Hiếu Hoà Duệ Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu
孝和睿皇后
Gia Khánh Đế Hoàng hậu
《孝和睿皇后朝服像》.jpg
Hoàng quý phi Đại Thanh
Tại vị 20 tháng 5, 1797
- 18 tháng 4, 1799
Đăng quang 20 tháng 5, 1797
Tiền vị Lệnh Ý Hoàng quý phi
Kế vị Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu
Hoàng hậu Đại Thanh
Tại vị 18 tháng 4, 1799
- 25 tháng 7, 1820
Đăng quang 15 tháng 4, 1801
Tiền nhiệm Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu
Kế nhiệm Hiếu Thận Thành Hoàng hậu
Hoàng thái hậu Đại Thanh
Tại vị 25 tháng 7, 1820
- 11 tháng 12, 1849
Đăng quang 2 tháng 12, 1820
Tiền nhiệm Sùng Khánh Hoàng thái hậu
Kế nhiệm Khang Từ Hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Nhân Tông
Gia Khánh Hoàng đế
Hậu duệ Hoàng thất nữ (mất sớm)
Đôn Khác Thân vương Miên Khải
Thụy Hoài Thân vương Miên Hân
Tước hiệu Cung Từ Khang Dự An Thành Trang Huệ Thọ Hi Sùng Kì Hoàng thái hậu
(恭慈康豫安成莊惠壽禧崇祺皇太后)
Thụy hiệu Hiếu Hòa Cung Từ Khang Dự An Thành Khâm Thuận Nhân Chính Ứng Thiên Hi Thánh Duệ Hoàng hậu
(孝和恭慈康豫安成欽順仁正應天熙聖睿皇后)
Thân phụ Cung A Lạp
Thân mẫu Diệp Hách Na Lạp thị
Sinh (1776-11-20)20 tháng 11, 1776
Mất 23 tháng 1, 1850(1850-01-23) (73 tuổi)
Thọ Khang cung, Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
An táng 26 tháng 2, 1853
Xương Tây lăng (昌西陵), Thanh Tây lăng

Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu (chữ Hán: 孝和睿皇后, tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᡥᡡᠸᠠᠯᡳᠶᠠᠰᡠᠨ
ᠰᡠᠩᡤᡳᠶᡝᠨ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
tiếng Mãn Châu:hiyoošungga hūwaliyasun sunggiyen hūwangheo,thái thanh:hiyouxungga hvwaliyasun sunggiyen hvwangheu; 20 tháng 11, năm 1776 - 23 tháng 1, năm 1850), hay con gọi là Cung Từ Hoàng thái hậu (恭慈皇太后), là Hoàng hậu thứ hai của Thanh Nhân Tông Gia Khánh Hoàng đế.

Tuy bản thân cũng có con trai, nhưng cuối cùng bà ủng hộ để cho Trí Thân vương Miên Ninh, con trai duy nhất của Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu lên kế vị, tức Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Hoàng đế. Điều này khiến Đạo Quang Đế hết mực cung dưỡng bà như mẹ ruột. Kể từ lúc làm Hoàng hậu dưới triều Gia Khánh và làm Hoàng thái hậu dưới triều Đạo Quang, bà tại vị tối cao trong hậu cung nhà Thanh trong vòng 48 năm, trở thành một trong những Hoàng thái hậu trường thọ nhất triều đại này.

Gia tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Hòa Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị.

Hiếu Hòa Hoàng hậu sinh ngày 10 tháng 10 (âm lịch) năm Càn Long thứ 41 (1776), xuất thân từ gia tộc Nữu Hỗ Lộc thị, một tộc thị của người Mãn Châu, thuộc Mãn Châu Tương Hoàng Kỳ.

Theo Phổ hệ, bà là thuộc dòng dõi của Hoằng Nghị công Ngạch Diệc Đô, đại công thần thời Thanh, gia tộc Nữu Hỗ Lộc thị nhánh Hoằng Nghị công phủ được xem là "Danh môn trung danh môn", cực kỳ hiển quý. Tổ của dòng dõi của bà là con trai thứ 6 của Ngạch Diệc Đô, tên Đạt Long Ái (達隆藹). Đạt Long Ái có mẹ là phu nhân Ái Tân Giác La thị, là con gái của bá phụ của Thanh Thái TổLễ Đôn Ba Đồ Lỗ (禮敦巴圖魯), theo Hoằng Nghị công phủ tộc phổ ghi nhận thì ông ta vốn có tật, nên sinh thời chưa làm quan, nghênh thú Qua Nhĩ Giai thị (瓜爾佳氏), là con gái của Ô Nhĩ Hán Mặc Nhĩ Căn (烏爾漢墨爾根). Con trai ông là Ước Bái (約拜) nguyên nhậm Hộ quân thống lĩnh, sau thành Nhất đẳng Thị vệ, ông cưới đồng kỳ Mãn Châu Na Lạp thị, là tổ cô của Bố chính sứ Triều Kỳ (朝奇), có một con gái gả cho Ban Đệ (班第) thuộc Bát Nhĩ Tế Cát Đặc bộ.

