Ngô Thị Chính

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Nhất giai Hiền phi Ngô Thị Chính (一階賢妃吳氏政, 1792 - 1843), hay còn đọc trại thành Ngô Thị Chánh, còn có tên khác là Kiều, là một người vợ của vua Minh Mạng trong lịch sử Việt Nam.

Nhất giai Hiền Phi
Ngô Thị Chính (Chánh)
Minh Mạng đế Nhất giai Phi
Thông tin chung
Phu quânNguyễn Thánh Tổ
Tước hiệuPhủ thiếp (府妾)
Hiền Tần (賢嬪)
Hiền Phi (賢妃)
Thân phụChưởng cơ Ngô Văn Sở
Sinh1792
Mất1843

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bà Chánh là con gái của ông Ngô Văn Sở, nguyên quán ở huyện Đăng Xương, phủ Thừa Thiên, sau vào ở làng Thuận Nghĩa, Gia Định. Ông Sở nguyên là quan tư mã triều Tây Sơn, về sau theo về với đức Thế Tổ Nguyễn Ánh. Năm 1799, ông theo giúp Võ Tánh thủ thành Quy Nhơn. Đến đời Gia Long được phong Chưởng Cơ làm Quản Đạo ở trấn Thanh Hoa Ngọai. Sau phạm tội bị cách chức rồi mất. Mẹ của bà Chánh họ Nguyễn, tên là Đích.

Bà Chánh được chọn vào hầu Minh Mạng khi ông còn là Hoàng tử, và là người vợ thứ 2 (sau bà Hồ Thị Hoa mẹ đẻ của vua Thiệu Trị). Bà sinh cho nhà vua tổng cộng 5 Hoàng tử, 4 Hoàng nữ[1].

Năm 1820, Minh Mạng lên kế vị. Do lúc này bà Hồ Thị Hoa đã mất bên bà Chánh là người vợ lớn nhất trong số tất cả các bà ở nội cung. Ban đầu được phong làm Cung tần, sau là Hiền tần hàng Tam giai. Đến năm 1836 được phong làm Hiền phi hàng Nhất giai, đứng đầu trong số các hậu cung của Minh Mạng. Bài chiếu sắc phong năm đó có đoạn[2]

Đoái tưởng Hiền tân họ Ngô, con dòng của giống, xứng trang nghi phạm trong sáu cung! Ngươi theo trẫm từ lúc tiềm đế đến bây giờ hơn 30 năm khi phong tiêu, khi viện quế, khi gối phụng, khi màn loan, đỡ tráp nâng khăn, đoan trang nét ngọc, thức khuya dậy sớm, chầu chực ven màn. Càng sùng quyến chừng nào lại càng khiêm thuận chừng nấy. Vậy nên, lệ ban gia mới định, liền chiếu luật gia phong.

Năm 1822, Minh Mạng hạ chiếu phục chức cho ông Ngô Văn Sở, và chọn con trai ông (em của bà Hiền phi) là Ngô Văn Thắng làm quan chức Cai đội. Theo một số ý kiến ghi lại, Bà Ngô Thị Chính thường sinh sự với các bà khác vì cậy được vua yêu, khiến Minh Mạng nhiều khi lâm vào cảnh khó xử. Tương truyền bà Hiền phi thường nói những người thân cận rằng dù vua có yêu mình cỡ nào thì khi chết cũng chỉ có hai bàn tay không. Vua biết vậy nên khi bà mất đã thân hành đến chỗ bà nằm mà đặt vào tay 2 nén vàng, để khỏi ra đi với hai bàn tay không. Điều này cũng mâu thuẫn với gia phả họ Nguyễn Phước thì bà Hiền phi được ghi lại là mất vào năm 1843, sau vua Minh Mạng 2 năm[3].

Năm 1843 thời vua Thiệu Trị, bà Hiền phi Chánh qua đời, hưởng thọ 52 tuổi. Vua Thiệu Trị nghỉ chầu 3 ngày, sai quan lo liệu việc tang, cấp thêm cho 3.000 quan tiền, dựng nhà để thờ ở xã Phú Xuân, mộ ở làng Châu Chử, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên[1]. Lại ban cho thụy hiệu là Tuệ Khiết, chuẩn con con trai bà là Phú Bình công Miên Áo trong 100 ngày tang hễ gặp có chương sớ của Tôn nhân phủ dâng tâu, đều cho miễn đứng tên đề.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Bà Chánh có với vua Minh Mạng tổng cộng năm con trai, bốn con gái; trong đó có sáu người sống tới tuổi trưởng thành

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tôn Thất Bình (1993), Đời sống cung đình triều Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hóa
  • Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc Tộc (1995), Nguyễn Phúc Tộc thế phả, Nhà xuất bản Thuận Hóa

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Nguyễn Phước tộc, sách đã dẫn, trang 243
  2. ^ http://www.vietnamgiapha.com/XemChiTietTungNguoi/51/19/H%E1%BB%92%20TH%E1%BB%8A%20HOA.html
  3. ^ Tôn Thất Bình, sách đã dẫn, trang 12.
  4. ^ Nguyễn Phước tộc, sách đã dẫn, trang 286
  5. ^ Nguyễn Phước tộc, sách đã dẫn, trang 289
  6. ^ Nguyễn Phước tộc, sách đã dẫn, trang 317
  7. ^ Nguyễn Phước tộc, sách đã dẫn, trang 317 - 318
  8. ^ Nguyễn Phước tộc, sách đã dẫn, trang 318
  9. ^ Nguyễn Phước tộc, trang 289 - 290
  10. ^ Nguyễn Phước tộc, trang 305
  11. ^ Nguyễn Phước tộc, trang 312