Nữ quan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bức tranh Cung nhạc đồ (宮樂圖) mô tả các sĩ nữ thời Đường.

Nữ quan (女官), hay còn gọi Cung quan (宮官) hoặc Sĩ nữ (仕女), tiếng AnhLady-in-waiting, Court Lady hoặc Palace Attendant, là những từ hay dùng để gọi các cung nữ cao cấp trong cung đình phong kiến.

Họ có phẩm trật và lương bổng như mệnh nam quan, có nhiệm vụ quản lý hậu cung cung nữ, lại có thể chiếu cố giúp đỡ các Hoàng tử, Hoàng nữ hoặc Vương tử, Vương nữ hay thậm chí các phi tần trong việc giáo dục.

Phận sự và địa vị[sửa | sửa mã nguồn]

Ở chốn quan trường dường như chỉ dành cho nam giới, vẫn có một số lượng ít ỏi phụ nữ xuất hiện, toàn bộ họ đều ở trong nội cung, phụ giúp xung quanh Hoàng đế hoặc Quốc vương. Phận sự của họ rất đặc biệt, có hai đặc tính: một là đảm nhiệm chức vụ nội quan thông thường, mặt khác giống như một cung phi, các vị Đế vương có thể sủng hạnh họ và họ trở thành một phi tần.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Thượng Quan Uyển Nhi.

Nữ quan có vị thế phẩm trật cao không kém các nam quan, cũng sở hữu quyền thế lớn, không chỉ có được sự tôn trọng trong nội cung, mà còn được nghênh đón ở tiền triều. Thậm chí có trường hợp nữ quan tham dự triều chính, dù kì thực không có quyền lợi này. Cựu Đường thư còn ghi nhận một chuyện: Con trai thứ của Đường Cao Tổ Lý Uyên, Thư vương Lý Nguyên Danh từng được sư phó khuyên đến thăm hỏi Thượng cung đương thời, do bà đang có phẩm trật cao. Nhưng Lý Nguyên Danh cự tuyệt, cho rằng Thượng cung chỉ là gia tì của Nhị Ca (Đường Thái Tông), sao bổn vương phải hành lễ.

Phàm nữ quan có văn tài, thường được phụ trách quản lý việc dạy dỗ trong nội cung. Ban Chiêu đời Đông Hán vì vị thế gia đình họ Ban, được Đặng Thái hậu nhận làm sư phụ, đương thời tôn kính gọi là Tào đại gia (曹大家). Hàn Lan Anh đời Lưu Tống dâng lên bài "Trung Hưng phú", được chiêu nạp vào đảm nhiệm chức bác sĩ trong cung, dạy học cho cung nhân, nhân vì học vấn uyên bác, lại tuổi cao đức tốt, nên rất được tôn trọng, thường được kính xưng là Hàn công (韓公).

Nữ quan nói chung là thường không được xuất đầu lộ diện, nhưng vẫn có những người có tài năng được phá lệ. Như Thượng Quan Uyển Nhi đời Võ Tắc ThiênĐường Trung Tông, thường giữ vị trí quan trọng trong cung, địa vị cực kì cao quý. Ngoài ra còn có năm chị em Tống Nhược Tân, Tống Nhược Chiêu, Tống Nhược Luân, Tống Nhược Hiến, Tống Nhược Tuân vào giữa nhà Đường nhờ có tài học thanh phỉ, được Đường Đức Tông chiêu vào cấm cung, ban cho chức quan. Đến khi Đức Tông mở tiệc mừng, mỗi người cùng các quan văn xướng họa, Tống Nhược Chiêu trong số họ làm nhân sĩ cả ba triều, những người được xưng là tiên sinh, hậu phi, thân vương, công chúa đều gặp mặt để học hỏi lễ nghĩa.

