Lưu Dung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lưu Dung
Liu Yong.png
Tranh vẽ Lưu Dung.
Chức vụ
Nhiệm kỳ8 tháng 6 năm 1782 – 23 tháng 8 năm 1783
Tiền nhiệmLa Nguyên Hán
Kế nhiệmKim Giản
Nhiệm kỳ3 tháng 3 năm 1791 – 22 tháng 9 năm 1792
Tiền nhiệmKỉ Quân
Kế nhiệmKỉ Quân
Nhiệm kỳ22 tháng 9 năm 1792 – 19 tháng 4 năm 1797
Tiền nhiệmTôn Sĩ Nghị
Kế nhiệmThẩm Sơ
Thông tin chung
Sinh1719
Bàng Qua Trang, Chú Câu, Như Thành, Sơn Đông, Flag of China (1889–1912).svg Đại Thanh
Mất1805
Bắc Kinh, Flag of China (1889–1912).svg Đại Thanh
Gia quyếnLưu Thống Huân (cha)
Bốn chữ Hồng ẩm sơn phòng do Lưu Dung viết theo lối thư pháp
Bốn chữ Trình tử tứ châm do Lưu Dung viết treo tại một hành cung của Càn Long

Lưu Dung (phồn thể: 劉墉, giản thể: 刘墉, bính âm: Liú Yōng, 1719-1805), tự là Sùng Như (崇如), hiệu là Thạch Am (石庵) là một vị quan đại thần thời nhà Thanh, trong lịch sử Trung Quốc.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Càn Long[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Dung quê ở thôn Bàng Qua Trang, trấn Chú Câu (nay là thị xã Cao Mật), Như Thành, Sơn Đông, Trung Quốc. Ông là con trai của Đại học sĩ Lưu Thống Huân. Tương truyền, ông có một cái bướu ở lưng. Vì thế, dân gian gọi ông Lưu La Oa.

Năm Càn Long thứ 16 (1751), ông đỗ Nhị giáp đệ nhị danh Tiến sĩ, làm Thứ cát sĩ Hàn lâm viện, bổ nhiệm Biên tu Tản quán, sau đó làm Thị giảng.

Năm Càn Long thứ 20 (1755), Lưu Thống Huân bị hoạch tội, Lưu Dung bị bãi quan bắt giam. Ngay sau đó, vụ án được giải quyết, ông lại làm Biên tu, sau đó làm Học chính An Huy. Trong thời gian này ông quản lý cống sinh, giám sinh tuyển chọn người tài tại địa phương. Năm Càn Long thứ 24 (1759), ông làm Học chính Giang Tô, trong thời gian này ông dâng sớ xin bắt các huyện lại các phủ huyện, lười nhác dong chơi phải sát hạch vào qui củ.

Năm Càn Long thứ 27 (1762), ông được bổ nhiệm làm Tri phủ Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây. Sau đó vì để liêu thuộc ở phủ làm bậy, ông bị bắt sung quân làm lính canh quân đài. Sau một năm lệnh giáng chức được thu hồi, ông được bổ nhiệm vào Tu thư xử. Không lâu sau đó, nhờ ân trạch của cha ông được bổ nhiệm làm Tri phủ Giang Ninh tỉnh Giang Tô.

Năm Càn Long thứ 37 (1772), ông được bổ nhiệm làm Án sát sứ Thiểm Tây. Năm sau, cha ông qua đời, ông xin từ quan về quê chịu tang.

Năm Càn Long thứ 41 (1776), sau thời gian chịu tang kết thúc, ông được bổ nhiệm làm Nội các Học sĩ tại Nam Thư phòng. Sau đó làm Học chính Giang Tô.

Năm Càn Long thứ 43 (1778), ông được bổ nhiệm về Giang Tô với nhiệm vụ chính dạy học trong huyện Đông Đài, Như Cao. Năm Càn Long thứ 45 (1780), ông được bổ nhiệm làm Tuần phủ Hồ Nam. Trong thời gian ông đảm nhiệm, ông đã xử lý nhiều vụ án sau đó được làm Tả đô Ngự sử tại Nam Thư phòng đồng thời kiêm Quản lý Quốc tử giám.

