Vĩnh Cơ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Vĩnh Cơ
永璂
Hoàng tử nhà Thanh
Thông tin chung
Phối ngẫu Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị
(博尔济吉氏)
Hậu duệ Không có
Lấy Miên Tư làm con thờ tự
Tên đầy đủ Ái Tân Giác La·Vĩnh Cơ
(愛新覺羅·永璂)
Thân phụ Thanh Cao Tông
Càn Long Hoàng đế
Thân mẫu Kế Hoàng hậu
Sinh (1752-06-07)7 tháng 6, 1752
Mất 17 tháng 3, 1776(1776-03-17) (23 tuổi)

Ái Tân Giác La Vĩnh Cơ (chữ Hán: 愛新覺羅·永璂; 7 tháng 6, 1752 - 17 tháng 3, 1776) là Hoàng tử thứ 12 của Thanh Cao Tông Càn Long Đế.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tử Vĩnh Cơ sinh vào giờ Dần, ngày 25 tháng 4 (âm lịch) năm Càn Long thứ 17 (1752), là con trai thứ 12 của Thanh Cao Tông Càn Long Đế và là con đầu lòng của Kế Hoàng hậu Na Lạp thị, Hoàng hậu thứ 2 của Càn Long Đế[1][2]. Ông là anh ruột của Hoàng thập tam tử Vĩnh Cảnh (永璟) và Hoàng ngũ nữ.

Càn Long Đế mỗi ngày đều sẽ tự đến thỉnh an Sùng Khánh Hoàng thái hậu, nhưng vào ngày Vĩnh Cơ sinh ra, Càn Long Đế chỉ phái Thái giám đến báo, còn mình thì tự đến cung của Hoàng hậu (Dực Khôn cung) chào đón Hoàng tử ra đời[3]. Do mẹ là Hoàng hậu, Hoàng tử Vĩnh Cơ được xem là Hoàng đích tử - danh từ dùng để gọi Hoàng tử do Hoàng hậu hạ sinh. Sau cái chết của Đoan Tuệ Hoàng thái tử Vĩnh Liễn cùng Hoàng thất tử Vĩnh Tông, Vĩnh Cơ là Đích tử duy nhất vào lúc đó của Càn Long Đế, trở thành người có khả năng kế thừa Hoàng vị rất cao. Càn Long Đế đối với sự ra đời của Vĩnh Cơ khá là vui mừng, không chỉ có viết thơ kỷ niệm, còn báo với các đại thần cùng ông "cùng vui"[4].

Bài thơ mà Càn Long Đế làm khi Vĩnh Cơ sinh được ngày thứ 3:

Tên "Cơ" của Vĩnh Cơ, cũng đọc "Kỳ", là loại ngọc thường dùng để đính trên các đồ dùng bằng da của Thiên tử. Sách Chu lễ, phần "Biện sư" có nói:"Kỳ kết dã. Bì biện chi phùng. Mỗi quán kết ngũ thải ngọc thập nhị dĩ vi sức. Vị chi kỳ", sách Chư ti chức chưởng (诸司职掌) đời nhà Minh có ghi:"Hoàng đế bì biện, dụng Ô Sa mão chi, tiền hậu các thập nhị phùng, mỗi phùng các chuế ngũ thải xử thập nhị, dĩ vi sức". Đồ da của Thiên tử đính lên 12 ngọc cơ[6][7]. Đánh giá về Vĩnh Cơ, nhà sử học và ngôn ngữ học nổi tiếng Tiền Đại Hân (钱大昕), ở năm Càn Long thứ 38, ngày 12 tháng 1 (tức ngày 2 tháng 3 dương lịch), từng yết kiến Dưỡng Tâm điện, dạy bảo Hoàng tử Vĩnh Cơ, ông ghi như sau:「Dẫn đến Dưỡng Tâm điện. Nhận chỉ ở Thượng thư phòng hành tẩu, nhậm làm sư phó của Hoàng thập nhị tử. Mỗi ngày đều đến; 引見養心殿。得旨在上書房行走,派皇十二子師傅。自是每日入直。」. Sau khi làm thầy của Hoàng tử được 2 năm, ông ghi nhận Hoàng tử 「Thiên tư thuần túy, chí tính hơn người; 天資淳粹,至性過人。」[8][9][10].