Ngoài quản lý cung nhân và hầu giá học vân, Nữ quan còn có vai trò như phi tần, chỉ cần Đế vương để mắt, thì liền muốn giao hoan cùng họ. Thượng Quan Uyển Nhi vốn là Nội xá nhân, nhưng được Đường Trung Tông lâm hạnh, trở thành tần phi cao quý. Lý Thần phi thời nhà Tống sơ vào cung đảm nhiệm chức Ti tẩm, lúc lo việc giường chiếu áo mền cho Tống Chân Tông mà được đưa vào màn trướng. Hiếu Mục Kỷ Thái hậu của nhà Minh vốn là Nữ sử tiền triều, chủ quản Nội Tàng khố, Minh Hiến Tông ngẫu nhiên đi thị sát, thấy Kỷ thị ứng đối trôi chảy, liền kết giăng long phụng trình tường.

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Murasaki Shikibu, nữ quan cho Hoàng hậu Fujiwara no Shōshi.

Tại Nhật Bản, từ thời Heian đã có chế độ nữ quan. Họ thường là thành viên của các gia đình quý tộc đưa vào. Về cơ bản, các nữ quan đều phải là những người có học thức và xuất thân cao quý có thế lực[1].

Suốt thời kì Heian, các nữ quan giữ những chức danh quan trọng phục vụ nhu cầu của Thiên hoàng và các hậu cung. Một trong những điều kiện cần có để trở thành một nữ quan là họ phải biết những kiến thức về chữ Hán và được giáo dục tốt bởi các kinh thư Trung Hoa, như Tứ thư, Ngũ kinh[2]. Những nữ quan thời kì này phải kể đến Murasaki Shikibu, Sei Shōnagon, Izumi ShikibuAkazome Emon.

Trong thời kì Sengoku, vị trí nữ quan trở nên quan trọng hơn khi họ là người trung gian chủ yếu giữa Thiên hoàng và các triều thần, họ quản lý toàn bộ mọi việc trên dưới của nội cung, lên lịch làm việc, viếng thăm và nhận quà cáp cống phẩm. Khác với Trung Hoa, các nữ quan Nhật Bản trở thành người quản lý hậu cung chính thay các hoạn quan.

Nữ quan phục vụ cơ bản chia làm hai loại. Một loại thì rất thân cận với Thiên hoàng, quản lý mọi việc nhu yếu phẩm của Thiên hoàng và có thể trở thành phi tần nếu được sủng hạnh. Còn loại thứ hai chỉ làm những việc bên ngoài, hoặc phục vụ cho các cung phi[3].

Sang thời Edo, Mạc phủ Tokugawa muốn thể hiện quyền thế của mình, cho xây dựng Ōoku với một cơ chế nữ quan không thua kém gì hoàng thất. Các nữ quan trong Ōoku đều tuân thủ thứ bậc nghiêm ngặt, cũng xuất thân từ tầng lớp samurai quyền quý và chịu sự giáo dục hoàn hảo để có thể phục vụ các Shogun. Cũng như nữ quan Hoàng thất, một nữ quan Ōoku nếu được sủng hạnh vẫn có thể trở thành ngự thiếp với những biệt đãi tương xứng.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ sử Đạm Phương.

Trong lịch sử Việt Nam, cũng có một số các nữ quan đi vào lịch sử. Nữ quan Phạm Thị Trân là một nữ nghệ sĩ thời Đinh và cũng là người phụ nữ đầu tiên được phong làm quan trong thời đại phong kiến ở Việt Nam.[4][5][6] Dựa theo câu chuyện về Huệ Chân công chúa, con gái của Nữ quan Vương thị và Trần Anh Tông, có thể hình dung vị trí nữ quan Việt Nam thời kì này tương đồng với Trung Hoa, họ vào cung phục vụ và có thể được Hoàng đế sủng hạnh.

Thời Hậu Lê, có bà Nguyễn Thị Lộ đời Lê Thái Tông vốn là thị thiếp của Nguyễn Trãi, sau do được Lê Thái Tông để ý cùng tài ăn nói, đã được giữ chức vụ Lễ nghi học sĩ, giúp đỡ giáo huấn các cung nhân. Sau đó, Ngô Chi Lan đời Lê Thánh Tông là chị em họ của Hoàng đế, hay vào cung hầu Hoàng đế mỗi dịp tiệc tùng và thi ca, thời bấy giờ bà rất có quyền thế.

