Tống Nhân Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Nhân Tông
宋仁宗
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Renzong.jpg
Tranh vẽ Tống Nhân Tông.
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 23 tháng 3, 102230 tháng 4, 1063
Tiền nhiệm Tống Chân Tông
Kế nhiệm Tống Anh Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Nhân Tông Quách hoàng hậu
Từ Thánh Quang Hiến Nhân Tông hoàng hậu
Ôn Thành Nhân Tông hoàng hậu
Hậu duệ Tống Anh Tông
Tên húy Triệu Thụ Ích (趙受益)
Triệu Trinh (趙禎)[1]
Niên hiệu
Thụy hiệu Thể Thiên Pháp Đạo Cực Công Toàn Đức Thần Văn Thánh Vũ Duệ Triết Minh Hiếu Hoàng Đế
體天法道極功全德神文聖武睿哲明孝皇帝[2]
Miếu hiệu Nhân Tông (仁宗)
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Tống Chân Tông
Thân mẫu Chương Ý hoàng hậu
Sinh 12 tháng 5, năm 1010
Mất 30 tháng 4, 1063 (52 tuổi)
Trung Quốc
An táng Vĩnh Chiêu Lăng (永昭陵)
Tôn giáo Phật giáo

Tống Nhân Tông (chữ Hán: 宋仁宗, 12 tháng 5, 1010 - 30 tháng 4, 1063), thụy hiệu đầy đủ Thể Thiên Pháp Đạo Cực Công Toàn Đức Thần Văn Thánh Vũ Duệ Triết Minh Hiếu Hoàng Đế (體天法道極功全德神文聖武睿哲明孝皇帝), tên thật là Triệu Thụ Ích (趙受益) hay Triệu Trinh (趙禎), là vị hoàng đế thứ tư của nhà Bắc Tống trong lịch sử Trung Quốc.

Tống Nhân Tông là con trai duy nhất còn sống đến tuổi trưởng thành của Tống Chân Tông Triệu Hằng, nên từ lúc chào đời ông đã là người đương nhiên sẽ nối ngôi và được phong làm Hoàng thái tử vào năm 1018. Sau khi phụ hoàng qua đời năm 1022, ông kế vị hoàng đế khi mới 13 tuổi. Trong hơn mười năm đầu thời Nhân Tông, thực quyền trong triều nằm trong tay mẹ nuôi của ông là Lưu Thái hậu.

Sau khi Lưu Thái hậu qua đời (1033), Nhân Tông đích thân cai quản triều đình và thay đổi nhiều chính sách của thái hậu do bất bình với bà ta từ lâu, nhưng do không phải là người mang hùng tâm tráng chí, không có khả năng quản lí triều chính nên ông lại bắt đầu trọng dụng lại các đại thần mà ông đã cách chức. Tống Nhân Tông cũng là vị vua đầu tiên của nhà Tống trong thời trị vì của mình đã hạ lệnh phế hậu (Quách hoàng hậu) và thay vào đó là Tào hoàng hậu. Trong vấn đề đối nội, ông chủ trương làm theo Đường Thái Tông mở rộng con đường thi cử làm quan, vì thế dẫn đến số lượng quan lại trong nước tăng lên nhanh chóng và trở thành gánh nặng của quốc gia. Trong khi đó tham nhũng lan tràn, binh lực suy kém, quốc khố cạn kiệt khiến cho tình hình triều Tống trở nên tồi tệ. Để cứu vãn, vào năm 1043, Nhân Tông theo kiến nghị của Phạm Trọng Yêm, thi hành Khánh Lịch tân chính, Nhưng những chính sách mới này vấp phải sự phản đối của phe bảo thủ trong triều, cộng thêm binh biến, thiên tai liên tục, khiến Nhân Tông đổ lỗi cho "tân chính", ông quyết định bãi bỏ tân chính, dùng lại chính sách cũ, khiến quốc gia ngày càng suy yếu.

Về đối ngoại, ở phía tây bắc nước Tống, bộ lạc Đảng Hạng ngày càng lớn mạnh; đến năm 1038, thủ lĩnh tộc này là Lý Nguyên Hạ tự xưng là hoàng đế Tây Hạ và phát động chiến tranh với Tống; cuối cùng buộc Tống phải giảng hòa và nộp tiền triều cống. Ở phía đông bắc vào năm 1042, triều Liêu dự định hưng binh nam hạ, buộc Tống phải cầu hòa và tăng tiền thuế lên 20 vạn, sử gọi là Trọng Hi tăng tệ. Ở phía nam, nước Việt thường quấy nhiễu vùng biên giới và hỗ trợ cho lực lượng phản quân Nùng Trí Cao, khiến nhà Tống phải chống đỡ rất vất vả.

