thế cũng bớt đi xa hoa.

Năm Khang Hi thứ 35 (1696), Khang Hi Đế Bắc tuần, vừa lúc gặp sinh thần của Thái hậu, phụng thư xưng chúc, Hoàng thái hậu cũng sai người đưa áo ấm cho Hoàng đế. Khang Hi Đế do thấy sông chưa đóng băng nên chưa tiện mặc, nhưng vẫn vui vẻ dâng thư đáp lại rằng khi trời lạnh sẽ mặc[4]. Bên cạnh đó, Hoàng đế sai đem hoa quả, thổ sản địa phương đến cung của Thái hậu, mệnh Tổng quản Thái giám chế biến để dâng cho Thái hậu dùng. Năm Khang Hi thứ 38 (1699), Khang Hi Đế Nam tuần, phụng Thái hậu đồng hành. Năm thứ 40 (1701), đại thọ thứ 70 của Thái hậu, Khang Hi Đế tổ chức đại lễ mừng tuy không xoa hoa nhưng long trọng, đích thân uống rượu viết thơ dâng lên Thái hậu[5][6].

Quay về cố hương[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Khang Hi thứ 37 (1698), ngày 29 tháng 7, Khang Hi Đế phụng Hoàng thái hậu đi tuần bên ngoài, cùng đi có Hoàng trưởng tử Dận Thì, Hoàng tam tử Dận Chỉ, Hoàng ngũ tử Dận Kì, Hoàng thất tử Dận Hựu, Hoàng cửu tử Dận Đường, Hoàng thập tử Dận Ngã, Hoàng thập tam tử Dận Tường cùng các vương công đại thần. Bọn họ thông qua Thừa Đức tiến vào thảo nguyên của Khoa Nhĩ Thấm bộ. Đây là lần đầu tiên, sau 40 năm li biệt, Hiếu Huệ Thái hậu lại có thể trở về thảo nguyên cố hương.

Tháng 8, đến Khách Lạt Thẩm (喀喇沁) bộ tộc, dừng chân ở phủ đệ của Hoàng ngũ nữ, Hòa Thạc Đoan Tĩnh Công chúa. Tháng 9, Hiếu Huệ Thái hậu chính thức bước đến thảo nguyên Khoa Nhĩ Thấm bộ, dừng chân ở phủ đệ của Hòa Thạc Thuần Hi Công chúa, con gái của dị mẫu đệ của Khang Hi Đế là Thường Ninh.

Tại Khoa Nhĩ Thấm, Mông Cổ các bộ vương công đều tiến đến triều kiến bái yết, có Ông Ngưu Đặc (翁牛特), Ngao Hán (敖汉), Nại Mạn (奈曼), A Lộc Khoa Nhĩ Thấm (阿禄科尔沁), Quách Nhĩ La Tư (郭尔罗斯), Khách Nhĩ Khách (喀尔喀), Khách Lạt Thấm cùng Thổ Mặc Đặc (土默特). Khang Hi Đế ban thưởng, lại mở yến tiệc trịnh trọng, điều này có ghi trong bài thơ 《Chí Khuếch Nhĩ Thấm bộ lạc dữ chúng Mông Cổ yến》 (至廓尔沁部落与众蒙古宴): 「Đại dã chi hoàng ác, Trường diên tạ hoàng sa. Ân cao tuyên tắc hạ, Bộ lạc liệt sơn a. Pháp tửu triêm nhân túy, Chuy ngưu hưởng chúng đa. Đề huề giai phụ trĩ, Thiên trướng động hoan ca」[7].