Vào thời nhà Mạc, có nàng Nguyễn Thị Duệ cải nam trang mà đi thi, đỗ được tiến sĩ. Sau bà bị phát hiện, tuy vậy bà không bị trừng phạt mà còn giữ tước vị nữ quan cao cấp để dạy bảo cung nhân. Thời cuối Lê trung hưng, có Đoàn Thị Điểm nổi tiếng văn thơ, cũng từng được triều đình nhà Lê cho vời vào cung để dạy bảo cung nhân. Các nữ quan trong phủ chúa thì có Chính phủ Thị nội cung tần Thượng hòa Trương Thị Trong, Thị nội cung tần Trương Thị Viên, Giáo thụ Phan Thị Toán,... đều là những nữ quan kiệt xuất.

Sang thời nhà Nguyễn, chế độ triều nghi đủ đầy, có Bà Huyện Thanh Quan được Minh Mạng (có thuyết nói là Tự Đức) cho với vào cung, giữ chức Cung trung Giáo tập để dạy học cho các công chúa và cung phi. Sau đó thời Tự Đức, có Nguyễn Thị Bích nổi tiếng văn thơ, triệu vào cung làm chức Thượng nghi viện, sau lên Tiệp dư, đương thời gọi bà là Tiệp dư phu tử vì bà hay giảng giải kinh sách cho Kiến PhúcĐồng Khánh. Cuối đời Nguyễn, có Đạm Phương xuất thân từ hoàng tộc giữ chức Nữ sử trong cung.

Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Triều Tiên cũng có chế độ nữ quan, khác với hầu hết các quốc gia thì nữ quan Triều Tiên đa phần là thân phận nô tì, từ hàng cung nữ mà đề bạt lên. Nhiệm vụ chính của họ là hầu hạ Quốc vương, Vương phi và quản lý các công việc lớn nhỏ khác nhau, được chia ra làm các cơ quan lớn nhỏ khác nhau được quản lý bởi các Thượng cung. Theo quy định, họ không thể kết hôn và phục vụ cho vương thất đến khi chết.

Gần như không có một nữ quan nào tiêu biểu được biết đến ở Triều Tiên, vì họ phụng sự đến già và lặng lẽ, không có xuất thân cao quý. Trừ Trương Hy tần nổi tiếng, vốn là con gái tội thần, sau vào làm cung nữ và chiếm trọn sự sủng ái của Triều Tiên Túc Tông, về sau bà từng làm Vương phi và sinh ra Triều Tiên Cảnh Tông. Sự kì tích không dễ thấy này khiến Trương Hy tần trở thành hậu cung nổi tiếng nhất lịch sử Triều Tiên.

Chế độ cụ thể[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Quy chế về nữ quan ở Trung Quốc rất rõ ràng, thời Lưu Tống đã đặt định rất cụ thể. Đến đời Tống-Minh phỏng lại chế độ quan chức, ngạch nội quan thì tạo lập chế độ nữ quan. Nhất phẩm là Hậu cung thông doãn: tử cực hộ chủ, quang hưng hộ chủ, tổng quản nội cung. Nhị phẩm là Hậu cung liệt tự: tử cực trung giám doãn đẳng, hệ phó thủ. Tam phẩm là Hậu cung tư nghi: tư chính đẳng. Tứ phẩm là các chức Hậu cung Đô chưởng.

Thời Bắc Ngụy, có Nội ti (內司); gồm Thượng thư lệnh (尚書令) và Thượng thư bộc (尚書僕); Tác ti (作司), Đại giám (大監), Nữ thị trung (女侍中) đều hàm Chính nhị phẩm; Giám (監), Nữ thượng thư (女尚書), Mỹ nhân (美人), Nữ sử (女史), Nữ hiền nhân (女賢人), Thư sử (書史), Thư nữ (書女), Tiểu thư nữ (小書女) đều vị Tam phẩm; Trung tài nhân (中才人), Cung nhân (供人), Trung sử (中使), Nữ sinh tài nhân (女生才人), Cung sử cung nhân (恭使宮人) vị Tứ phẩm; Xuân y (春衣), Nữ tửu (女酒), Nữ hưởng (女饗), Nữ thực (女食), Hề quan nữ nô (奚官女奴) đều vị Ngũ phẩm.