Con trai của Ước Bái là Tích Đặc Mộc Bố (錫特木布) làm Nhị đẳng Thị vệ, kết hôn với Tương Bạch kỳ Na Lạp thị là cháu của Đô thống Mã Tề (馬齊), sau lại cưới đồng kỳ Mãn Châu Tát Khắc Đặc thị (薩克達氏), con gái Lang trung bộ HìnhHi Phật (希佛). Con của Tích Đặc Mộc Bố là Công Nguyên (公元), hay Tây Nguyên (西元), vào thời Khang Hi lấy Bút thiếp nhập sĩ, làm Chủ sự, trong năm Ung Chính làm Lang trung, Án sát Quảng Đông rồi Tổng binh Thái Ninh. Ông cưới đồng kỳ Mãn Châu Qua Nhĩ Giai thị, con gái Loan Nghi vệ Vân huy sử Phó Thật (傅實), sau cưới đồng kỳ Mãn Châu Tát Khắc Đặc thị, là con gái Nhị đẳng thị vệ Hòa Thạc (和碩), sau lại cưới Tương Bạch kỳ Mãn Châu Phú Sát thị, là con gái của Kỵ đô úy Y Lâm (伊林).

Qua những tiến trình làm quan của hậu duệ nam giới, gia đình của Hiếu Hòa Duệ hoàng hậu đến thời kì ông cụ nội tuy không làm quá cao quan, song cũng giữ được phong thái bậc lương gia, đây chính là cơ bản lợi thế xuất thân danh môn Nữu Hỗ Lộc thị từ Hoằng Nghị công phủ. Công Nguyên có 3 con trai, con trai thứ 3 là Công Bảo (公保), chính là ông nội của bà.

Ông nội Công Bảo sinh năm Ung Chính năm thứ 11, vào năm Càn Long thứ 20 thi đậu Bút thiếp thức mà nhập sĩ, năm thứ 23 bổ phụ vào Công bộ làm Bút thiếp thức, năm thứ 28 lại vì bệnh mà cáo hưu, về cơ bản chưa chạm đến con đường làm quan, nhưng lại tương đối trường thọ, từng tham gia Thiên Tẩu yến (千叟宴) năm Càn Long thứ 60, cuối cùng qua đời trong đời Gia Khánh thứ 6, chính mắt nhìn thấy cháu gái phong Quý phi, rồi Hoàng hậu, cả gia tộc đại vinh hiển, cũng tương đối hiếm có. Ông cưới Chính Lam kỳ tông thất nữ Ái Tân Giác La thị, là con gái của Phụng ân Tướng quân Tăng Thành (增誠), sau đó lại cưới Tương Bạch kỳ Mãn Châu Na Lạp thị, con gái của Hộ quan Tham lĩnh Châu Long A (珠隆阿). Như vậy ta thấy được rằng, có khả năng liên hôn được với con gái tông thất, tuy gia cảnh tầm trung không quá vượt trội, thậm chí có phần đi xuống dần, song danh tiếng Hoằng Nghị công phủ Nữu Hỗ Lộc thế gia vẫn còn hiện hữu.

Công Bảo có 3 con trai, con cả là Cung A Lạp (恭阿拉), cũng chính là cha của Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu, sinh năm Càn Long thứ 18, năm thứ 36 kế tục đường thúc huân cựu Tá lĩnh mà nhập sĩ, nhận chức Tham lĩnh dưới triều Càn Long. Qua đời năm Gia Khánh thứ 17, sau khi hưởng hết vinh quang do con gái đem lại. Con trai thứ Na Mộc Tát Nhĩ Trát Phổ (那木萨尔扎普), lấy làm con thừa tự của chi khác, còn con út Miên Thiện (明善), chỉ hơn Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu 1 tuổi.

Mẹ bà thuộc tộc Diệp Hách Na Lạp thị, con gái của Mãn châu Chính bạch kỳ Nhất đẳng nam Bạch Minh (白明), sinh năm Càn Long thứ 19, qua đời năm Gia Khánh thứ 9, hạ sinh ra 3 nam và 3 nữ, trong đó Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu là trưởng nữ; anh cả Ninh Vũ Thái (寧武泰) chết trẻ, em trai Hòa Thế Thái (和世泰) và Cát Luân Thái (吉倫泰). Hai em gái bà, một người thua bà 6 tuổi, một người thua bà 13 tuổi. Thuận tiện nhắc tới, Cung Thuận Hoàng quý phi, một sủng phi khác của Gia Khánh Đế cũng xuất thân từ Hoằng Nghị công phủ Nữu Hỗ Lộc thế gia, bà và Hoàng quý phi có quan hệ không chỉ họ hàng xa, mà còn thông qua hôn nhân khi em gái của 2 bà đều làm dâu cho Cung Túc Thân vương Vĩnh Tích.

