Minh Thụy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Minh Thụy (chữ hán: 明瑞, chữ mãn: ᠮᡳᠩᡧᡠᡳ, ? - 1768), tự Quân Đình, là tướng lĩnh nhà Thanh dưới thời Càn Long trong lịch sử Trung Quốc.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông xuất thân thuộc đại gia tộc Sa Tế Phú Sát thị, thuộc Mãn Châu Tương Hoàng kỳ. Tiên tổ của Minh Thuỵ là Vượng Cát Nỗ (旺吉努), từng dấy binh tùy tùng cho Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích, lập được quân công. Cao tổ phụ Cáp Thập Truân (哈什屯) làm Đại thần Nghị chính triều Thuận Trị Đế, tằng tổ phụ của là Mễ Tư Hàn (米思翰), dưới thời Thanh Thánh Tổ Khang Hi làm đến Thượng thư bộ Hộ, Nghị chính đại thần, tổ phụ là Sát Cáp Nhĩ Tổng quản Lý Vinh Bảo (李荣保), con trai thứ tư của Mễ Tư Hàn, thê tử là Giác La thị. Phụ thân của ông là Phó Văn, đồng thời ông là cháu của Đại học sĩ Phó HằngHiếu Hiền Thuần Hoàng hậu.

Quan lộ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 21 (1756), ông dẹp loạn A Mục Nhĩ Tát Nạp có công, được phong làm Hộ bộ Thị lang, Tham tán đại thần, nhận tước Nhất đẳng Thừa ân Nghị Dũng công.

Năm thứ 24 (1759), ông thu phục Hoắc Tập Chiêm có công, được ban Song nhãn Hoa linh, gia phong Vân Kỵ uý thế chức. Ảnh của ông được Càn Long Đế đem treo vào Tử Quang Các. Đồng thời nắm Chính Bạch kỳ Hán quân Đô Thống.

Năm thứ 27 (1762), tháng 11, ông nhậm chức Tướng quân Y Lê, gia tiến Kỵ Đô uý thế chức.

Năm thứ 31 (1766), tháng 11, ông lại nhậm chức Tướng quân Y Lê, rồi sau đó nhận chức Tổng đốc Vân Quý.

Năm thứ 32 (1767), ngày 31 tháng 3, ông nhậm chức Binh bộ Thượng thư, đem quân chinh phạt Miến Điện.

Năm thứ 33 (1768), ông bị quân Miến Điện bao vây, lại đang bị thương. Chỉ có một nhóm nhỏ quân Thanh tìm cách phá được vòng vây chạy thoát. Mặc dù có thể tẩu thoát cùng nhóm này, nhưng ông quyết định cắt bím tóc gửi về cho Hoàng đế làm minh chứng cho sự trung thành của mình, rồi treo cổ tự sát. Ông chết, con của anh ông nhận tập tước.