Phạm Minh phi (Lê Thánh Tông)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Phạm Minh phi
范明妃
Thông tin chung
Phu quân Lê Thánh Tông
Hậu duệ
Tên đầy đủ Phạm thị
Tước hiệu Tiệp dư
Tu viên
Chiêu viên
Minh phi
Thụy hiệu không có
Thân phụ Phạm Văn Liêu
Sinh 1448
Lương Giang
Mất 1498 (50 tuổi)
Thiên An cung, Đông Kinh
An táng đồng Linh Hòa, Lương Giang

Phạm Minh phi (chữ Hán: 范明妃; 1448 - 1498), không rõ tên thật, là một phi tần của hoàng đế Lê Thánh Tông.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Minh phi Phạm thị người huyện Lương Giang, ông là Đô đốc đồng tri Phạm Thánh, cha là Đô đốc Khanh Vũ bá Phạm Văn Liêu (范文遼).

Tháng 7, năm Quang Thuận thứ 2 (1461), Phạm thị được tiến cung. Đến tháng 9 cùng năm, bà được phong làm Tiệp dư (婕妤), đứng đầu Lục chức.

Năm Quang Thuận thứ 4 (1463), bà sinh ra hoàng nữ thứ 2 Lê Oánh Ngọc (黎莹玉), được sắc phong làm Ý Đức công chúa (懿德公主)[1]. Năm Quang Thuận thứ 6 (1465), Phạm Tiệp dư được thăng làm Tu viên (修媛), đứng thứ 6 trong Cửu tần.

Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), Phạm Tu viên lại sinh ra Tống vương Lê Tung (黎鏦). Năm Hồng Đức thứ nhất (1470), bà sinh ra hoàng nữ Lê Lan Khuê (黎兰圭), được phong làm Lan Minh công chúa (兰明公主).

Năm Hồng Đức thứ 2 (1471), bà được thăng làm Chiêu viên (昭媛), bậc thứ 3 trong Cửu tần. Và 6 năm sau, tháng 11 năm 1477 bà được chính thức tiến phong làm Minh phi (明妃), một trong Tam phi (三妃) đứng đầu chúng phi tần, được ngự ở Thụy Đức cung. Địa vị của bà lúc đó chỉ dưới Nguyễn Quý phi và trên Nguyễn Kính phi mà thôi.

Năm 1497, Lê Thánh Tông băng hà, theo quy chế do là phi tần tiền triều nên bà dời qua Thiên An cung để ở, không lâu sau thì qua đời, thọ 50 tuổi. Sau khi bà mất, Hiến Tông ban số tiền an ủi là 27 vạn và kính trọng mai táng bà ở cánh đồng Linh Hòa, thuộc quê nhà huyện Lương Giang.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hoàng Việt văn tuyển, tập 2: Thánh Tông Chiêu lăng Bi minh