Nhập cung[sửa | sửa mã nguồn]

Phong phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 54 (1790), Nữu Hỗ Lộc thị 14 tuổi tham dự Bát Kỳ tuyển tú, được Càn Long Đế đặc chỉ chọn trở thành thiếp thất của Gia Thân vương Vĩnh Diễm, Hoàng thập ngũ tử, chức vị của bà là Trắc Phúc tấn.

Thanh đại cung đình quy định, nhận danh vị Trắc Phúc tấn thường có 2 loại: loại tương đối phổ biến nhất là từ vị hầu thiếp, tức Cách cách. Loại này do sinh hạ con cái mà tấn phong, xuất thân từ Nội vụ Phủ Tam kỳ, là cung nữ bị nạp vào Hoàng tử phủ hầu hạ, không có hôn lễ chính thức. Loại thứ 2 là từ Bát Kỳ tuyển tú, được chỉ định chọn làm vợ lẽ cho Hoàng tử phủ, có hôn lễ đầy đủ chỉnh chu.

Vào lúc này, Phúc tấn của Gia Thân vương là Hỉ Tháp Lạp thị (tức Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu) sau khi tiểu sản vào năm thứ 50 (1786) thì thân thể suy yếu, nên vào năm thứ 51 (1787) thì Càn Long Đế mệnh Hoàn Nhan thị nhập phủ làm Trắc Phúc tấn, nhưng vị Hoàn Nhan thị này cũng qua đời không lâu sau đó. Xét về gia thế, Mãn Châu Tương Hoàng kỳ Nữu Hỗ Lộc thị xuất thân gia thế tầm trung, nhưng tốt xấu gì cũng là hậu duệ của Hoằng Nghị công phủ Nữu Hỗ Lộc thế gia, so ra cũng thậm chí cao hơn Đích Phúc tấn Hỉ Tháp Lạp thị có nguồn gốc là Bao y. Trước tình thế đó, Nữu Hỗ Lộc thị được chỉ định nhập Gia Thân vương phủ, cho thấy ý tứ chọn sẵn chính thê của Càn Long Đế phòng khi Đích Phúc tấn Hỉ Tháp Lạp thị qua đời rất rõ.

Trắc Phúc tấn Nữu Hỗ Lộc thị nhập phủ liền sinh dục. Năm Càn Long thứ 57 (1793), ngày 26 tháng 6, hạ sinh con gái thứ 7 của Gia Thân vương. Năm thứ 59 (1795), ngày 20 tháng 6, hạ sinh Miên Khải, con trai thứ 3 của Gia Thân vương.

Năm Càn Long thứ 60 (1796), Thanh Cao Tông Càn Long Đế thoái vị trở thành Thái Thượng hoàng, Gia Thân vương nối ngôi, niên hiệu Gia Khánh.

Năm Gia Khánh nguyên niên (1797), ngày 4 tháng 1, lấy Lễ bộ Thượng thư Đức Minh (德明) làm Chính sứ, Lễ bộ Hữu Thị lang Chu Hưng Đại (周兴岱) làm Phó sứ, tuyên sách Trắc Phúc tấn Nữu Hỗ Lộc thị làm Quý phi, hành Quý phi sách phong lễ[1].

Sách văn viết:

Lập hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Gia Khánh thứ 2 (1797), tháng 3, Hỉ Tháp Lạp Hoàng hậu qua đời.

Vào lúc này, Quý phi Nữu Hỗ Lộc thị có địa vị cao nhất trong hậu cung. Do dự tính từ trước, nên bà được Càn Long Thái Thượng hoàng chỉ định làm Kế Hoàng hậu, nhưng do có tang Hiếu Thục Hoàng hậu, nên vào ngày 20 tháng 5 (âm lịch) cùng năm, bà được nâng thành Hoàng quý phi và sẽ chính thức trở thành Hoàng hậu ngay khi mãn tang cố Hoàng hậu sau 27 tháng. Khiến Đại học sĩ Lưu Dung (刘墉) làm Chính sứ, Lễ bộ Tả Thị lang Thiết Bảo (铁保) làm Phó sứ, hành Hoàng quý phi sách phong tuyên chỉ.

Sách văn rằng:

Năm Gia Khánh thứ 4 (1799), ngày 3 tháng 1 (âm lịch), Thái Thượng hoàng giá băng. Ngày 18 tháng 4 (âm lịch) cùng năm, ra chỉ dụ tấn phong làm Hoàng hậu. Do gặp đại tang của Càn Long Đế, lễ sắc phong Hoàng hậu theo dự tính của bà bị dời lại sau khi mãn tang Thái Thượng hoàng.