Năm Càn Long thứ 47 (1782), vâng mệnh Hoàng đế Càn Long, ông và Hòa Thân cùng Tiền Phong thanh tra Tuần phủ Sơn Đông Quốc Thái tham ô. Quốc Thái hối lộ ông và Tiền Phong nhiều lần nhưng đều bị khước từ. Phát hiện nhiều sai phạm tham ô, Quốc Thái bị xử tử. Sau vụ án, Càn Long bổ nhiệm ông làm Thượng thư Bộ Công, trực tại Thượng Thư phòng.

Năm Càn Long thứ 48 (1783), ông được bổ nhiệm làm Trực Lệ Tổng đốc, sau đó phong làm Hiệp biện Đại học sĩ. Năm Càn Long 54 (1789), do các thầy dạy Hoàng Tứ xao nhãng chức trách, ông là người cai quản chung, ông bị giáng làm Thị lang. Một thời gian sau ông được phong làm Nội các Học sĩ, sau đó là Học chính Thuận thiên, Tả Thị lang Bộ Lễ, Tả đô Ngự sử Đô Sát viện.

Năm Càn Long thứ 56 (1791), ông được bổ nhiệm làm Thượng thư Bộ Lễ sau đó là Thượng thư Bộ Lại.

Thời Gia Khánh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Gia Khánh thứ 2 (1797), ông được phong làm Thể Nhân các Đại học sĩ.

Năm Gia Khánh thứ 4 (1799), ông được phong Thái tử Thiếu bảo, ông được Gia Khánh Đế chỉ định xử lý vụ án của Văn Hoa điện Đại học sĩ Hòa Thân. Sau khi kiểm tra phát hiện Hòa Thân tham ô 20 tội, xử chém đầu.

Năm Gia Khánh thứ 6 (1801), ông được bổ nhiệm làm Chính Tổng tài Hội Điển quán.

Năm Gia Khánh thứ 7 (1802), Gia Khánh Đế yêu cầu ông ở lại Bắc Kinh để chủ trì chính sự. Khi đó ông đã hơn 80 tuổi.

Năm Gia Khánh thứ 9 (1805), ông qua đời tại Bắc Kinh.

Chi tiết khác[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Dung tên chữ là Sùng Như, hiệu là Thạch Am, người ở Chư Thành, Sơn Đông, ông sinh năm Khang Hi thứ 58, tức năm 1719 công nguyên, mất vào năm thứ 9, tức năm 1805 công nguyên, hưởng thọ 86 tuổi. Ông sinh ra trong gia đình có học, đỗ Tiến sĩ năm 32 tuổi. Sau khi đỗ Tiến sĩ thì làm quan địa phương ở nhiều tỉnh, và sau này giữ chức quan cao nhất là Đại học sĩ Thể Nhân các, Thái tử Thái bảo. Ông không những là nhà chính trị nổi tiếng, mà còn là nhà thư pháp và nhà thơ, thư pháp của ông đường nét rắn khỏe, nét bút có hồn đẹp mắt và độc đáo, trở thành phong cách rất riêng của mình và nổi tiếng thiên hạ. Giống như trong phim Lưu Dung là một học giả lớn, học rộng, uyên thâm. Sống qua 4 đời vua Khang Hi, Ung Chính, Càn Long, và Gia Khánh. Nhưng cũng nói thêm là, chi tiết Lưu Dung gù, không phải là bị tật từ nhỏ mà đến năm 40 tuổi ông mới bị gù. Và chính Kỷ Hiểu Lam đã đặt cho ông biệt hiệu là Lưu la oa tử nghĩa Lưu lưng gù. Suốt đời Lưu Dung sống giản dị, luôn lo nghĩ cho lợi ích của dân, cho nên được nhân dân kính mến, ông không tham ô một xu một đồng hay bất cứ một vật gì. Khi chỉ dẫn dân đắp đê xây cầu, bao giờ ông cũng ở vị trí đứng mũi chịu sào. Ông ăn mặc đơn sơ giản dị, ăn ngô khoai sắn với dân. Ông thích nhất là món bánh tráng rán cuốn hành. Năm Càn Long thứ 16, Lưu Dung đỗ Tiến sĩ, từng làm chức Lễ bộ Thượng thư, Thể Nhân các Đại học sĩ. Ông có rất nhiều tác phẩm thư pháp nổi tiếng.

Trong nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh kịch có vở Tể tướng Lưu La Oa. Điện ảnh có bộ phim Tể tướng Lưu gù, Lưu La Oa xử án truyền kỳ, Tiểu tử Lưu gù, v.v...

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]