Hsinbyushin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Hsinbyushin
ဆင်ဖြူရှင်
Aung Pinle Hsinbyushin.jpg
Vua Miến Điện
Vương công Myedu
Tại vị 28/11/1763 – 10/06/1776[1]
Đăng quang 16/05/1764
Tiền nhiệm Naungdawgyi
Kế vị Singu
Thông tin chung
Phối ngẫu Me Hla
tổng cộng 15 hoàng hậu
Hậu duệ 20 con trai, 20 con gái, bao gồm cả Singu
Tên đầy đủ Maung Ywa (မောင်ရွ)
Thiri Thuriya Dhamma Mahadhammaraza Razadhipati (သီရိသူရိယဓမ္မမဟာ ဓမ္မရာဇရာဇဓိပတိ)
Thân phụ Alaungpaya
Thân mẫu Yun San
Sinh 12 tháng 9, 1736(1736-09-12)
Moksobo
Mất 10 tháng 6, 1776 (39 tuổi)
Ava (Inwa)
An táng Ava
Tôn giáo Phật giáo Nguyên thủy

Hsinbyushin (tiếng Miến: ဆင်ဖြူ ရှင်, IPA: [sʰɪɴ pʰjú ʃɪɴ]; tiếng Thái: พระเจ้า มั ง ระ; 12 tháng 9 năm 1736 - ngày 10 tháng 6 năm 1776) là vua thứ 3 của nhà Konbaung nước Miến Điện (Myanmar), cai trị từ năm 1763 đến năm 1776. Ông được xem là vị vua hiếu chiến nhất của triều đại mình, đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh với Mãn ThanhXiêm La. Công cuộc phòng thủ thành công của ông chống lại cuộc bốn cuộc xâm lăng của quân Thanh đã mang lại độc lập cho Miến Điện. Cuộc xâm lược Xiêm La của ông (1765-1767) đã kết thúc triều đại Ayutthaya của Xiêm La. Các chiến thắng cả Đại Thanh lẫn Xiêm La "là thắng lợi đáng kinh ngạc chưa từng có kể từ thời Bayinnaung."[2] Ông cũng đã cho nâng chiều cao của chùa Shwedagon tới chiều cao hiện tại của nó vào tháng 4 năm 1775.

Hsinbyusin là con trai thứ hai của Alaungpaya – vua sáng lập triều Konbaung. Ông từng làm phó tướng trong chiến dịch thống nhất Miến Điện (1752–1759) của vua cha. Sau khi kế ngôi, Hsinbyushin hăng hái mở rộng bờ cõi, đánh phá các lân bang. Năm 1767, vua Hsinbyushin dập tắt một cuộc nổi dậy ở Manipur, đánh chiếm Ai Lao, thôn tính Xiêm La và đập tan 2 cuộc xâm lược của Đại Thanh. Nhưng việc ông đánh nhau với quân Thanh và Xiêm cùng một lúc đã làm cho Miến Điện suýt bị diệt vong. Năm 1767–1768, vua Thanh Càn Long đánh Miến Điện lần 3. Quân Bát Kỳ tinh nhuệ của nhà Thanh lấn sâu vào miền trung Miến Điện, khiến Hsinbyushin phải vội vã rút quân khỏi Xiêm La. Cuối cùng, năm 1769, quân Miến Điện do tướng Maha Thiha Thura chỉ huy đánh tan quân Thanh, nhưng quan hệ 2 nước tiếp tục căng thẳng thêm 10 năm nữa, nên Hsinbyushin không thể tái chiến với Xiêm.