Năm Gia Khánh thứ 6 (1801), ngày 15 tháng 4 (âm lịch), lấy Văn Hoa điện Đại học sĩ Đổng Cáo (董诰) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Phổ Cung (普恭) làm Phó sứ, sách tuyên lập làm Hoàng hậu. Chính vị tại Trữ Tú cung (儲秀宮). Sách văn rằng:

Năm Gia Khánh thứ 10 (1805), ngày 9 tháng 2, giờ Tỵ, hạ sinh Hoàng tứ tử Miên Hân. Trong số các con của bà sinh ra, chỉ có Miên Hân là sinh sau khi bà trở thành Hoàng hậu, nên vị trí Hoàng đích tử chân chính, khác hẳn người anh Miên Khải.

Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị nổi tiếng là người đối đãi nhân từ, có học thức, được Càn Long Đế hết mực tin tưởng. Luận về gia thế, dòng họ Nữu Hỗ Lộc của bà thuộc hàng danh gia, cao quý hơn Hỉ Tháp Lạp của Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu. Sau khi đăng cơ lập tức phong Quý phi, Hỉ Tháp Lạp thị vừa qua đời được nhận Hoàng quý phi kế tục Kế Hoàng hậu, vào phủ liền có thai, cách 2 năm lại hoài thai sinh dục Hoàng tử. Lúc này Gia Khánh Đế tuy đã 55 tuổi, cũng đặc biệt không tính là thường thấy, cho thấy quan hệ giữa bà và Gia Khánh Đế tương đối không tồi.

Sau khi bà trở thành Hoàng hậu, hiển nhiên gia đình Nữu Hỗ Lộc thị cũng trở nên hiển quý. Cha của Hoàng hậu là Nữu Hỗ Lộc Cung A Lạp nhanh chóng lần lượt trọng dung, bổ làm các chức vụ cao cấp như Tổng binh, Đô thống, Nội đại thần rồi Thượng thư bộ Công, nhận được tước "Thừa Ân hầu" (承恩侯), sau khi chết tặng Nhất đẳng Thừa Ân công (一等承恩公), hàm Thượng thư Lễ bộ. Em trai của Hoàng hậu là Hòa Thế Thái lấy "Chỉnh Nghi vệ xuất sĩ", nhiều lần đảm nhiệm Nội vụ Phủ Tổng quản đại thần, Phó đô thống rồi Tổng binh, sau kế thừa tước Thừa Ân hầu của Cung A Lạp, đảm nhậm Thượng thư Lý Phồn viện. Con trai Hòa Thế Thái là Cảnh Ân (景恩), tức gọi Nữu Hỗ Lộc Hoàng hậu bằng cô mẫu, cưới cháu gái của Phúc Long An thuộc đại gia tộc Sa Tế Phú Sát thị của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu. Hai em gái của Nữu Hỗ Lộc Hoàng hậu, một gả cho Phụ quốc công Kính Tự (敬敘) thuộc Túc Thân vương phủ, người em út gả cho Duệ Cần Thân vương Đoan Ân (端恩). Cả 2 đều gả vào phủ của Thiết mạo tử vương, cho thấy có không ít là nhờ và vinh quang của Nữu Hỗ Lộc Hoàng hậu. Còn em trai út Cát Luân Thái được lấy làm con thừa tự của chú bà, Viên ngoại lang Minh Thiện (明善), con út của tổ phụ Công Bảo.

Sau khi Hỉ Tháp Lạp Hoàng hậu qua đời, Nữu Hỗ Lộc Hoàng hậu nhận trách nhiệm nuôi dạy Trí Thân vương Mân Ninh (旻宁), con trai của Hí Tháp Lạp Hoàng hậu. Vào bấy giờ bà hạ sinh ra Hoàng tứ tử Miên Hân (绵忻) vào năm Gia Khánh thứ 11 (1806), và bà trực tiếp nuôi nấng Mân Ninh cùng với hai con trai của bà là Miên KhảiMiên Hân, tình cảm tốt đẹp.

Cung Từ Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Phúc trạch thâm hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Gia Khánh thứ 25 (1820), ngày 25 tháng 7, Gia Khánh Hoàng đế giá băng, chức vị Thái tử bỏ trống.

Trong lúc bá quan đại thần chưa tìm thấy di chiếu của Gia Khánh, Nữu Hỗ Lộc Hoàng hậu được toàn quyền định đoạt người kế vị, và bà đã chọn Trí Thân vương Mân Ninh đăng cơ. Bà đã gửi cung nhân đến báo tin cho Mân Ninh, lúc đó đang ở Thừa Đức. Lúc này, Trí Thân vương tức tốc quay trở về và đăng cơ, trở thành Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Hoàng đế. Mặc dù sau đó chiếu thư được tìm thấy và Đạo Quang đích thực là Trữ quân được Gia Khánh lựa chọn, nhưng sự công tâm của Nữu Hỗ Lộc Hoàng hậu vẫn được đánh giá rất cao. Nữu Hỗ Lộc Hoàng hậu được tôn làm Hoàng thái hậu, tạm ở Cảnh Nhân cung (景仁宫).