Do sinh thời Nhân Tông không có con trai nên buộc lòng ông phải chọn một cậu bé trong tông thất nuôi trong cung và phong làm hoàng tử, đặt tên là Triệu Thự. Ngày 30 tháng 4 năm 1063, Nhân Tông mắc bệnh qua đời, Triệu Thự kế thừa đế vị, xưng là Tống Anh Tông.

Thân thế và cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Tên khai sinh của Tống Nhân Tông là Triệu Thụ Ích[3]. Ông chào đời vào ngày 12 tháng 5 năm 1010, là con trai thứ sáu của Tống Chân Tông Triệu Hằng, mẫu thân là thần phi Lý thị. Khi ấy các phi tần trong cung đã nhiều năm qua không sinh được hoàng tử, hoặc sinh được nhưng không nuôi được. Chân Tông sủng ái Lưu Đức phi, có ý lập làm hoàng hậu, song không tìm ra được lí do gì. Lý thị khi đó là cung nữ, nằm mộng thấy có điềm báo rằng mình sẽ sanh con trai[4]. Lưu Đức phi bèn dùng kế, sai Lý thị vào hầu Nhân Tông, đến khi bà có mang và sinh con liền cướp đứa bé làm con mình. Do có công sinh được hoàng tử, vào năm 1013, Lưu thị được sắc phong làm Hoàng hậu[4].

Hoàng tử Thụ Ích tính tình nhân hiếu, khoan hòa, vui buồn không có biểu lộ ra sắc mặt[3]. Vào năm 1014, ông được tấn phong làm Khánh quốc công, đến năm 1015 lại thăng làm Thọ Xuân quận vương, đến học tại Tư Thiện đường. Năm 1017, được kiêm Trung thư lệnh. Năm sau (1018), ông được tiến phong lên tước thân vương, tức là Thăng vương. Ngày 20 tháng 8 năm 1018, ông được tấn phong làm Hoàng thái tử, lấy Tham chính Lý Địch làm tân khách của thái tử[3][5]. Ngày 26 tháng 8, thái tử vào yết thái miếu. Năm 1020, Chân Tông lâm bệnh, có chiếu năm khai mở Tư Thiện đường một lần, thái tử ra gặp phụ thần, tham gia quyết đoán các việc trong các ti. Ngày 23 tháng 3 năm 1022, Chân Tông băng hà′, thái tử lên tức vị hoàng đế, tôn Lưu hoàng hậu làm Hoàng thái hậu[3]. Trong 12 năm đầu tiên triều Nhân Tông, thực quyền cai quản đất nước nằm trong tay Lưu thái hậu.

Làm hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu thái hậu chấp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Chương Hiến Minh Túc hoàng hậu Lưu Nga, nhiếp chính Trung Quốc 1022 - 1033

Do thái hậu cai quản việc triều chính, nên Dương thục phi được giao nhiệm vụ nuôi dưỡng Nhân Tông. Bà được tôn làm Hoàng thái phi. Thái hậu xưng làm Quyền phân xử quân quốc đại sự, buông rèm nhiếp chính, năm ngày lên triều một lần[6].

Tháng 8 năm 1022, gia phong Phùng Chửng làm Chiêu Văn điện học sĩ, Vương Tằng làm Trung thư thị lang, Đồng bình Chương sự; Lã Di Giản, Lỗ Tông Đạo Tham tri chính sự; Tiền Duy Diễn làm Xu mật sứ. Đến mùa đông năm đó, triều đình an táng cho Chân Tông hoàng đế. Nhân Tông biết rằng chuyện thiên thư dưới thời Chân Tông chỉ là bịa đặt, nên đem thiên thư chôn luôn vào mộ Chân Tông[6]. Tháng 12 cùng năm, lại bãi chức của Tiền Duy Diễn. Nhân Tông cho đổi niên hiệu, lấy năm tiếp theo (1023) là Thiên Thành năm thứ nhất[3].

