Phan Đăng Lưu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Phan Đăng Lưu, (1902-1941) là nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1937); Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng (1938).

Ông sinh ngày 5 tháng 5 năm 1902, tại xã Tràng Thành (nay là Hoa Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ông là con cụ Phan Đăng Dư và bà Trần Thị Liễu.

Con người và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thưở nhỏ, Phan Đăng Lưu học chữ Hán, sau học thêm chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Khi sắp học hết bậc cao đẳng tiểu học tại Huế, ông thi vào Trường Canh nông thực hành ở Tuyên Quang.Tốt nghiệp ra trường, ông bị điều động làm việc ở nhiều địa phương trong nước, cả ở Tây Nguyên và cuối cùng bị thải hồi vì "vô kỉ luật, hoạt động chống đối". Tại Nghệ An, được gặp những người bạn có cùng chí hướng, Phan Đăng Lưu đã tham gia Hội Phục Việt, sau đổi thành Hưng Nam, rồi Tân Việt Cách mạng Đảng.

Ngày 14-7-1928, tại Đại hội thành lập Tân Việt Cách mạng Đảng, ông được bầu làm Uỷ viên thường vụ tổng bộ phụ trách tuyên huấn. Cuối năm 1928, ông được phân công sang Quảng Châu (Trung Quốc) gặp Tổng bộ hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để bàn kế hoạch thống nhất hoạt động. Ngày 11-5-1929, ông trở về nước báo cáo và đề đạt ý kiến của mình với Tổng bộ Đảng Tân Việt về việc tổ chức một Đảng cộng sản. Tháng 12-1929, ông trở sang Quảng Châu bàn việc hợp nhất với Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Tháng 5-1930, ông lại trở về nước rồi 4 tháng sau lại sang Trung Quốc, nhưng đã bị bắt tại Hải Phòng trước khi xuống tàu.

Ngày 21-11-1930, Phan Đăng Lưu bị toà án Nam triều ở Vinh đưa ra xử cùng với 60 đảng viên Đảng Tân Việt và bị kết án 3 năm tù khổ sai đày đi Buôn Mê Thuật. Ở tù, ông vẫn tích cực hoạt động, vận động anh em học tiếng Êđê để thực hiện công tác binh vận, viết báo gửi ra ngoài tố cáo chế độ tàn bạo của thực dân Pháp. Vì vậy đã bị tăng án lên 5 tù khổ sai, cấm cố tại xà lim, bị liệt vào "loại nguy hiểm".

Giữa năm 1936, ông được ra tù nhưng lại bị quản thúc ở Huế. Ông lại tiếp tục hoạt động cách mạng và đã có những đóng góp xuất sắc vào các cuộc vận động hợp pháp và nửa hợp pháp ở Trung Kì như phong trào Đông Dương Đại hội (1936) "đón" Gôđa, Hội nghị báo giới Trung Kì. Phan Đăng Lưu trực tiếp chỉ đạo các báo Sông Hương tục bản, Dân, Dân Tiến, Dân muốn.., đồng thời viết nhiều sách lí luận chính trị, lí luận văn học, như Thơ văn các nhà chí sỹ Việt Nam, Xã hội tư bản, Thế giới cũ và thế giới mới..., với các bí danh Tân Cương, Phi Bằng, SH, Xxx...

Tháng 9-1937, ông tham dự Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng mở rộng tại Hóc Môn, Bà Điểm, Gia Định và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng [1]

Tháng 3-1938, Hội nghị đại biểu cả ba Xứ ủy bầu ra Ban Chấp hành mới, Phan Đăng Lưu và Lê Duẩn lập ra Ban Thường vụ, Nguyễn Văn Cừ được bầu Tổng Bí thư [2]

Tháng 9- 1939, ông được điều động vào Nam Kỳ hoạt động và được Trung ương phân công phụ trách phong trào các tỉnh Nam Kỳ [3]

Tháng 11-1939, ông tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 6 tại Bà Điểm, Hóc Môn. Hội nghị đề ra đường lối chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, tiến tới giai đoạn dân tộc giải phóng [4]

Tháng 7-1940, xứ uỷ Nam Kì họp, đề ra chủ trương khởi nghĩa. Lấy tư cách đại diện trung ương đến dự, ông khuyên Xứ uỷ hãy chờ xin chỉ thị của Trung ương [5]