Ngày 2 tháng 12 cùng năm, Đạo Quang Đế suất chư Vương, Bối lặc, Văn võ đại thần, sách dâng tôn huy hiệu Cung Từ Hoàng thái hậu (恭慈皇太后)[4][5]. Sách văn viết rằng:


Sau đó, Hoàng đế lại dụ Lễ bộ sửa sang, dâng Thọ Khang cung (壽康宮) cho Thái hậu. Lại chọn Kỷ Xuân viên trong Viên Minh Viên dâng cho bà mỗi khi tránh nóng, là thập phần long trọng phụng dưỡng.

Hoàng thái hậu tuy chỉ ở nội cung, song đối nội đối ngoại vẫn có ảnh hưởng nhất định. Về phương diện khác, Đạo Quang Đế đối vị này mẹ kế cũng là tương đương hiếu thuận, có thể thấy vào chỉ dụ của ông: “Trẫm tự thánh mẫu Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu ngự thượng tới nay, thâm hà đại sự Hoàng thái hậu long ân phúc tí.”. Theo Thật lục ghi chép, Đạo Quang Đế cũng hay mỗi ngày đều tự đến Thọ Khang cung của bà vấn an. Như nhật ký của Ông Đồng Hòa ghi lại, vào thời Đồng Trị có nghe Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn kể lại việc Tuyên Tông Đạo Quang năm xưa, đều tự hướng Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu vấn an không ngừng[7].

Năm Đạo Quang thứ 2 (1822), 27 tháng 11, lấy cớ sách phong Hoàng hậu, dâng thêm huy hiệu Khang Dự (康豫). Năm thứ 8 (1828), 8 tháng 11, nhân bình định Tân Cương, dâng thêm 2 chữ An Thành (安成). Năm thứ 14 (1834), 21 tháng 10, sách lập Kế Hoàng hậu, dâng thêm 2 chữ Trang Huệ (莊惠). Năm thứ 15 (1835), 9 tháng 10, nhân dịp chúc mừng Hoàng thái hậu vạn thọ 60 tuổi, dâng thêm 2 chữ Thọ Hi (壽禧). Năm thứ 25 (1845), 6 tháng 10, nhân dịp chúc mừng Hoàng thái hậu vạn thọ 70 tuổi, dâng thêm 2 chữ Sùng Kì (崇祺).

Như vậy, huy hiệu khi làm Hoàng thái hậu của bà, đầy đủ qua các năm là: Cung Từ Khang Dự An Thành Trang Huệ Thọ Hi Sùng Kì Hoàng thái hậu (恭慈康豫安成莊惠壽禧崇祺皇太后).

Tuổi già băng thệ[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo Quang năm thứ 29 (1849), ngày 8 tháng 12 (âm lịch), Cung Từ Thái hậu sau khi từ Kỷ Xuân viên về, cảm thấy không khỏe. Đạo Quang Đế nghe tin vội vàng đến Thọ Khang cung, hầu thuốc không lơi là. Ngày 11 tháng 12 (tức 23 tháng 1 dương lịch năm 1850), giờ Thân, Cung Từ Thái hậu băng hà, thọ 74 tuổi.

Thượng dụ thụy hiệu cho Đại Hành Hoàng thái hậu là: Hiếu Hòa Cung Từ Khang Dự An Thành Ứng Thiên Hi Thánh Duệ Hoàng hậu (孝和恭慈康豫安成应天熙圣睿皇后)[8].

Đạo Quang Đế được ghi nhận cực kỳ đau khổ, đấm ngực giậm chân[9]. Trong đại tang lễ, Đạo Quang Đế đích thân tận hiếu đưa tang, đày đọa thân thể cùng cực. Vào lúc này, các con bà đều đã qua đời, chỉ còn Đạo Quang Đế là con nuôi ở bên chịu tang mà thôi. Khi đó Đạo Quang Đế cũng đã 68 tuổi, thân thể sớm suy yếu, mà quyết liệt ở bên chịu tang Thái hậu cũng sinh bệnh nặng. Kim quan của Thái hậu di trí sang Kỉ Xuân viên, tạm quàn ở Nghênh Huy điện (迎晖殿), còn Đạo Quang Đế phục tang, tạm ở Thận Đức đường (慎德堂). Quả nhiên sau đó 1 tháng, Đạo Quang Đế cũng qua đời, trong cung cùng lúc 2 đại tang nghi. Kế vị là Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế.

Năm Đạo Quang thứ 30 (1850), tháng 3, Hàm Phong Đế cử hành đại lễ dâng sách thụy cho Đại Hành Hoàng thái hậu. Sách thụy rằng:

Năm Hàm Phong nguyên niên (1851), Hàm Phong Đế quyết định xây dựng một tòa mộ riêng cho tổ mẫu, gọi là Xương Tây lăng (昌西陵), thuộc khu vực Thanh Tây lăng, cách một quãng phía Tây Nam cách Xương lăng, nơi mộ phần của Gia Khánh Đế và Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu. Năm Hàm Phong thứ 2 (1852), lăng hoàn thành. Năm Hàm Phong thứ 3 (1853), ngày 26 tháng 2, kim quan của Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu nhập Xương Tây lăng.