Sau đó, Khang Hi Đế tùy Thái hậu vào Thẩm Dương, Thịnh Kinh, bái tế tổ lăng Vĩnh lăng (陵永), cùng các lăng Phúc lăng (福永; lăng của Thanh Thái Tổ) và Chiêu lăng (lăng của Thanh Thái Tông). Ngày 13 tháng 11, đoàn người trở về Bắc Kinh.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Khang Hi thứ 56 (1717), tháng 12 âm lịch, Thái hậu bệnh nặng, Khang Hi Đế vì chuyện Phế Thái tử Dận Nhưng còn bận rộn, nhưng cũng lập tức đến Ninh Thọ cung hầu thuốc. Khi ấy Thái hậu hôn mê, chỉ vô tri vô giác cầm tay Hoàng đế mà không nói được. Khang Hi Đế phũ phục nói:“Mẫu hậu, thần tại đây”"[8]. Hôm sau, Khang Hi Đế gia tôn huy hiệu cho Thái hậu là Nhân Hiến Khác Thuận Thành Huệ Thuần Thục Đoan Hi Hoàng thái hậu (仁憲恪順誠惠純淑端禧皇太后).

Ngày 6 tháng 12 (âm lịch), giờ Dậu, Nhân Hiến Hoàng thái hậu giá băng, thọ 78 tuổi. Khang Hi Đế dùng nghi lễ Cát biện (割辮; nghĩa là cắt tóc đuôi sam), vốn chỉ dùng cho tang lễ của Hoàng đế để an táng cho Đại Hành Hoàng thái hậu.

Năm thứ 57 (1718), tháng 3, Tân Dậu, thượng tôn Đại Hành Hoàng thái hậu thụy hiệu, đặt định là [Hiếu Huệ; 孝惠], đầy đủ là Hiếu Huệ Nhân Hiến Đoan Ý Thuần Đức Thuận Thiên Dực Thánh Chương Hoàng hậu (孝惠仁憲端懿純德順天翼聖章皇后). Sách văn viết:

Khi đó, Khang Hi Đế vì chuyện Phế Thái tử mà suy kiệt, bản thân Hoàng đế cũng lớn tuổi, nên các đại thần Mãn-Hán đều khuyên Hoàng đế bớt chịu bi thương, ý muốn nói Hoàng đế đừng nên vì Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu mà đích thân tế bái quá nhiều, nhưng rốt cuộc Hoàng đế vẫn tự mình làm hết các lễ tế của mẫu hậu, có thể thấy Khang Hi Đế đối với vị này mẹ cả thật tâm hiếu thuận. Theo ý chỉ của Hoàng đế, lấy thần vị của Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu cùng Hiếu Khang Chương Hoàng hậu đồng tôn vị ở Thái miếu. Đại học sĩ Vương Thiểm (王掞) tâu: 「Bệ hạ thánh hiếu cách thiên hậu, khi trước Thái hoàng Thái hậu phụ miếu, không lấy Hiếu Đoan hậu lên trên. Nay liệu có lẽ nên để Hiếu Khang hậu lên trên Hiếu Huệ hậu chăng?」. Khang Hi Đế mắng một hồi, quyết định đem thần vị Hiếu Huệ hậu lên trên Hiếu Khang hậu.

Tháng 4, Ất Dậu, an táng Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu ở phía Đông của Hiếu lăng (孝陵), gọi là Hiếu Đông lăng (孝東陵). Còn Hiếu Khang Chương Hoàng hậu, Thanh Thế Tổ Phế hậu cùng Hiếu Hiến Đoan Kính hoàng hậu nhập táng Hiếu lăng. Nhưng Khang Hi Đế rốt cuộc chỉ tôn Đế thụy Chương cho mẹ cả, cùng mẹ đẻ mà thôi, Hiếu Hiến Đoan Kính Hoàng hậu không được xét Đế thụy, và Khang Hi Đế cũng bỏ tế hiến.