Do chiến tranh liên miên, nhà nước của Hsinbyusin bị quân sự hóa rất mạnh. Các đại tướng mặc sức sách nhiễu dân thường. Năm 1773, quân sĩ người dân tộc Mon làm loạn và bị đàn áp đẫm máu. Năm 1774, Hsinbyushin lâm trọng bệnh và không còn gượng dậy được nữa; các tướng tá, quan lại địa phương càng tăng cường hà hiếp dân chúng. Năm 1775, các thuộc quốc phên dậu Lan Na và Manipur đồng loạt nổi dậy. Vua Xiêm là Taksin thừa cơ tiến quân vào Lan Xang, lấy được Chiang Mai. Tháng 10 năm 1775, Hsinbyushin sai Maha Thiha Thura đánh Xiêm lần hai, không thu được thắng lợi. Khi Hsinbyushin chết vào tháng 6 năm 1776, quân đội Miến Điện vẫn đang sa lầy trên đất Xiêm và Manipur. Quân sĩ Miến Điện rút khỏi Xiêm ngay sau khi nhà vua mất, để lại Lan Na trong tay người Xiêm. Tóm lại, hầu hết các lãnh thổ mà Hsinbyushin chinh phạt đều không giữ đươc lâu, chỉ có miền Taninthayi, bang Shanbang Kachin là Miến Điện còn kiểm soát được đến ngày nay.

Đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

Hsinbyushin tên khai sinh là Maung Ywa (မောင်ရွ), sinh ngày 12 tháng 9 năm 1736 ở Moksobo, một làng lớn trong thung lũng sông Mu nằm cách Ava 97 km về hướng tây bắc. Là con của Aung ZeyaYun San. Cha Hsinbyushin là Aung Zeya làm hương trưởng một làng có vài trăm hộ, và là thành viên một vọng tộc đã góp phần cai quản thung lũng Mu qua hàng chục năm. Gia đình Aung Zeya còn có liên hệ máu mủ và hôn nhân với nhiều vọng tộc khác trong thung lũng. Aung Zeya tự xưng là hậu duệ của một tướng kỵ binh thế kỷ 15 và của hoàng tộc Pagan.[3]

Ywa sinh trưởng dưới thời vua Mahadhammaraza Dipadi nhà Toungoo. Bấy giờ nhà Toungoo suy yếu, quân Manipuri thừa cơ kéo vào cướp phá khu vực giữa ChindwinIrrawaddy. Các cuộc cướp phá đã diễn ra liên tục thời thập niên 1720 và ngày càng lấn sâu vào vùng Thượng Miến. Làng của Ywa nằm ngay trên đường tiến của quân Manipuri, nên chịu rất nhiều thiệt hại. Triều đình Miến Điện không đánh nổi nước Manipur, làm dân Miến phải bất lực nhìn "bọn giặc cướp" đốt phá làng mạc, cướp bóc chùa tháp và bắt nhiều người về nước họ.[4] Năm 1740, người Mon tách ra tự trị ở Hạ Miến, lập ra vương quốc Hanthawaddy trung hưng. Chính quyền trung ương Toungoo hoàn toàn bất lực. Ngày 23 tháng 3 năm 1752, các quân của Hanthawaddy tiến chiếm Ava, đánh đổ hoàn toàn triều Toungoo.

Giúp cha đánh dẹp, thống nhất Miến (1752–1760)[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:Ava army.jpg
Một bức tranh thế kỷ 19, mô tả quân đội Ava

Ngày 29 tháng 2 năm 1752, 3 tuần trước khi Ava thất thủ, Aung Zeya xưng vương, tức vua Alaungpaya, lập ra triều Konbaung đối kháng với Hanthawaddy. Nhà Konbaung chỉ là một trong nhiều lực lượng chống cự Hathawaddy ở Thượng Miến (các phe nhóm này phần nhiều là người thiểu số BamarShan). Alaungpaya được hào kiệt nam nữ khắp 46 làng trong thung lũng Mu hưởng ứng; những người này quyết chí rửa nhục cho đất nước một thời vinh quang của họ. Ywa khi đó 15 tuổi, theo cha ra trận rất hăng hái. Ông được phong hiệu Thado Minsaw, nhanh chóng tỏ ra là người con giỏi nhất của Alaungpaya và là một tướng quân trí dũng.