Các đời Hàm Phong, Đồng Trị rồi Quang Tự dâng thụy hiệu cho bà, đầy đủ là: Hiếu Hòa Cung Từ Khang Dự An Thành Khâm Thuận Nhân Chính Ứng Thiên Hi Thánh Duệ Hoàng hậu (孝和恭慈康豫安成欽順仁正應天熙聖睿皇后).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hoàng thất nữ (1793), mất sớm.
  2. Hoàng tam tử Miên Khải (绵恺; 6 tháng 8 năm 1795 - 18 tháng 1, 1838), tước hiệu Đôn Thân vương (惇亲王) vào năm đầu Đạo Quang Đế. Sau khi mất có thụy là Đôn Khác Thân vương (惇恪亲王).
  3. Hoàng tứ tử Miên Hân (綿忻; 9 tháng 2 năm 1805 - 19 tháng 8 năm 1828), tước hiệu Thuỵ Thân vương (瑞懷親王). Sau khi qua đời truy thụy là Thuỵ Hoài Thân vương (瑞懷親王).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phim ảnh truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim truyền hình Diễn viên Nhân vật
1988 Mãn Thanh thập tam hoàng triều Phan Tiển Di Nữu Hỗ Lộc hoàng hậu
2004 Thâm cung nội chiến Trần Tú Châu Nữu Hỗ Lộc hoàng hậu
2006 Đại Thanh hậu cung Phan Hồng Cung Từ hoàng thái hậu
2011 Vạn phụng chi vương Hoàng Thục Nghi Nữu Hỗ Lộc Trát Lạp Phân - Cung Từ hoàng thái hậu
2017 Thiên Mệnh Lý Thi Vận Nữu Hỗ Lộc hoàng hậu

