Dận Đề

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Dận Đề
Hoàng tử nhà Thanh
Yinti, Prince Xun, son of the Kangxi-Emperor.jpg
Thông tin chung
Phối ngẫuHoàn Nhan thị
(完颜氏)
Tên đầy đủ
Ái Tân Giác La Dận Đề
(爱新觉罗胤禵)
Ái Tân Giác La Doãn Đề
(爱新觉罗允禵)
Thụy hiệuTuân Cần Quận vương
(恂勤郡王)
Thân phụThanh Thánh Tổ Khang Hi Đế
Thân mẫuHiếu Cung Nhân Hoàng hậu
Sinh10 tháng 2, 1688
Mất16 tháng 2, 1755

Ái Tân Giác La Dận Đề (chữ Hán: 爱新觉罗胤禵; 10 tháng 2, 1688 - 16 tháng 2, 1755), là Hoàng tử thứ 14 tính trong số những người con sống tới tuổi trưởng thành của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Dận Đề là em ruột của Ung Chính Đế, Dận Tộ (胤祚), Hoàng thất nữ, Cố Luân Ôn Hiến công chúa (固倫溫憲公主) và Hoàng thập nhị nữ. Sinh mẫu là Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu, một phi tần của Khang Hi Đế. Dận Đề lúc mới sinh có tên là Dận Trinh, vì chữ "Trinh" trong tên của ông và chữ "Chân" trong tên của Ung Chính Đế là hai chữ đồng âm nên sau này tên ông được đổi thành Dận Đề. Khi Ung Chính Đế lên ngôi, đổi thành Doãn Đề để tránh kỵ húy, bởi chữ "Dận" có trong tên Dận Chân nên vẫn tính là húy của Ung Chính Đế.

Năm 1709, Dận Đề được phong Bối tử (贝子). Năm 1718, sau thất bại của quân Thanh dọc theo Nộ GiangTây Tạng trước tướng Chuẩn Cát NhĩĐại Sách Lăng Đôn Đa Bố (大策凌敦多布), Dận Đề được trao chức Phủ Viễn Đại tướng quân (抚远大将军), chỉ huy 30.000 quân tiến vào Tây Tạng đánh Chuẩn Cát Nhĩ. Nhiều người tin rằng đó là động thái cho thấy Khang Hi Đế có ý muốn lập Dận Đề làm người kế vị. Tháng 2 năm 1720, Cát Nhĩ Bật (噶尔弼) và Diên Tín (延信), hai thuộc tướng của Dận Đề xuất phát từ Tây Ninh tiến đánh Lhasa trong khi Dận Đề vẫn đang ở Tây Ninh để nhận sự hỗ trợ của đồng minh là người Mông Cổ Hòa Thạc Đặc và hộ tống Đạt Lai Lạt Ma đến Lhasa. Ngày 24 tháng 9 năm 1720, quân Thanh chiếm được Lhasa, Đạt Lai Lạt Ma trở về cung điện Potala.

Dận Đề đang tiến hành chinh phạt Chuẩn Cát Nhĩ thì vào ngày 21 tháng 12 năm 1722, ông nhận được tin Khang Hi Đế băng hà và ngay lập tức được triều hồi về Bắc Kinh. Ung Chính Đế lên ngôi và Ung Chính Đế cho rằng Dận Đề có thể là mối đe dọa tiềm tàng nên đã giam lỏng ông tại nhà riêng. Sau cái chết của Ung Chính Đế vào năm 1735, Dận Đề mới được trả tự do.

Năm 1723, ông được phong Tuân Quận vương (恂郡王), nhưng đến năm 1724 thì bị giáng làm Bối tử (贝子) rồi bị tước bỏ phong hiệu năm 1725.

Năm 1737, được phong Phụ quốc công (輔寺公) rồi phục vị Bối lặc (貝勒) năm 1747.

Năm 1748, Dận Đề được phục hồi tước hiệu Tuân Quận vương (恂郡王). Sau khi qua đời được truy thụy là Tuân Cần Quận vương (恂勤郡王).

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Đích Phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàn Nhan thị (完颜氏), con gái của Thị lang La Sát (罗察).

Trắc Phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thư Thư Giác La thị (舒舒觉罗氏), con gái của Chánh chủ khảo Minh Đức (明德).
  • Y Nhĩ Căn Giác La thị (伊尔根觉罗氏), con gái của Nhị đẳng Thị vệ Thạch Bảo (石保).
  • Y Nhĩ Căn Giác La thị (伊尔根觉罗氏), con gái của Điển vệ Tây Thái (西泰).

Thứ thiếp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngô thị (吳氏), con gái của Thường Hữu (常有).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hoằng Xuân (弘春; 1703 - 1739), con của Thư Thư Giác La thị. Được phong Thái Quận vương (恂郡王), sau bị đoạt tước.
  2. Hoằng Minh (弘明; 1705 - 1706), con của Hoàn Nhan thị. Được phong Cung Cần Bối lặc (恭勤贝勒), sau bị tước bỏ danh hiệu.
  3. Hoằng Ánh (弘映; 1707 - 1780), con của Thư Thư Giác La thị. Làm tới chức Tán Trật Đại thần (散秩大臣).
  4. Hoằng Khai (弘暟; 1710 - 1790), con của Thư Thư Giác La thị. Làm tới Đô thống rồi Tán Trật Đại thần (散秩大臣).

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trưởng nữ (1705 - 1706), con của Y Nhĩ Căn Giác La thị.
  2. Nhị nữ (1705 - 1785), con của Thư Thư Giác La thị, được phong Quận chúa.
  3. Tam nữ (1706 - 1710), con của Y Nhĩ Căn Giác La thị, được phong Huyện quân.
  4. Tứ nữ (1706 - 1708), con của Y Nhĩ Căn Giác La thị.
  5. Ngũ nữ (1707 - 1790), con của Thư Thư Giác La thị, được phong Quận chúa.
  6. Lục nữ (1737 - 1738), con của Ngô thị.
  7. Thất nữ (1753 - 1756), con của Y Nhĩ Căn Giác La thị, được phong Huyện chúa.

Trong văn hoá đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Được diễn bởi Lâm Canh Tân trong phim Bộ bộ kinh tâm. Ngoài ra, còn được diễn bởi Trần Hạo Dân trong phim Đơn Tình Luyến Ái.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]