Tháng 12 năm 1753, quân Konbaung đã chặn được đà tiến của địch. Quân Hanthawaddy lui về cố đô Ava. Alaungpaya sai Ywa phản công chiếm lại Ava. Ngày 3 tháng 1 năm 1754, Ywa cất quân đánh lớn, quân Hanthawaddy đại bại. Vua Alaungpaya rất mừng, phong Ywa làm trấn thủ Ava (thành phố bấy giờ đã bị quân Hanthawaddy phá sạch trơn).[5][6]

3 tháng sau, quân Hanthawaddy đưa một lực lượng cực mạnh trở lại Ava. Quân Konbaung do Hsinbyushin và anh là Naungdawgyi chỉ huy thua một trận lớn ở quận Myingyan ngày nay. Hsinbyushin lui về chống giữ Ava. Quân Hanthawaddy lại bao vây thành phố. Các cánh quân khác của Hanthawaddy đánh lên thung lũng Mu, đất căn bản của nhà Konbaung, nhưng bị thua luôn. Tháng 4 năm 1754, Hsinbyushin đánh bại quân Hanthawaddy, giải phóng Ava, rồi truy kích xuống tận Minbu. Vua Alaungpaya ban cho Hsinbyushin một thái ấp ở Myedu. Từ đây ông có danh hiệu Vương tước Myedu.[1]

Trong nửa sau thập niên 1750, Hsinbyushin luôn là một tướng quan trọng trong chiến dịch thống nhất Miến Điện của Alaungpaya. Đến năm 1759, cha con Alaungpaya đã thống nhất toàn bộ Miến Điện (và Manipur), đánh đuổi quân PhápAnh tiếp tay cho Hanthawaddy. Năm 1759-1760, Alaungpaya thân chinh đánh Xiêm La. Hsinbyushin làm phó tướng, cùng vua đánh tan các tuyến phòng ngự của quân Xiêm và áp sát chân thành Ayutthaya vào tháng 4 năm 1760. Nhưng không lâu sau, Alaungpaya mắc bệnh tràng nhạc, các quân Miến Điện phải rút lui vội vã khỏi Ayutthaya. Hsinbyushin luôn hầu hạ bên kiệu của vua cha và có mặt bên gường Alaungpaya khi Alaungpaya chết gần làng Martaban (Mottama).

Trữ quân (1760–1763)[sửa | sửa mã nguồn]

Alaungpaya mất, con trưởng là Naungdawgyi lên thay. Trước đây Alaungpaya có 6 con trai với người vợ đầu; nhà vua đã dặn người này phải theo tuần tự mà kế ngôi. Khi Alaungpaya hấp hối, Hsinbyushin hứa sẽ nghe lời dặn của cha. Nhưng ngay sau khi Alaungpaya chết, Hsinbyushin đã vận động tướng sĩ ủng hộ ông tranh ngôi với Naungdawgyi. Nhưng ông không dụ được nhiều người về phe, và đành bỏ cuộc. Naungdawgyi nghe lời bà thái hậu, thứ lỗi cho Hsinbyushin, vì lúc này tự quân đang bận đương đầu với các cuộc nổi dậy của Minkhaung Nawrahta (một tướng giỏi luôn có mối quan hệ không hợp với Naungdawgyi, từng chỉ huy hậu quân trong chiến dịch Xiêm) và Thado Theinkhathu (em Alaungpaya và là phó vương Toungoo).

Hsinbyushin trở thành trữ quân theo lời dặn của cha. Trong thời gian này, vua anh Naungdawgyi dồn sức đánh dẹp các nhóm nổi dậy nói trên, nhưng Hsinbyushin chỉ đứng ngoài cuộc. Naungdawgyi đã dập tắt được các cuộc nổi dậy vào tháng 1 năm 1762, rồi tái chiếm Lan Na vào tháng 1 năm 1763. Từ đó quyền lực của Naungdawgyi được củng cố, và Hsinbyushin xem chừng phải yên vị ở ngôi Trữ quân một thời gian dài. Nhưng vào tháng 11 năm 1763, Naungdawgyi chết đột ngột ở tuổi 29. Hsinbyushin, 27 tuổi và đầy tham vọng, lên kế ngôi.