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《清仁宗实录》遣礼部尚书德明、为正使。礼部右侍郎周兴岱、为副使。持节、赍册、宝、册封侧妃钮祜禄氏为贵妃敕曰椒庭备秩。赞坤极之安贞。桂殿分荣。沛巽申而畀锡冠崇班于翟鞠。壸职兼修襄顺德于珩璜芳型是式。尔皇太子侧妃钮祜禄氏。柔嘉维则。淑慎丕昭。名族钟祥允协瑶筐之吉内朝辅治。庶腾炜管之徽。兹以皇帝嗣位初元册立皇后是用封尔为贵妃。锡以册宝。于戏翊化六宫之长。迓厥繁禧。拜恩九御之先膺兹鸿庆。钦此。朕谨遵奉太上皇帝敕旨举行册封典礼尚其祗承无斁。
  2. ^ 《清仁宗实录》上奉太上皇帝命。遣大学士刘墉、为正使。礼部左侍郎铁保、为副使。持节、赍册宝、册封贵妃钮佑禄氏为皇贵妃。敕曰、全付有家。必资贤于内助。聿绥多福。宜佐治于中闱。矧训政之方长。尤承欢之攸赞。爰循蒇典。式举彝章。尔贵妃钮祜禄氏、华胄钟祥。德门毓粹。早依光于桂邸。敬慎恒昭。嗣领秩于兰宫。温恭愈懋。问安侍膳。时襄温清之文。献茧称丝。夙树俭勤之本。用载扬夫蕙问。镠简升华。伫特晋于椒涂。袆衣作则。兹封尔为皇贵妃。锡之册宝。尔其庥承滋至。弥隆尊养之诚。化裕始基。并着谦和之范。尚徽柔之允叶。体顺垂模。期蕃祉之备膺。含章抚誉。克衍坤元之庆。倍徵泰运之亨。钦哉。
  3. ^ 《清仁宗实录》命文华殿大学士董诰为正使。内阁学士普恭为副使。持节、赍册、宝、册立皇贵妃钮祜禄氏为皇后。册文曰。朕闻图阐坤珍。俪宸枢而着象。景宣舒御。凝宝曜以齐辉。资福耦之克承。表鸿仪而作配。宫庭礼洽。典册光崇。咨尔皇贵妃钮祜禄氏、粹毓名宗。庆贻勋阀。安贞中乎矩度。应地时行。敬顺本于性成。伣天祥定。早从潜邸。扬令德于翚褕。夙奉彝章。佐同功于茧馆。列星妃之贵重。璇掖升华。增彤史之炜煌。黼帷锡祉。宝命笃椿庭之鉴。蕃厘衍椒室之祥。阅三载以届期。正中宫而协吉。兹朕钦遵皇考高宗纯皇帝敕旨。以金册、金宝、立尔为皇后。尔其敬仰恩慈。勉勤内载。秉虔恭于齍敦。肃礼灋于琚裳。布仁惠之芳风。翊昇平之郅治。母仪尊于天下。相须而成。王化基自宫中。端本而善。丕膺显命。懋迓洪禔。钦哉。
  4. ^ 清实录道光朝实录-道光朝实录卷之十: 以恭上皇太后徽号。遣官告祭天。地。太庙。社稷。上礼服御中和殿。恭阅奏书毕。上升舆。由右翼门至永康左门。降舆。大学士捧奏书。由中路前行。至慈宁门。上由东阶升。至门下东旁立。皇太后吉服升慈宁宫座。仪驾全设。中和乐设而不作。上诣正中拜位跪。大学士捧奏书在左旁跪进。上受奏书恭献。授右旁大学士跪接。置正中黄案上。宣读官捧起。跪宣奏书曰。臣闻徽音茂著。祥和早洽于宫庭。令范光昭。福祉覃敷于海宇。表彝伦之钜典。彰熙代之鸿规。钦惟圣母皇太后。德协伣天。功侔矩地。佐皇考重华之盛。襄内政以宣勤。启国家奕叶之庥。蔼春晖而锡羡。臣躬膺丕绪。备沐仁恩。肃奉瑶函。式崇显号。伏冀圣慈俞允。俾展微忱。长伸尊养之隆仪。益介升恒之景祜。臣不胜惓惓之至。谨奏。上率王大臣官员行礼。礼成。皇太后还宫。
  5. ^ 清实录道光朝实录-道光朝实录卷之十: 乙酉。恭上皇太后徽号礼成。颁诏天下。诏曰。朕惟古帝王膺图缵绪。惇典求章。必本慈训以宣光。奉母仪而笃祜。粤稽颂歌浚哲。归美商娀。雅咏思齐。崇称京室。载观往牒。聿著隆规。钦惟圣母皇太后。履顺承天。含章应地。懿德昭于图史。徽音式于庭闱。凤辇陈仪。圭璋自协。龙文作绘。浣濯仍劳。秉肃敬以持躬。务俭勤而立范。赞襄帝治。孚鉴天心。显谟肇自睢麟。茀禄绵夫瓜瓞。公桑奉种。礼重亲蚕。丰芑垂型。恩隆贻燕。朕聪听承夫彝训。胪欢浃于深仁。兰掖崇颐。懋膺褆祉。萝图席瑞。允庆昇平。启鼎祚之延洪。同臻曼寿。仰坤仪之博厚。恪奉徽称。咨议佥同。典常具备。祗告天。地。宗庙。社稷。于嘉庆二十五年十二月初二日。率诸王贝勒大臣文武群臣。谨奉册宝。敬上皇太后尊号曰恭慈皇太后。尊亲溥遍于垓埏。膏泽均沾于陬澨。所有事宜。开列于后。一、在内亲王之福晋以下、公之妻以上、著加恩赐。一、外藩蒙古诸王之福晋以下、公之妻以上、加恩赐。一、民公侯伯以下、二品大臣以上命妇、加恩赐。一、从前尚过公主格格之额驸等、照伊等品级加恩赐。一、从前恩诏后升职加衔补官者、悉照现在职衔给与封典。一、在京文官四品以上、武官三品以上、各加一级。一、在京王公文武官员任内有降级罚俸住俸者、咸与开复。又在京官员、现在议降议罚者、悉予豁免。一、外藩蒙古王公以下、台吉以上、有罚俸住俸者、咸予开复。其现在议罚者、悉予豁免。一、京城巡捕五营兵丁、赏给一月钱粮。一、除十恶不赦外、犯法妇人尽行赦免。一、上三旗包衣佐领下拜唐阿及太监等、赏给一月钱粮。一、以三旗辛者库当差妇人、酌议赏赐。一、罚赎积谷。原以备赈。冬月严寒。鳏寡孤独贫民。无以为生。著直省各督抚令有司务将积谷酌量赈济。毋令奸民假冒支领。一、各处效力赎罪人员。向无定限。多致苦累。殊堪矜悯。著各该管官查系已满三年者、声明犯罪缘由。奏请酌量宽免。一、内务府庄头等、所有累年积欠在嘉庆二十四年以前者、著查明请旨豁免。于戏。共球并集。合四海之欢心。焘载而符。锡万年之景福。布告天下。咸使闻知。