Ngày 30 tháng 4 năm 1023, thái hậu lệnh bãi Viện Lễ nghi. Ngày 22 tháng 9, bãi chức của Phùng Chửng, dùng Vương Khâm Nhược lên thay làm Môn hạ thị lang, Đồng bình chương sự[3][7]. Ngày 29 tháng 9 năm 1024, Nhân Tông đến thăm trường Quốc Tử giám, bái lễ Khổng Tử, sau đó đến miếu của Vũ Thành vương. Ngày 16 tháng 2, Nhân Tông hạ chiếu đại xá, các quan trong triều dâng tôn hiệu cho ông là Thánh Văn Duệ Vũ Nhân Minh Hiếu Đức hoàng đế, Hoàng thái hậu là Ứng Thiên Sùng Đức Nhân Thọ hoàng thái hậu.

Mùa đông năm 1025, Vương Khâm Nhược qua đời[3][7][8]. Triều đình dùng Vương Tằng, Trương Tri Bạch lên thay, đồng thời Trương Mân, Yến Thù được phong làm Xu mật chánh, phó sứ. Cựu tể tướng Đinh VịLôi Doãn Cung năm trước trong lúc xây lăng, để bất cẩn mà suýt đưa đạo huyệt vào nơi tuyệt lộ, nên thái hậu dùng cớ đó ép Doãn Cung tự sát, giáng chức Đinh Vị. Đinh Vị trước kia tìm cách sai nữ đạo cô Lưu Đức Diệu giả thần giả quỷ để mê hoặc Thái hậu. Khi Đinh Vị bị tội, Thái hậu liền bắt Đức Diệu xuống thẩm vấn. Lại cho lục soát nhà Đức Diệu, thấy có thư của Đinh Vị, trên giấy đề bốn chữ Hồn Nguyên hoàng đế. Thái hậu bắt giam Đức Diệu, giáng Đinh Vị làm Nhai châu tư hộ tham quân.

Ngày 9 tháng 2 năm 1027, nhà vua dẫn các quan đến chúc thọ tại điện Hội Khánh. Lúc này thái hậu không vừa lòng với Yến Thù, bèn nhân lúc ông ta đánh gãy răng người hầu, mà cách chức đi, dùng Hạ Tủng lên thay[9]. Ngày 4 tháng 4 năm 1028, dùng Trương Sĩ Tốn làm Đồng bình chương sự; sau đó lấy Khương Tuân, Phạm Ung là Xu mật chánh phó sứ. Đầu 1029, Lỗ Tông Đạo mất, còn Tào Lợi Dụng bị thái hậu làm tội, phải bị đày ra Phòng châu; liên lụy đến cả Trương Sĩ Tốn cũng bị bãi chức. Lợi Dụng về sau thắt cổ tự tử[10]. Lấy Lã Di Giản làm Đồng bình chương sự, Hạ TủngTiết Khuê làm Tham chính, Trương Nghiêu Tá làm Xu mật phó sứ.

Vương Tằng trước kia nhiều lần khuyên Thái hậu không nên lạm quyền quá, Thái hậu tuy nghe theo nhưng trong lòng rất bực tức. Mùa hạ năm đó, nhân trong cung Ngọc Thanh bị hỏa hoạn, cháy trụi hết, Thái hậu nói là do tể tướng không biết điều hòa âm dương, liền đày Vương Tăng ra Thanh Châu vào ngày 9 tháng 8. Đại thần Phạm Trọng Yêm dâng sớ nói Nhân Tông đã lớn, xin Thái hậu hết buông rèm. Thái hậu tức lắm, liền đày Trọng Yêm ra Thông châu. Trong, ngoài đều cho rằng thái hậu có ý tiếm ngôi, xưng Đế. Tam tư sứ Trịnh Lâm muốn lấy lòng Thái hậu, vẽ bức tranh "Võ hậu lâm triều" mà dâng lên. Thái hậu tức giận ném bức tranh xuống đất và cấm không ai được làm những chuyện như vậy nữa. Mùa đông năm đó, triều đình ra lệnh cấm kinh doanh muối ở 28 châu, quân[11].

Nhận mẹ ruột và phế hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 12 năm 1024, theo xếp đặt của hoàng thái hậu, Nhân Tông lập Quách thị làm Hoàng hậu[7]. Hoàng hậu là con gái của tiết độ sứ Bình Lư Quách Sùng[4]. Lúc đó Nhân Tông vốn thích Trương thị, nhưng do thái hậu ép buộc mà bất đắc dĩ phải lập Quách thị làm hậu, phong Trương thị làm Tài nhân. Quách hoàng hậu ỷ có Lưu thái hậu chống lưng, rất kiêu ngạo, cả Nhân Tông cũng không xem ra gì, giám sát hết hành động của ông, khiến ông rất bất bình.