Trị quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 11 năm 1763, Hsinbyushin lên ngôi Quốc vương. Ngày 16 tháng 5 năm 1764, ông cử hành lễ đăng quang, xưng vương hiệu là Thiri Thuriya Dhamma Razadhipati Hsinbyushin. Sau này, ngày 3 tháng 1 năm 1768 ông đổi hiệu thành Thiri Thuriya Dhamma Mahadhammaraza Razadhipati သီရိသူရိယဓမ္မမဟာဓမ္မရာဇရာဇဓိပတိ.[1]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Quyết định đầu tiên của vua Hsinbyushin là xây lại thành phố hoang tàn Ava và định đô ở đây. Ngày 27 tháng 11 năm 1764, ông ra chiếu dời đô từ Sagaing về Ava.[1] Ông khôi phục kinh thành Ava và đặt tên các cổng thành theo tên các nước bị Alaungpaya chinh phạt. Tên các cổng phía đông: Chiang Mai, Martaban, Mogaung; các cổng phía nam: Kaingma, Hanthawaddy, Myede, Onbaung (Thibaw); các cổng phía tây, Gandalarit, Sandapuri (Viêng Chăn), Kenghung; các cổng phía Bắc: Tenasserim và Yodaya (Xiêm). Ông chính thức đóng đô ở Ava vào tháng 4 năm 1765, sau khi trở về từ chiến dịch Manipuri.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Hsinbyushin đã cử sứ sang Varanasi (Ấn Độ), vời 9 vị bà la môn làm mưu sĩ cho ông. Năm 1765 Hsinbyushin sai quốc sư Maungdaung cộng tác với 9 vị này dịch sách Vyākaraṇa, một cổ thư tiếng Phạn viết về văn phạm, y dược, thiên văn học, tình dục học,... Năm 1771, ông lại sai đại thần Manu Wannana Kyawhtin soạn bộ sách luật Manusarashwemin dhammathat dựa trên sách luật các đời trước. Bộ sách này được viết bằng tiếng Miến Điện và Nam Phạn. Trong việc biên soạn, Manu Wannana có sự giúp đỡ của quốc sư Taungdwin cùng một số tỳ-kheo thông thái khác.[7] Năm 1774, nhà vua sai trùng tu chùa Shwedagon, nâng độ cao của chùa lên mức hiện tại; ông còn dát thêm vàng cho chùa và xây một ngọn chóp nạm ngọc để thay thế ngọn chóp cũ bị đổ do động đất năm 1769.[8]

Không những là một nhà chinh phạt lớn, Hsinbyushin còn say mê thơ phú. Thứ phi của ông là Ma Htwe cũng là một thi sĩ nổi danh. Letwe Thondara, một thư ký hội đồng Hluttaw, đã có thời bị Hsinbyushin lưu đày ra đồi Meza (nay thuộc huyện Katha). Thondara đã sáng tác bài thơ Meza Taung-Che, mô tả nỗi buồn cô độc của mình, làm nhà vua cảm động và phục chức.[7]

Giai đoạn chinh phạt thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Manipur (1764–1765)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên ngôi, Hsinbyushin lập tức lên kế hoạch đánh Xiêm La, hoàn tất sự nghiệp chinh phạt dang dở của vua cha Alaungpaya. Tháng 11 năm 1764, Hsinbyushin đã tổ chức 2 cánh quân, 1 cánh đóng tại Kengtung (bang Shan), cánh kia đóng tại Martaban trên hướng nam, ráo riết chuẩn bị đánh Xiêm. Trong lúc Hsinbyushin đang bận rộn với kế hoạch chinh phạt Xiêm, xứ Manipur - một chư hầu của Miến từ năm 1758 - nổi loạn. Hsynbyushin không triệu hồi 2 cánh quân đánh Xiêm về dẹp loạn. Tháng 12 năm 1764, nhà vua ngự giá thân chinh đánh Manipur. Quân Miến Điện cả phá quân Manipur và chiếm thủ đô Imphal. Vua Manipur phải lánh nạn. Hsinbyushin bắt hàng trăm người Manipur, rồi đem quân về tân đô Ava vào tháng 4 năm 1765.[9][10]

Ai Lao (1765)[sửa | sửa mã nguồn]

Để tạo nền tảng chắc chắn cho việc chinh phục Xiêm, Hsinbyushin quyết định cô lập nước này, bằng cách thôn tính các tiểu vương quốc Ai Lao ở sườn phía bắc và đông của Xiêm. Tháng 1 năm 1765, ông sai tướng Ne Myo Thihapate đem 2 vạn quân tinh nhuệ từ Chiang Mai kéo vào đánh phá Ai Lao. Xứ Vạn Tượng không đánh đã hàng, chịu xưng thần với vua Miến. Nhưng xứ Luang Prabang lại cho quân đánh trả. Tháng 3 năm 1765, Thihapate thúc quân chiếm Luang Prabang, từ đây người Miến có thể uy hiếp toàn bộ vùng biên giới phía bắc của Xiêm.[11]

Xiêm La (1765–1767)[sửa | sửa mã nguồn]

Ayutthaya đổ nát.