  6. ^ 清实录道光朝实录-道光朝实录卷之十: 嘉庆二十五年。庚辰。十二月。甲申。恭上皇太后徽号册宝。上礼服御太和殿。恭阅册宝毕。奉安于彩亭前行。上升舆随后。由右翼门至永康左门。上降舆行。至慈宁门外东旁立。册宝陈设于正中黄案。皇太后升慈宁宫座。仪驾全设。中和乐设而不作。上诣正中拜位跪。左旁大学士捧册宝依次跪进。上受恭献。授右旁大学士跪接。置正中黄案。宣读官捧起。跪宣册文曰。瑶图席序。崇亲扬琼册之华。宝篆镌函。锡类阐璇闱之实。况乎肃雍表度。佐宵旰以分劳。慈俭观型。罄垓埏而戴德。鸿名允协。殷礼肇称。钦惟圣母皇太后。道赞乾行。化彰坤顺。华胄甄符于令范。系出元勋。中宫媲美于前徽。班居贵秩。当皇考寝门之逮事。正天家福耦之储祥。京室贻庥。共承欢于兰膳。掖庭示矩。遂正位于椒涂。仁恩流樛木之音。螽羽交辉仙牒。厚德启荆枝之茂。雁行并列亲藩。属以凉德之膺图。益赖春晖之垂荫。敢稽茂典。聿晋崇称。谨告天。地。宗庙。社稷。率诸王贝勒文武群臣。恭奉册宝。上尊号曰恭慈皇太后。伏愿洪祺懋迓。蕃祉诞膺。逢吉康强。协禹畴之五福。多益单厚。媲周雅之九如。仰托恩慈。长隆尊养。臣诚欢诚忭。稽首顿首。谨言。上率王大臣官员行礼。礼成。皇太后还宫。诣皇太后前问安。
  7. ^ 如《翁同龢日記》同治五年的四月十六日一條內記載,翁同龢聽醇賢親王奕譞講道光朝故事,「言宣廟晚年每披軍報,必不怡良久。一日問孝和睿皇后安,適英夷占定海,上強為慰藉,太后厲聲曰:祖宗創業,尺土一民皆艱難締造,何今日輕棄之耶。上長跪引咎。」可見一斑。
  8. ^ 《清宣宗实录》○谕内阁、钦惟大行皇太后德懋徽柔。仪昭光大。体坤元之合撰。备懿媺以难名。仙驭遐升。遗徽永着。今据大学士九卿等、敬谨拟上尊谥。朕仰维慈爱。忍痛摅诚。谨于徽号十二字内酌留六字。合之恭上尊谥。称曰孝和恭慈康豫安成应天熙圣睿皇后。允足昭垂万禩。式表尊崇。薄海同钦。咸瞻钜典。所有应行典礼。该部敬稽成例具奏。
  9. ^ 《实录》中指出,“先是,上自上年入春以来,圣躬数违和,仍日召对臣工、批答章奏,无少倦懈。王大臣有劝上节劳者,上颔之,然未尝少自暇逸也。至是遭大行皇太后大故,擗踊摧伤,疾增剧。”
  10. ^ 清实录咸丰朝实录-卷之五: 道光三十年。庚戌。三月。上素服诣太和门。恭阅大行皇太后尊谥册宝。行礼毕。还圆明园。诣绮春园。更缟素。恭候册宝至。上诣大行皇太后几筵前行礼。恭献册宝。册文曰。道协坤元。树壸仪而著范。化均羲曜。襄祖烈以垂模。严对越之鸿名。虔伸玉策。仰肃雍之懿行。彩焕璆函。钦惟皇祖妣大行皇太后。华阀钟祥。椒涂正位。兰殿表安贞之度。璇闱式敦厚之型。含章而德懋徽柔。体顺而仪昭光大。躬节俭以彰令则。深宫成浣濯之风。本恺悌以布鸿庥。寰海溥仁慈之化。回疆厎绩。胪欢特晋乎徽称。寿<?宀禹>延厘。介福叠膺夫庆典。惟令德常绵茀禄。秩祜无疆。宜慈躬益懋升恒。扬庥未艾。何升遐之忽遘。竟攀恸以难追。率土均哀。重闱永隔。缅思芳矩。仪范如亲。仰溯遗规。显扬莫罄。用推原于百行。孝思徵不匮之忱。更阐实于千秋。和气乃致祥之本。集佥言而咸翕。垂万<?衤异>以无穷。谨奉册宝。上尊谥。曰孝和恭慈康豫安成应天熙圣睿皇后。于戏。镂赤文而衍庆。宜特隆冠古之声。镌华玉而扬芬。庶稍展追崇之悃。伏冀慈灵默佑。祝贶式凭。宝箓常新。等球图而并重。隆名罔极。与日月以齐昭。祗备崇仪。茂昌景祚。谨言。

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Draft history of the Qing dynasty. 《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.
  • Royal archives of the Qing dynasty (清宫档案).
  • Qing imperial genealogy(清皇室四谱).
  • Qing dynasty Xuanzong’s veritable records (清宣宗實錄).yể
  • Biographies of the Qing dynasty consorts (清历朝后妃列传).
  • Weng Tonghe's dairy, (翁同龢日记). Re-isse, ISBN 978-7-5325-5670-0. Published by: 上海古籍 本社特价书.
  • Daily Life in the Forbidden City, Wan Yi, Wang Shuqing, Lu Yanzhen ISBN 0-670-81164-5.
  • Betty Peh-Tʻi Wei, (2006) "Ruan Yuan, 1764–1849: the life and work of a major scholar-official in nineteenth-century China before the Opium War". ISBN 962-209-785-5, published by: Hong Kong University Press.
  • http://www.royalark.net/China/manchu11.htm, about the Aisin Gioro familytree