Nhà Đường thời kì, hậu cung phản chiếu Lục bộ mà thiết lập Lục cục (六局), về sau ảnh hưởng sau rộng, là hình mẫu chế độ Nữ quan mà Tống Minh noi theo. Trong Lục cục, đứng đầu là Lục thượng (六尚), tương tự Thượng thư, đều là Chính ngũ phẩm. Trong mỗi cục lại có 4 Ti (司), hàm Chánh lục phẩm; giúp mỗi Ti là Điển (典), hàm Chánh thất phẩm và Chưởng (掌), hàm Chánh bát phẩm; tên các Điển và Chưởng đều gọi theo tên của Ti, có tổng cộng 24 Ti (Nhị thập tứ Ti; 二十四司).

Lục cục Nữ quan:

  • Thượng cung cục (尚宮局): nắm giữ mọi việc chung trong cung. Cơ cấu gồm: Ti kí (司記); Ti ngôn (司言); Ti bộ (司簿); Ti vi (司闈); Lục cục xuất nạp văn tịch đều phải thông qua Thượng cung cục này.
  • Thượng nghi cục (尚儀局): nắm giữ lễ nghi trong cung. Cơ cấu gồm: Ti tịch (司籍); Ti nhạc (司樂); Ti tân (司賓); Ti tán (司贊); ngoài ra còn có hai Đồng sử (彤史) hàm Chánh lục phẩm và hai Nữ sử (女史) giúp việc.
  • Thượng phục cục (尚服局): quản lý các đồ đạc như lễ phục, lễ khí, thang mộc của hoàng gia và thị vệ. Cơ cấu gồm: Ti bảo (司寶); Ti y (司衣); Ti sức (司飾); Ti trượng (司仗);
  • Thượng thực cục (尚食局): quản lý vấn đề ăn uống trong cung, ngoài ra còn quản lý rượu và y dược. Cơ cấu gồm: Ti thiện (司膳); Ti uấn (司醞); Ti dược (司藥); Ti xí (司饎);
  • Thượng tẩm cục (尚寢局): quản lý long sàn, mành trướng, đèn đuốc, các món vật nội thất. Cơ cấu gồm: Ti thiết (司設); Ti dư (司輿); Ti uyển (司苑); Ti đăng (司燈);
  • Thượng công cục (尚功局): quản lý các vấn đề về nữ công, sửa chữa và tạo ra đồ đạc hoặc y phục. Cơ cấu gồm: Ti chế (司制); Ti thải (司彩); Ti trân (司珍); Ti kế (司計);

Ngoài ra còn có các chức ngoài Lục cục như: Cung chánh (宮正) hàm Chính ngũ phẩm; Ti chánh (司正) hàm Chánh lục phẩm; Điển chánh (典正) hàm Chánh thất phẩm; có nhiệm vụ xử xét sai trái của Nữ quan và Cung nữ, phụ giúp có 4 Nữ sử (女史). Ngoài ra còn có A giám (阿監) và Phó giám (副監), trật Chánh thất phẩm.

Thời Đường, có Văn Học quán (文學館), do các Nữ quan có học thức đảm nhiệm, sẽ được thăng làm Học sĩ (學士), phụ trách giản dạy phi tần và cung nhân kiến thức.

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan của các nữ quan gọi là Hậu cung thập nhị ti (後宮十二司; こうきゅうじゅうにし), có nhiệm vụ hầu hạ Thiên hoàng và hoàng thất Nhật Bản, phân biệt mười hai ty gồm: Nội thị ty (内侍司), Tàng ty (藏司), Thư ty (書司), Dược ty (藥司), Binh ty (兵司), Xiển ty (闡司), Điện ty (殿司), Tảo ty (掃司), Thủy ty (水司), Thiện ty (膳司), Tửu ty (酒司), Phùng ty (縫司).