Năm Càn Long thứ 30 (1765), tháng 2, khi trong chuyến Nam tuần định mệnh, Hoàng hậu Na Lạp thị bị đưa về Bắc Kinh, sau đó thu hồi hết sách bảo, ấn phong, đồng đẳng phế hậu mặc dù không có chỉ dụ phế truất từ Càn Long. Năm Càn Long thứ 31 (1766), ngày 14 tháng 7, Na Lạp Hoàng hậu bạo băng. Càn Long Đế khi biết tin Hoàng hậu tạ thế, thì ông đang đi săn ở Mộc Lan Vi Trường (木蘭圍場). Ông không hề sửng sốt cũng như dừng cuộc đi săn lại, mà chỉ để con trai của bà là Vĩnh Cơ trở về Bắc Kinh chịu tang cho mẹ.

Năm Càn Long thứ 35 (1770), tháng 4, Vĩnh Cơ năm 18 tuổi thành hôn, Đích Phúc tấn là Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博尔济吉氏)[11][12].

Năm Càn Long thứ 36 (1771), phụ trách biên soạn 《Ngự chế Mãn Mông văn giám tổng cương - 御制满蒙文鉴总纲》, năm đó Vĩnh Cơ mới 19 tuổi. Năm thứ 40 (1775), công việc hoàn thành, chỉ dụ: “Con làm rất tốt, nhưng có một số chỗ không rõ, sửa lại rồi trình duyệt.”, lại có dụ:"Con làm được thế này, cũng đã hao tâm tư rồi", Vĩnh Cơ hồi đáp:"Văn mệnh chi hạ hạt thắng cảm hạnh"[13].

Năm Càn Long thứ 41 (1776), ngày 28 tháng 1 (âm lịch), giờ Sửu, Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ bạo bệnh quy thiên, chỉ mới 23 tuổi. Chiếu dùng quy tắc tông thất đại lễ để lo việc tang ma.

Sinh thời, ông không được nhận bất cứ phong hiệu gì. Chỉ khi qua đời, Hoàng tử Vĩnh Cơ mới được ban làm Bối lặc (貝勒) bởi người em trai của mình là Gia Khánh Đế. Bản thân Gia Khánh Đế dường như rất yêu quý người anh này của mình, rất lâu sau Vĩnh Cơ qua đời, Gia Khánh Đế vẫn ngẫu nhiên làm thơ để tưởng nhớ anh trai. Có bài sáng tác vào năm Càn Long thứ 50 (1785), khi Gia Khánh Đế (khi đó vẫn còn là Hoàng tử) đi thăm mộ của Vĩnh Cơ:

乾隆五十年皇十五子过十二兄园寝有感
...
远别人天已十年,夜台终古锁寒烟。
一生心血凭谁付,手泽长留在断篇。(十二兄手抄清语一本八千余句,乃生前日日晨玩之书,今在予处敬谨收藏。)
风雨书窗忆旧情,还思听雨续三生。
弟兄十七萧疏甚,忍见长天雁阵横。
(予弟兄十七人,今存五人矣!)
Càn Long ngũ thập niên, Hoàng thập ngũ tử quá Thập nhị huynh viên tẩm hữu cảm
...
Viễn biệt nhân thiên dĩ thập niên, dạ đài chung cổ tỏa hàn yên.
Nhất sinh tâm huyết bằng thùy phó, thủ trạch trường lưu tại đoạn thiên. (Thập nhị huynh thủ sao thanh ngữ nhất bổn bát thiên dư cú, nãi sinh tiền nhật nhật thần ngoạn chi thư, kim tại dư xử kính cẩn thu tàng. )
Phong vũ thư song ức cựu tình, hoàn tư thính vũ tục tam sinh.
Đệ huynh thập thất tiêu sơ thậm, nhẫn kiến trường thiên nhạn trận hoành.
(Dư đệ huynh thập thất nhân, kim tồn ngũ nhân hĩ!)

Căn cứ 《 Học nhân hủy tụy đích Vĩnh Cơ bối lặc phủ - 学人卉萃的永璂贝勒府 》 của Đổng Bảo Quang (董宝光):"Vĩnh Cơ sinh thời chưa hoạch phong hào, phỏng chừng cũng không phân phủ....... Vĩnh Cơ phủ mạt đại phủ chủ Phổ Thắng huynh đệ 3 người, tới tháng 1 năm 1921 lấy 8.000 nguyên tiền Dương đem phủ bán với hoàng tổng thể thị. Bán phủ khế ước, cũ nghiệp chủ thuộc tên là: Kim Phổ Thắng, Kim Phổ Lâm cùng Kim Phổ Đa".