Qua các đời, thụy hiệu đầy đủ của bà là: Hiếu Huệ Nhân Hiến Đoan Ý Từ Thục Cung An Thuần Đức Thuận Thiên Dực Thánh Chương Hoàng hậu (孝惠仁憲端懿慈淑恭安純德順天翼聖章皇后)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《清史稿》孝惠章皇后,博尔济吉特氏,科尔沁贝勒绰尔济女。顺治十一年五月,聘为妃,六月,册为后。贵妃董鄂氏方幸,后又不当上恉。十五年正月,皇太后不豫,上责后礼节疏阙,命停应进中宫笺表,下诸王、贝勒、大臣议行。三月,以皇太后旨,如旧制封进。
  2. ^ 清实录顺治朝实录 - 卷之八十四: 顺治十一年。甲午。六月。己未朔。河决大王庙。...癸酉。以册立皇后、祭告天地、太庙。遣贝子吴达海、尚书车克、伯索尼、行礼。...甲戌。册立科尔沁国镇国公绰尔济女博尔济锦氏为皇后。册文曰。朕惟两仪作配、后德肇于坤承。百世延禧、王化基于内则。义偕资始。位正安贞。咨尔博尔济锦氏、乃科尔沁国镇国公绰尔济之女。川岳钟祥。睢麟媲美。柔嘉成性、允符天伣之祯。淑慎为仪、式兆月恒之庆。兹仰承懿命。以册宝立尔为皇后。其尚助隆孝养。克叶雝和。茂衍昌炽于本支。共荐馨香于宗庙。钦哉。宝文曰。皇后之宝。...是日、颁诏天下。诏曰。帝王膺天显命、洪敷化理。必肇自宫壸、乃达家国、以讫于万方。即躬备令德。恒资内助、弼成雍穆。故慎简厥始。用介有终。所以承宗庙、敦孝养、崇化源、茂本支也。朕祇缵鸿绪。笃敬彝伦。圣母昭圣慈寿恭简皇太后、深惟内治、期遴懿淑、以襄朕躬。必得贤媛、乃正中宫、俾仪天下。兹钦遵慈命。虔告天地宗庙。于顺治十一年六月十六日、册立科尔沁国镇国公绰尔济之女博尔济锦氏为皇后。惟朕躬暨后、克迪厥德。邦其永孚于休。用绍徽我圣善、遹睦宫庭。乃锡祉于尔多方、丕协熙治布告天下。咸使闻知。
  3. ^ 清实录康熙朝实录-卷之七: 康熙元年。壬寅。八月。大学士跪接奏书、并册宝、仍置各案上。女官举册宝案进宫毕。上出。升舆。率内大臣、侍卫、内院、礼部官、至仁宪皇太后宫。进献册宝、如前仪。上奏言恭惟圣母陛下、顺德弘昭。徽音茂著。臣绍闻先绪。承诲慈闱。世泽方长。天休滋至。用举尊亲之典、以彰燕翼之谋。爰备隆仪、上尊徽号。伏祈俞鉴、俾遂微诚。用抒孝养之忱。益大邦家之庆。册文曰、德弘祚胤、启万年显世之符。礼重徽称、合四海尊亲之戴。喜谐禁籞。庆溢寰区。钦惟母后皇后、柔顺承天。安贞配地。赞襄皇考、敷内治而化洽宫庭。抚育眇躬、绍丕基而恩深训迪。仰慈仁之备至、宜尊养之兼隆。载考彝章、晋崇鸿号。谨告天地、宗庙、社稷。率诸王、贝勒、文武群臣、恭奉册宝、上徽号曰、仁宪皇太后。伏愿嘉祥骈集。茂祉愈增。昭令闻而卜世卜年。迓休徵而弥昌弥炽。宝文曰、仁宪皇太后之宝。