Sau khi chinh phục Ai Lao, Thihapate đem quân về Lan Na. Trên hướng nam, cánh quân của Maha Nawrahta cũng đã tập kết ở thị trấn Tavoy (Dawei) trên biên ải Xiêm-Miến. Tháng 8 năm 1765, cánh quân của phía bắc của Thihapate xuất hành trước. Quân Thihapate vượt thung lũng Chao Phraya tiến vào Xiêm, họ hành quân khá chật vật do gặp mưa lớn và sự kháng cự mạnh của các tù trưởng Xiêm. Đến giữa tháng 10 năm 1765, khi mùa mưa hết, Maha Nawrahta mới dẫn cánh quân phía nam vượt Tenasserim, hình thế thế gọng kìm bao vây Xiêm La. Ngày 20 tháng 1 năm 1766, quan quân Miến đánh tới ngoại ô Ayutthaya.[12] Quốc đô Xiêm bị vây đánh dữ dội suốt 14 tháng. Ngày 7 tháng 4 năm 1767, quân Miến đánh tan quân Xiêm và phá hủy tòan bộ Ayutthaya, bắt cả vương tộc Xiêm cùng nhiều nghệ nhân tài hoa.

Nhưng Hsinbyushin không giữ thành quả được lâu. Cuối năm 1767, ông triệu phần lớn binh lực từ Xiêm về đánh quân Thanh ở phía bắc. Chớp lấy thời cơ, người Xiêm phát động khởi nghĩa, đến năm 1770 chiếm lại hầu hết đất đai của họ (trừ Tenasserim).

Đánh quân Thanh xâm lược (1765–1769)[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thập niên 1730, một số tù trưởng biên giới Thanh-Miến, vốn trước đây thường dâng lễ cống cho cả Miến Điện lẫn Mãn Thanh, hoàn toàn thần phục Đại Thanh. Khoảng năm 1758-59, vua Miến Alaungpaya sai tướng thần đánh lên biên giới, phục hồi quyền kiểm soát các phiên thuộc. Ban đầu Thanh đình chủ trương "dùng man di đánh man di", chỉ dùng dân quân địa phương người Thái, Shan mà chiếm lại đất; nhưng đến năm 1765 vua Càn Long xuống lệnh cho quân chính quy xâm lược Miến Điện. Tháng 12 năm 1765, đương lúc đại quân Miến hành quân đánh Ayutthaya, quân Thanh tràn vào đất Miến. Hsinbyushin ra lệnh các cánh quân chủ lực tiếp tục đánh Xiêm, không cho chuyển lên biên giới phía bắc. Sự sắp xếp của Hsinbyushin thoạt đầu có vẻ ổn thoả: các đơn vị Miến còn lại trên đất mình đã phá được quân Thanh, sau đó truy kích tới tận quận Phổ Nhĩ, rồi thắng luôn 1 trận cuối ở đây.

Bản đồ cuộc chiến tranh Thanh-Miến lần thứ ba (1767–1768)

Năm 1766, quân Thanh do tổng đốc Dương Ứng Cừ chỉ huy sang xâm lược lần hai. Hsinbyushin lập mưu nhử địch tiến sâu vào đất Miến để bao vây tiêu diệt. Ông sai đại tướng Balamindin bỏ Bhamo, lui về chốt giữ Kaungton, cách Bhamo vài dặm trên dòng Irrawaddy. Quân Thanh dễ dàng chiếm Bhamo, tiếp đó vây đánh Kaungton. Balamindin phòng ngự chắc chắn, bẻ gãy nhiều đợt tấn công liên tiếp của quân Thanh. Thế quân Thanh ngày càng suy nhược. Chớp lấy thời cơ, đại quân Miến chia làm hai cánh phản công tiêu diệt hoàn toàn quân Thanh.[13] Dương Ứng Cừ bị Càn Long ép phải tự sát.[14]