Tháng 10-1940, ông bí mật từ miền Nam ra Bắc để tiến hành triệu tập và tổ chức Hội nghị Tái lập Ban Chấp hành Trung ương, chính thức chuyển cơ quan Trung ương từ Nam ra Bắc [6]

Tháng 11-1940, tại Đình Bảng, Bắc Ninh, ông chủ trì Hội nghị Tái lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng, thường gọi là Hội nghị Trung ương 7 [7]. Tại Hội nghị, ông được đề cử làm Tổng Bí thư, nhưng ông không nhận, vì ông cho rằng mình cần về miền Nam, trong đó Xứ ủy đang trông chờ kết quả chuyến đi và đề phòng ông bị bắt, sẽ gây trở ngại cho Trung ương mới được củng cố ở miền Bắc [8]. Sau Hội nghị, ông quay trở lại miền Nam để hoãn khởi nghĩa Nam Kỳ, theo quyết định của Hội nghị Trung ương, trên đường về Nam ông đã bị mật thám Pháp bắt vào đêm 22-11-1940 tại Sài Gòn, chưa kịp truyền đạt chỉ thị của Trung ương về việc hoãn khởi nghĩa, thì cuộc khởi nghĩa Nam Kì đã nổ ra ngày 23-11-1940.

Ngày 3-3-1941, Phan Đăng Lưu bị thực dân Pháp kết án tử hình. Ngày 28-8-1941, ông bị xử bắn tại trường bắn Ngã Ba Giồng, Hóc Môn, Gia Định [9] cùng với đồng chí Nguyễn Văn Cừ.

Ghi danh[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tên của ông được đặt cho nhiều đường phố, địa danh ở Việt Nam như: Hà Nội, Hạ Long, Hải Dương, Hải Phòng, Yên Bái, Ninh Bình, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định (Quy Nhơn), Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cần Thơ, Kiên Giang, Phú Yên.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

[1]- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập; Sđđ, t.6, tr 229; Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Hà Huy Tập- Tiểu sử, Sđđ, tr 176

[2]- Hoàng Tùng, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương khóa V, bài "Một lãnh tụ trẻ tuổi"; Lịch sử Đảng bộ ĐCS VN thành phố Hồ Chí Minh, tập I (1930-1954) Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, tr 131 và nhiều bộ sách lịch sử Đảng chính thống, nhiều báo chí của Đảng, nhiều cán bộ cao cấp của Đảng, nhiều hồi ký và nhân chứng lịch sử, v.v đã đề cập.

[3]- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Lê Duẩn- Tiểu sử, Sđđ, tr 110.

[4]- Đảng CSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđđ, t.6, tr 509-567; Báo "Sài gòn giải phóng", số 22-1-1986.

[5]- Trần Giang: Nam Kỳ khởi nghĩa, Sđđ, tr 35-36; Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN thành phố HCM, t.1, Sđđ, tr 131; Hoàng Thanh Đạm: "Phan Đăng Lưu với Nam Kỳ khởi nghĩa", Tạp chí Lịch sử quân sự, Nhà xuất bản Viện Lịch sử quân sự VN- BQP, số 1&2, 2001, tr 8;..

[6]- Trần Giang: "Đôi điều tôi biết về đồng chí Phan Đăng Lưu", tr5, tài liệu lưu trữ tại Viện HCM và các Lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia HCM.

[7]- Nghệ An: Những tấm gương cộng sản, tr 103; Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu- Tiểu sử- Tác phẩm, tr 57-58; Nguyễn Thị Ngọc Hải: Người thầy của những nhà tình báo huyền thoại, Nhà xuất bản Công An nhân dân, Hà Nội 2004, tr 33-37...

[8]- Trần Giang: "Những cống hiến của đồng chí Phan Đăng Lưu đối với cách mạng Việt Nam ở Nam Kỳ", Tlđđ, tr.18; Nguyễn Thành: "Phan Đăng Lưu- Tiểu sử- Tác phẩm, tr.57; Nguyễn Thị Ngọc Hải: Trần Quốc Hương- người thầy của những nhà tình báo huyền thoại", tr.37

[9]- Huyện ủy Hóc Môn: Tư liệu lịch sử cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở quận Hóc Môn, 2001, tr.56

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]