  4. ^ 《清史稿》孝惠章皇后: 三十五年十月,上北巡,太后万寿,上奉书称祝。驻丽苏,太后遣送衣裘,上奉书言:“时方燠,河未冰,帐房不须置火,俟严寒,即欢忭而服之。”三十六年二月,上亲征噶尔丹,驻他喇布拉克。太后以上生日,使赐金银茶壶,上奉书拜受。噶尔丹既定,?臣请上加太后徽号寿康显宁,太后以上不受尊号,亦坚谕不受。三十七年七月,奉太后幸盛京谒陵,道喀喇沁。途中以太后父母葬发库山,距跸路二百里,谕内大臣索额图择洁地,太后遥设祭。十月,次奇尔赛毕喇,值太后万寿,上诣行宫行礼,敕封太后所驻山曰寿山。
  5. ^ 康熙三十八年(1699年),康熙帝南巡,奉仁宪皇太后同行。而後,太后六十壽、七十壽,康熙帝均親製詞賦並大禮以祝,然仁憲皇太后均以崇尚節儉故,有時會下旨停止宴飲。康熙皇帝曰:「蟒式舞者乃满洲筵宴大礼,至隆重欢庆之盛典。向来皆诸王大臣行之。今岁仁憲皇太后七旬大庆、朕亦五十有七、欲亲舞称觞。」是日、康熙于仁憲太后宫进宴,仁憲皇太后升座。乐作。玄燁康熙近前起舞进爵。
  6. ^ 《清史稿》孝惠章皇后: 三十八年,上奉太后南巡。三十九年十月,太后六十万寿,上制万寿无疆赋,并奉佛像,珊瑚,自鸣钟,洋镜,东珠,珊瑚、金珀、御风石,念珠,皮裘,羽缎,哆罗呢,沈、檀、芸、降诸香,犀玉、玛瑙、赩、漆诸器,宋、元、明名画,金银、币帛;又令膳房数米万粒,号“万国玉粒饭”,及肴馔、果品以献。四十九年,太后七十万寿,亦如之。
  7. ^ 其欢宴的场面有《至廓尔沁部落与众蒙古宴》(廓尔沁指科尔沁)诗可证曰:“大野支黄幄,长筵藉黄沙。恩膏宣塞下,部落列山阿。法酒沾人醉,椎牛飨众多。提携皆妇稚,千帐动欢歌。”
  8. ^ 《清史稿》孝惠章皇后: 五十六年十二月,太后不豫。是岁,上春秋六十有四,方有疾,头眩足肿,闻太后疾舆诣视,跪?下,捧太后手曰:“母后,臣在此!”
  9. ^ 《清实录康熙朝实录》: 辛酉。恭奉册宝、上大行皇太后尊谥。册文曰、礼隆祔配、将申假庙之诚。义极显扬、特重崇亲之典。奉明禋而有恪。熙鸿号以无穷。钦惟皇妣大行皇太后、俨天体顺。应地含章。钟渭涘之殊灵。继蜀山之盛轨。归我世祖章皇帝、克襄内治、每持敬慎之小心。允协坤成、实禀肃雝之令则。训掖庭以节俭、躬曳练衣。率嫔御以勤劳、心亲织室。迨乎奉事太皇太后、重闱节縰、日问长信之安。内殿羹汤、时视太官之膳。山戊不□年而罔懈、紧仁孝之夙成。六宫被慈惠之恩、感深圣善。四海享和恒之福、庆衍升平。展祀瑶斋、事虔修夫苹藻。流光玉牒、化遍洽于睢麟。自惟幼冲、备蒙顾复。追忆昭隆之德、茂著两朝。载怀尊、养之忱、聿周五纪。谓遐龄之永锡、讵仙驭之遽升。逮及无期、哀摧至极。缅思懿行、欲宣述以何由。式奉遗规、竭形容而莫罄。用咨群议、敬告三灵。谨奉册宝、上奠谥曰、孝惠仁宪端懿纯德顺天翊圣章皇后。于戏。考閟宫之乐颂、长发其祥。嗣京室之徽音、克昌厥后。伏冀慈灵曲眷。神贶斯凭。典册常新、等球图而并重。隆名罔极、与日月以齐悬。炳耀琅函。辉华彤管。宝文曰、孝惠仁宪端懿纯德顺天翊圣章皇后之宝。
  • Daily Life in the Forbidden City, Wan Yi, Wang Shuqing, Lu Yanzhen ISBN 0-670-81164-5
  • Thanh sử cảo - 《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.世祖孝惠章皇后.