Sau hai lần thất bại, Thanh đình không thể nào hiểu được một nước "di địch" như Miến Điện lại có thể chống cự "thiên triều" Đại Thanh.[15] Càn Long thấy quân Lục Doanh người Hán đánh không thiện chiến, bèn quyết tung quân Mãn Châu ra trận.[16] Tháng 11 năm 1767, vua Thanh sai tổng đốc Vân Nam Minh Thụy đem 5 vạn quân do lực lượng Bát kỳ tinh nhuệ làm tiên phong đánh Miến Điện. Tháng 12, đại quân Thanh nhanh chóng tiến sâu vào đất Miến, đánh bại quân Miến hai trận lớn ở đèo Goteik và Hsenwi.[17][18] Hsinbyushin phải gọi quân từ Xiêm về nước. Sau khi đánh vỡ đại quân Miến, Minh Thụy xua quân tiến lên, đánh chiếm hết thị trấn này đến thị trấn khác và đến được Singu trên bờ sông Irrawaddy, chỉ cách Ava có 30 dặm về phía bắc vào đầu năm 1768.

Tại Ava, Hsinbyushin tỏ ra không khiếp sợ trước viễn cảnh 3 vạn quân Thanh[19][20] đã đến trước cửa. Triều đình giục ông rút lui, nhưng nhà vua đáp lại một cách khinh miệt, rằng ông và các con khác của Alaungpaya sẽ đánh lại quân Thanh dù có phải đơn độc chiến đấu. Thay vì cố thủ kinh đô, Hsinbyushin bình tĩnh đưa một đạo quân thiết lập vị trí tiền tiêu ngoài Singu, bản thân ông cũng dẫn binh sĩ lên tuyến đầu chiến tuyến.[16][21][17] Quân Miến được tăng viện đã hăng hái phản công, liên tiếp đánh bại quân Thanh, đỉnh điểm là trận Maymyo vây diệt hoàn toàn lực lượng Bát kỳ.[22] Bản thân Minh Thụy bị thương nặng và tự sát. Chỉ có một nhóm nhỏ quân Thanh chạy thoát về nước.[17]

Sau ba lần giao tranh, Miến Điện cử sứ đi cầu hòa nhưng Càn Long dứt khoát không thỏa hiệp. Miến Điện phải chuẩn bị chống lại một cuộc xâm lược toàn diện[23]. Bấy giờ Hsinbyushin đã đưa hầu hết số quân từ Xiêm về nước, tạo điều kiện cho người Xiêm khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Taksin lấy lại được nước. Phiên bang Manipur cũng lại nổi dậy vào giữa năm 1768, nhưng Hsinbyushin không còn cách nào khác ngoài việc tập trung bảo vệ sự tồn tại của vương quốc Miến.

Tháng 10 năm 1769, Càn Long sai Phó Hằng dẫn 6 vạn quân vào Miến Điện. Các cánh quân thủy bộ Miến chống đánh dữ dội. Quân Thanh bị ghìm chân trên biên giới.[23] Tháng 12, đại quân Miến phản công rất mạnh, vây kín quân Thanh ở hành lang Kaungton-Shwenyaungbin. Quân Thanh chết, bị thương đến 2 vạn người; các tướng Thanh muốn xin nghị hòa.[21] Tướng Miến Maha Thiha Thura nghĩ việc một đạo quân Thanh nữa bị tiêu diệt sẽ khiến Thanh đình càng quyết tâm chinh phục Miến, gỡ nhục "thiên triều". Thiha Thura không đợi lệnh Hsinbyushin, ký hòa ước cho phép người Thanh về nước (dù không được mang theo khí giới). Vua cả hai nước đều không chấp nhận hòa ước này. Hsinbyushin rất tức giận và xé bỏ bản hòa ước.[24][25]

Manipur (1770)[sửa | sửa mã nguồn]