Tế văn[sửa | sửa mã nguồn]

Tế văn sơ thứ của Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ, do Biên tu Bình Thứ (平恕) tu soạn, năm Càn Long thứ 41:

Tế văn Nhị thứ của Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ, do Biên tu Hoàng Hiên (黄轩) tu soạn:

Năm Gia Khánh thứ 4, tế văn truy phong Bối lặc:

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đích Phúc tấn: Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博尔济吉氏), người vợ duy nhất của ông, bà không sinh được cho Vĩnh Cơ một người con nào.
  • Con thờ tự: Miên Tư [绵思; 1776 - 1848], con trai thứ tư của Thành Triết Thân vương Vĩnh Tinh. Sơ phong Trấn Quốc tướng quân, lại phong Bối tử. Thời Đạo Quang, do cùng đọc sách với Hoàng đế tại Thượng thư phòng, tấn Bối lặc. Qua đời, con là Dịch Tấn (奕缙) tập tước Bối tử, sau lại có Dịch Thiện (奕缮) tập Trấn Quốc công.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 高宗十七子:孝贤纯皇后生端慧太子永琏、哲亲王永琮,皇后纳喇氏生贝勒永璂、永璟,孝仪纯皇后生永璐、仁宗、第十六子、庆僖亲王永璘,纯惠皇贵妃苏佳氏生循郡王永璋、质庄亲王永瑢,哲悯皇贵妃富察氏生定安亲王永璜,淑嘉皇贵妃金佳氏生履端亲王永珹、仪慎亲王永璇、第九子、成哲亲王永瑆,愉贵妃珂里叶特氏生荣纯亲王永琪,舒妃叶赫纳喇氏生第十子。永〈革出〉为履懿亲王允祹后,永瑢出为慎靖郡王允禧后。永璟、永璐、第九子、第十子、第十六子皆殇,无封。
  2. ^ 《清史稿列传》:贝勒永璂,高宗第十二子。乾隆四十一年,卒。嘉庆四年三月,追封贝勒。以成亲王子绵偲为后,初封镇国将军,再进封贝子。道光十八年正月,谕曰:“绵偲逮事皇祖,昔同朕在上书房读书者只绵偲一人。”进贝勒。二十八年,卒,子奕缙,袭贝子。卒,弟奕缮,袭镇国公。
  3. ^ 乾隆帝起居注第11册 .360个人图书馆
  4. ^ 《清高宗实录》里他出生前后的记载 :乾隆十七年四月:
    ○乙卯。上还宫。○户部议准、四川总督策楞疏称、大宁、荣县、威远、等三县。新添榷课增 引。请于发川余引内照数给发。从之。
    ○丙辰。上御太和殿视朝。文武升转各官谢恩。
    ○皇十二子永璂生
    ○庚申。(出生第五天)○大学士管江南河道总督高斌奏、下江淮、扬、徐、海、等属。四月以来。天气晴和。又得时雨霡霂。二麦秋实。愈见坚好。大概均得丰收。现米价无增。民情宁谧。得旨、欣慰览之。北省今春及入夏。雨旸时若。二麦可定丰收。又皇后已生皇子。一切顺适吉祥。卿其同此喜也。
  5. ^ 视朝旋跸诣畅春园问安遂至昆明湖上寓目怀欣因诗言志 (乾隆御制诗,作于永璂出生后第三天)
  6. ^ 《周礼·弁师》。注:“綦结也。皮弁之缝。每贯结五采玉十二以为饰。谓之綦。
  7. ^ 明代《诸司职掌》云:“皇帝皮弁,用乌纱帽之,前后各十二缝,每缝各缀五彩处十二,以为饰。”
  8. ^ 清 钱大昕《潜研堂文集》卷三十三 .中国哲学书电子化计划
  9. ^ 漆永祥 (2000). “錢大昕《講筳日記》校錄(下)”. 書目季刊 34 (2): 78. 
  10. ^ 【清】錢大昕. “潛研堂文集十七 第37頁 (圖書館)”. 中國哲學書電子化計劃. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018. 
  11. ^ 《户部则例》:乾隆三十五年四月,皇十二子成婚,福晋父家亲族,台吉蟒噶拖玛之妻,管旗京章济尔噶尔之妻,均未封
  12. ^ 《十二阿哥福晉使女補撥事》二十五日總管內務府謹奏,為請旨事查得阿哥等娶福晉向來俱由福晉母家陪送使女八名,今十二阿哥福晉原帶來蒙古女子一名業已病故,現今惟有官女子一名。
  13. ^ 乾隆四十年,《御制满蒙文鉴总纲》完成,谕旨:“汝所进书甚好,但有眉目不清数处,改正后再行呈阅。”又奉谕旨:“汝所作之书亦费心矣。”永璂回忆:“闻命之下曷胜感幸。”(《日课诗稿》第25到26页,《进御览敬志长律一首》)