Trong đó, Nội thị ty (内侍司), còn gọi Thượng thị sở (尚侍所) là cơ quan dành cho các nữ quan cao cấp, với nhiệm vụ gần như là một thư kí thân cận của Thiên hoàng. Do thân phận như vậy, đối với người đảm nhiệm đòi hỏi có trình độ cao về lễ nghĩa và kiến thức. Ngoài ra, chiếc gương Yata no Kagami (Bát Chỉ Kính; 八咫鏡), một trong Tam chủng thần khí do Nội thị ti phụ trách bảo quản. Nữ quan thuộc Nội thị ty gồm:

  • Thượng thị (ないしのかみ, 尚侍), hai người, hàm Tòng tam phẩm hoặc Tòng ngũ phẩm; trưởng quan phụ trách quản lý hậu cung thập nhị ty.
  • Điển thị (ないしのすけ, 典侍), bốn người, hàm Tòng tứ phẩm hoặc Tòng lục phẩm; nữ quan phụ tá giúp việc cho Thượng thị.
  • Chưởng thị (ないしのじょう, 掌侍), hai người, hàm Tòng ngũ phẩm đến Tòng thất phẩm.
  • Nữ nhụ (にょじゅ, 女孺), giúp việc trong Ti, vô hạn định.

Còn ngoài ra, các Ti còn lại đều có một Thượng, hàm Tòng lục phẩm; hai người Điển, hàm Tòng bát phẩmNữ nhụ vô hạn định. Ngoài ra, còn có một số chức vụ khác, như:

  • Ngự Hạp điện Biệt đương (みくしげとののべっとう, 御匣殿別当), trưởng quan của Ngự Hạp điện (みくしげどの), trông nom việc phục sức của Thiên hoàng, thường do những nàng hầu được Thiên hoàng ân sủng đảm nhiệm.
  • Nữ tàng nhân (にょくろうど, 女蔵人).
  • Thái nữ (うねめ, 采女), thị tỳ hầu hạ trong hậu cung.

Thời kỳ Mạc phủ Tokugawa, nội cung thành Edo được biết đến với tên gọi Ōoku (Đại áo, おおおく, 大奥), một xã hội thu nhỏ tập hợp hơn một ngàn nữ nhân, được thành lập bởi Shōgun Hidetada. Từ người vợ chính thất tới các cung tần mỹ nữ, người hầu kẻ hạ trong Ōoku gọi chung là Áo nữ trung (おくじょちゅう, 奥女中), giữ nhiệm vụ phụng sự Tướng quân và gia tộc Tokugawa.

Những tổng quản hầu hạ gia đình Tướng quân có trách nhiệm quản lý các công việc lớn nhỏ trong Ōoku, giữa các tổng quản cũng phân chia thứ bậc:

  • Thượng lạp Ngự niên ký (上臈御年寄; じょうろうおとしよりJōrō Otoshiyori): xuất thân từ giới quý tộc tại kinh đô Kyoto, chịu trách nhiệm bảo trợ, cố vấn cũng như đảm nhiệm việc lễ nghi trong Ōoku. Mặc dù trên danh nghĩa, Tổng quản Thượng lạp Ngự niên ký có quyền lực rất cao nhưng trên thực tế không có thực quyền nhiều bằng Tổng quản Ngự niên ký.
  • Ngự niên ký (御年寄; おとしよりOtoshiyori): xuất thân từ tầng lớp Samurai thượng cấp, người có quyền lực tối cao tại Ōoku, quản lý mọi thứ trong Ōoku.

Một số tước vị khác:

  • Ngự trung lạp (御中臈; おちゅうろうOchūrō): nữ quan phục vụ Ngự đài sở và hay được tuyển chọn làm hầu thiếp cho Tướng quân.
  • Trung lạp (中臈; ちゅうろうChūrō): hầu cận Ngự đài sở, dự tuyển làm hầu thiếp của Shōgun.
  • Trung niên ký (中年寄; ちゅうどしよりChūdoshiyori): nữ quan phụ tá của Ngự niên ký.
  • Ngự khách ứng đáp (御客應答, おきゃくあしらいOkyakuashirai): phụ trách tiếp đãi các nữ quyến thuộc các dòng nhánh Tokugawa của Shogun.
  • Ngụ phường chủ (御坊主; おぼうずObōzu): nữ quan phụ trách chuẩn bị vật tùy thân cho Shogun, có thể đi lại giữa Đại Áo, Trung Áo và Biểu Gian.
  • Ngự đĩnh khẩu (御錠口; おじょうぐちOjōguchi): nữ quan canh giữ cửa Ngự Linh lang hạ, là chính môn tại Ōoku.
  • Ngự tiểu tính (御小姓; おこしょうOkoshō): các thiếu nữ độ tuổi từ 7 tới 16 tuổi hầu cận Ngự đài sở.
  • Ngự thứ (御次; おつぎOtsugi): phụ trách quét dọn, di chuyển lễ phẩm, chuẩn bị bữa ăn và lưu trữ đồ vật của Shogun. An bài các tiết mục du nghệ khánh điển.
  • Biểu sử (表使; おもてづかいOmotezukai): giúp việc cho Ngự niên ký, phụ trách sở nhu vật phẩm của Ōoku.
  • Ngự hữu bút (御右筆; ごゆうひつGoyūhitsu): phụ trách văn thư, kiểm tra cống phẩm.
  • Thiết thủ thư (切手書; きってがきKittegaki): phụ trách ghi chép tình hình ra vào Ōoku.
  • Ngô phục chi gian (吳服之間; ごふくのまGofukunoma): phụ trách làm y phục cho cả Ōoku.
  • Ngự tam chi gian (御三之間; おさんのまO-sannoma): tạp dịch cho Ngự niên kí.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trước triều đại nhà Nguyễn, lịch sử Việt Nam không có ghi chép cụ thể và chi tiết chức vụ cũng như cấp bậc của các nữ quan, dù có ghi nhận một vài nữ quan ưu tú.

Sang thời Nguyễn, cứ theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ mới có ghi chép cụ thể, cứ theo đó thì ta biết rằng hệ thống nữ quan và cung nữ được gọi là Lục thượng (六尚), tương đồng quy chế thời Đường. Người đứng đầu hệ thống này chính là các phi tần. Thời Thiệu Trị, Nghi Thiên Chương Hoàng hậu Phạm thị, khi ấy còn là Quý phi, đã được giao trọng trách cai quản viện Thượng nghi, cũng như Nhiếp quản lục thượng. Thời Tự Đức, Hoàng quý phi Vũ Thị Duyên cai quản Lục thượng. Sau vì việc quản lý của bà chưa được chu toàn, cung nhân tiến cơm trưa chậm làm trái ý vua nên bị giáng làm Trung phi, tước bỏ quyền cai quản Lục thượng.

Thời Đồng Khánh, Hoàng quý phi Nguyễn Hữu Thị Nhàn được ban kim bài chiều ngang khắc chữ “Đồng Khánh sắc tứ”, chiều dọc khắc chữ “Kiêm nhiếp lục viện”. Giai phi Phăn Văn thị cũng được phong làm Quyền nhiếp lục viện, cai quản lục viện cùng Hoàng quý phi. Còn Quán phi Trần Đăng thị, Chính tần Hồ Văn thị, Nghi tần Nguyễn Văn thị, Dự tần Trần Văn thị cũng được phân ra cai quản Lục thượng viện. Sau vì cư xử không đúng mực, Quán phi, Chính tần và Nghi tần bị giáng xuống làm Tùy tần, Mỹ nhân và Tài nhân cũng như mất quyền cai quản Lục thượng.

Lục thượng bao gồm Thượng nghi, Thượng thực (từ thời Triệu Trị đổi làm Thượng diên), Thượng trân, Thượng y, Thượng phụcThượng khí. Các cấp bậc cai quản từ cao đến thấp là: Quản sự (管事), Thống sự (統事), Thừa sự (承事), Tùy sự (隨事), Tòng sự (從事) và Trưởng ban (長班). Trong đó, Hoàng quý phi thường giữ vị trí Quản sự, thâu tóm mọi việc, đây là hạ thống đã hoàn thiện dưới thời Thiệu Trị[7][8]:

  • Thượng nghi (尚儀): giữ nghi lễ, giấy tờ trong cung. Bậc đầu gọi là Chưởng nghi (掌儀), Chưởng lễ (掌儀). Bậc thứ gọi là Tư hương (司香), Tư chương (司章), bậc trung gọi là Điển sự (典事).
  • Thượng diên (尚筵): giữ thức ăn, chè, trà, hoa quả trong cung. Bậc đầu gọi là Chưởng diên (掌筵), Chưởng yến (掌宴). Bậc thứ gọi là Tư trà (司茶), Tư thiện (司膳), bậc trung gọi là Điển soạn (典饌), Điển giai (典揩).
  • Thượng trân (尚珍): giữ trang sức, châu ngọc trong cung. Bậc đầu gọi là Chưởng châu (掌珠), Chưởng ngọc (掌玉). Bậc thứ gọi là Tư kim (司金), Tư ngân (司銀), bậc trung gọi là Điển mãn (典滿), Điển hoàn (典丸).
  • Thượng y (尚衣): giữ mũ, giày, áo, xiêm trong cung. Bậc đầu gọi là Chưởng bào (掌袍), Chưởng cừu (掌裘). Bậc thứ gọi là Tư y (司衣), Tư phi (司緋), bậc trung gọi là Điển nhu (典襦), Điển chẩn (典袗).
  • Thượng phục (尚服): giữ chăn, nệm, giường, màn trong cung. Bậc đầu gọi là Chưởng duy (掌維), Chưởng vi (掌韋). Bậc thứ gọi là Tư thường (司裳), Tư đới (司帶), bậc trung gọi là Điển khâm (典?), Điển nhục (典蓐).
  • Thượng thảng (尚帑): giữ đồ lạ, đồ chơi. Bậc đầu gọi là Chưởng trân (掌珍), Chưởng ngoạn (掌玩). Bậc thứ gọi là Tư thảng (司帑), Tư khí (司器), bậc trung gọi là Điển cẩm (典錦), Điển thái (典采).

Sáu bậc Nữ quan ở các Thượng; quản lý mọi việc là bậc đầu; thâu tóm mọi việc là bậc thứ; cuối cùng thừa hành mọi việc là bậc giữa.

Dưới quyền quản lý của Lục thượng là tám ban cung nữ, gồm có ban Thiều Quang, ban Thuỵ Nhật, ban Kim Hoa, ban Hương Cẩm, ban Tường Loan, ban Nghi Phượng, ban Tiên Quế, ban Ngọc Mai. Đứng đầu mỗi ban là chức Trưởng ban, chức vị dưới Lục thượng Tòng sự. Ngoài ra, trong cung còn có các quan nô tỳ, được gọi là đội Thuận Cần, đứng đầu là Đầu mục Cung nô, ngang chức với Trưởng ban. Hàng nữ tỳ được chia ra làm 6 cấp bậc: Thủ đẳng (首等); Thứ đẳng (佽等); Trung đẳng (中等); Á đẳng (亞等); Hạ đẳng (下等) và Mạt đẳng (末等).

Từ chức tòng sự trở lên, các nữ quan khi được phong chức đều được ban cáo trục giấy rồng, đặt trong hòm gỗ sơn son, giao cho cung giám (hoạn quan nhà Nguyễn) trao cho nữ quan nhận lĩnh. Nữ quan đến gặp vua tạ ơn, làm lễ ba lần quỳ, sáu lần vái. Các trưởng ban và đầu mục thì do bộ Lễ tuyên sắc.

Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Các nữ quan đều phục vụ gọi chung là Nội mệnh phụ. Đối với các hậu cung, được Quốc vương sủng hạnh và hạ sinh con cái sẽ được gọi là Nội quan, còn các cung tì phục vụ mọi việc sẽ được gọi là Cung quan. Các cấp bậc cung quan được quy định rất chặt chẽ.

Hai vị trí cao nhất, thuộc hàm Chính ngũ phẩmThượng cung (尙宮, 상궁) và Thượng nghi (尙儀, 상의), họ là các nữ quan phục vụ trực tiếp cho vương thất. Một cung nữ ở lâu trong cung, giàu kinh nghiệm sẽ được phong làm Thượng cung. Tuỳ theo vị trí và nhiệm vụ, giữa các Thượng cung với nhau sẽ có phân chia thứ bậc, ví dụ như:

  • Đề điều Thượng cung (Jejo sanggung, 提調尙宮) - cũng được gọi là Keunbang sanggung[9]: có địa vị cao nhất trong số cung nữ, có ảnh hưởng trong hậu cung. Họ phục vụ nhà vua với nhiều nội quan khác trong cung, nhận lệnh của nhà vua và có quyền lực chính trị.
  • Phó Đề điều Thượng cung (Bujejo sanggung, 副提調尙宮) - cũng được gọi là A lý khố Thượng cung (Arigo sanggung, 阿里庫尙宮): quản lý công khố của hậu cung.
  • Chí mật Thượng cung (Jimil sanggung, 至密尙宮) - cũng được gọi là Đãi lệnh Thượng cung (Daeryeong sanggung, 待令尙宮): hầu hạ thân cận với nhà vua và vương phi, đại phi
  • Bảo mẫu Thượng cung (Bomo sanggung, 保姆尙宮): chăm sóc các vương tử và vương nữ.
  • Thị nữ Thượng cung (Sinyeo sanggung, 侍女尙宮): phụ sổ sách và lễ tiết cho Chí mật Thượng cung.
  • Giám sát Thượng cung (Gamchal sanggung, 監察尙宮): đánh giá và trừng phạt các cung nữ.[10]

Cũng có trường hợp một cung nữ trẻ tuổi được vua sủng ái được sắc phong làm Thượng cung, khi đó họ đứng hàng cao nhất trong Chính ngũ phẩm, được gọi là Thừa ân Thượng cung (承恩尙宮, 승은상궁). Tuy nhiên, Thừa Ân thượng cung không được tính vào Vương thất hay Nội quan. Mỗi Thừa ân Thượng cung sẽ được ban cho một Thượng cung khác để hầu hạ.

Từ Tòng ngũ phẩm trở đi là các cung nữ và nô tì, bao gồm:

Cấp bậc Tên gọi Phiên âm Tiếng Triều Tiên Tiếng Hán
Tòng ngũ phẩm Thượng phục
Thượng thực
Sang-bok
Sang-shik
상복
상식
尙服
尙食
Chính lục phẩm Thượng tẩm
Thượng công
Sang-chim
Sang-kong
상침
상공
尙寢
尙功
Tòng lục phẩm Thượng chính
Thượng ký
Sang-chong
Sang-gi
상정
상기
尙正
尙記
Chính thất phẩm Điển tân
Điển y
Điển thiện
Chon-bin
Chon-ui
Chon-son
전빈
전의
전선
典賓
典依
典膳
Tòng thất phẩm Điển thiết
Điển chế
Điển ngôn
Chon-sol
Chon-che
Chon-on
전설
전제
전언
典設
典製
典言
Chính bát phẩm Điển tán
Điển sức
Điển dược
Chon-chan
Chon-shik
Chon-yak
전찬
전식
전약
典贊
典飾
典藥
Tòng bát phẩm Điển đăng
Điển thải
Điển chính
Chon-dung
Chon-che
Chon-cong
전등
전채
전정
典燈
典彩
典正
Chính cửu phẩm Tấu cung
Tấu thương
Tấu giác
Chu-gung
Chu-sang
Chu-gak
주궁
주상
주각
奏宮
奏商
奏角
Tòng cửu phẩm Tấu biến trưng
Tấu trưng
Tấu vũ
Tấu biến cung
Chu-byon-chi
Chu-chi
Chu-oo
Chu-byon-gung
주변치
주치
주우
주변궁
奏變徵
奏徵
奏羽
奏變宮

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lillehoj, tr. [cần số trang]
  2. ^ Rowley, tr. [cần số trang]
  3. ^ Lebra, tr. [cần số trang]
  4. ^ Lê Thái Dũng (8 tháng 5 năm 2012). “Người phụ nữ đầu tiên được phong làm quan”. Chuyên trang Phụ nữ & Đời sống (phunutoday.vn) của báo điện tử nguoiduatin.vn. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2013. 
  5. ^ Lịch sử và đặc điểm nghề hát Chèo Việt Nam
  6. ^ Xem cuốn Non Nước Việt Nam, mục Nghệ thuật sân khấu truyền thống
  7. ^ Truyện kể các Hoàng phi Hoàng hậu nhà Nguyễn. Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2011. 
  8. ^ Đại Nam hội điển sử lệ - Sách phong nữ quan
  9. ^ “상궁 (尙宮)” (bằng tiếng Triều Tiên). Doosan Encyclopedia. 
  10. ^ http://100.nate.com/dicsearch/pentry.html?s=K&i=255134&v=42