Biết rằng Hsinbyushin đang giận dữ, các tướng Miến chưa vội về kinh đô. Tháng 1 năm 1770, họ hành quân tới Manipur; tại đây, phiên vương Manipur đang nổi dậy chống triều đình Miến, lợi dụng bất ổn giữa Miến Điện với Mãn Thanh. Quân Miến đánh quân Manipur 1 trận dài 3 ngày gần Langthabal. Quân Miến thắng to, phiên vương Manipur phải chạy vào Assam. Quân Miến đưa 1 người cộng tác với họ lên làm phiên vương, rồi trở về kinh đô. Lúc này Hsinbyushin đã nguôi giận khi nghĩ rằng, dù gì các tướng cũng đã đem lại chiến thắng vinh quang và bảo toàn ngôi báu cho ông. Ông phạt Maha Thiha Thura và các bộ tướng phải lưu đày 1 tháng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Buyers, King Hsinbyushin
  2. ^ Lieberman, p. 184
  3. ^ Myint-U, p. 90
  4. ^ Myint-U, pp. 88–91
  5. ^ Phayre, p. 153
  6. ^ Harvey, p. 222
  7. ^ a ă Harvey, p. 249
  8. ^ Harvey, p. 260
  9. ^ Harvey, p. 248
  10. ^ Phayre, p. 187
  11. ^ Myint-U, p. 98
  12. ^ Phayre, pp. 188–190
  13. ^ Dai, p. 145
  14. ^ Dai, p. 87
  15. ^ Woodside, pp. 256–262
  16. ^ a ă Myint-U, pp. 102-103
  17. ^ a ă â Htin Aung, pp. 178-179
  18. ^ Phayre, pp. 196-198
  19. ^ Giersch, p. 102
  20. ^ Haskew, et al, p. 29
  21. ^ a ă Harvey, pp. 255-257
  22. ^ Haskew, et al, pp. 27-31
  23. ^ a ă Htin Aung, pp. 180-183
  24. ^ Htin Aung, p. 181–183
  25. ^ Harvey, p. 257–258

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Buyers, Christopher. “The Royal Ark: Burma – Konbaung Dynasty”. Truy cập tháng 1 năm 2011.  |chương= bị bỏ qua (trợ giúp)
  • Charney, Michael W. (2006). Powerful Learning: Buddhist Literati and the Throne in Burma's Last Dynasty, 1752–1885. Ann Arbor: University of Michigan. 
  • Dai, Yingcong (2004). “A Disguised Defeat: The Myanmar Campaign of the Qing Dynasty”. Modern Asian Studies (Cambridge University Press). 
  • Hall, D.G.E. (1960). Burma (ấn bản 3). Hutchinson University Library. ISBN 978-1-4067-3503-1. 
  • Harvey, G. E. (1925). History of Burma: From the Earliest Times to ngày 10 tháng 3 năm 1824. London: Frank Cass & Co. Ltd. 
  • Htin Aung, Maung (1967). A History of Burma. New York and London: Cambridge University Press. 
  • Kyaw Thet (1962). History of Union of Burma (bằng tiếng Miến Điện). Yangon: Yangon University Press. 
  • James, Helen (2004). “Burma-Siam Wars”. Trong Keat Gin Ooi. Southeast Asia: a historical encyclopedia, from Angkor Wat to East Timor, Volume 2. ABC-CLIO. ISBN 1-57607-770-5. 
  • Lieberman, Victor B. (2003). Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c. 800–1830, volume 1, Integration on the Mainland. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-80496-7. 
  • Min Zin (tháng 8 năm 2000). “Ayutthaya and the End of History:Thai views of Burma revisited”. The Irrawaddy (The Irrawaddy Media Group) 8 (8). 
  • Myint-U, Thant (2006). The River of Lost Footsteps—Histories of Burma. Farrar, Straus and Giroux. ISBN 978-0-374-16342-6. 
  • Phayre, Lt. Gen. Sir Arthur P. (1883). History of Burma (ấn bản 1967). London: Susil Gupta. 
  • Ratchasomphan, Sænluang; David K. Wyatt (1994). David K. Wyatt, biên tập. The Nan Chronicle . Ithaca: Cornell University SEAP Publications. ISBN 978-0-87727-715-6. 
  • Tarling, Nicholas. The Cambridge history of South East Asia: From c. 1500 to c. 1800 1 (2). Cambridge University Press. ISBN 9780521663700.