Lưu thái hậu phong cho mẹ ruột của Nhân Tông làm Thuận dung, ép phải ra trông nom lăng cho Nhân Tông. Ngày 8 tháng 4 năm 1032, Lý Thuận dung được phong làm Thần phi rồi qua đời, có lời đồn là do thái hậu hạ độc mà chết[11][12]. Thần phi từ khi hạ sinh long tử, đã phải mất con vào tay của thái hậu. Nhân Tông lên ngôi đã 10 năm, Thần phi vẫn phải ở trong đám phi tần, mà Nhân Tông cũng không biết gì về mẹ ruột của mình. Các quan trong triều sợ thái hậu, không ai dám nói ra[11]. Đến khi thần phi chết, trong cung không phát tang. Tể tướng Lã Di Giản vào hỏi việc có người trong hậu cung mới qua đời. Thái hậu sai vua đi khỏi, rồi quát mắng Di Giản rằng li gián hai cung. Di Giản lập luận với thái hậu rằng nếu muốn sau này họ Lưu còn tồn tại, thì phải đối xử trọng đãi với Lý thần phi. Thái hậu hiểu ra, bèn dùng nghi lễ hoàng hậu mà an táng cho Thần phi.

Đầu năm 1033, Lưu thái hậu muốn mặc áo cổn, đội mũ miện là đồ dành cho thiên tử, mà vào yết Thái miếu[11]. Tiết Khuê can là không nên, Thái hậu không theo, vẫn mặc cổn miện vào Thái miếu. Thái phi Dương thị, Hoàng hậu Quách thị theo giá. Tại Văn Đức điện, bà được quần thần tôn tôn hiệu. Ngày hôm đó, Thái hậu chính thức trao trả quyền hành về cho Nhân Tông.

Tháng 4 năm 1033, Lưu thái hậu lâm bệnh rồi qua đời, thọ 65 tuổi, di chiếu để lại phong Dương thái phi làm Hoàng thái hậu[13]. Thái hậu coi việc nước 11 năm. Khi làm lễ an táng, Nhân Tông sai bỏ đế phục thái hậu đang mặc, táng theo lễ hoàng hậu. Lúc này, Yên vương Triệu Nguyên Nghiễm tiết lộ sự thật về thân thế của Lý Thần phi, nói rằng Lưu Thái hậu đã cướp Nhân Tông về làm con mình, bỏ rơi Thần phi ở trong cung thất sủng. Yên vương còn nói rằng Lưu Thái hậu đã hạ độc chết Thần phi. Nhân Tông kinh hoàng, đích thân tới nơi ở của Thần phi, hạ lệnh tôn Thần phi làm Thái hậu, thụy là Chương Ý. Nhân Tông đến chỗ bài vị Chương Ý cùng bái, mở quan ra xem thì thấy di thể vẫn còn nguyên vì được táng bằng thủy ngân, theo lễ Hoàng hậu. Từ đó Nhân Tông đối với họ Lưu, ân điển vẫn như cũ[13]. Lưu hậu được tôn thụy là Trang Hiến Minh Túc, còn Lý Thần phi là Trang Ý hoàng hậu.

Trước kia hoàng hậu Quách thị được lập không phải là ý của Nhân Tông. Từ sau khi Lưu thái hậu chết đi, ông cũng không còn ngó ngàng đến hoàng hậu mà chỉ sủng ái hai phu nhân Thượng, Dương. Hoàng hậu tánh đố kị, thường nói ra những lời oán giận. Nhân một hôm Nhân Tông đang vui đùa với hai phu nhân, hoàng hậu lén rình nghe thấy Thượng phu nhân nói xấu mình, bèn xông tới gây gổ, rồi đánh cả vào mặt Nhân Tông[13]. Nhân Tông rất giận và có ý phế hậu. Lại thêm Lã Di Giản trong lần trước bị bãi tướng vẫn oán thù hoàng hậu, cũng ra sức hùn vào; lấy lí do: Hoàng hậu lập lên đã chín năm mà chẳng có con. Trong lúc Nhân Tông còn chưa quyết định xong thì bên ngoài đã biết hết chuyện, Phạm Trọng Yêm bèn đem chuyện này ra và khuyên sớm quyết định để tránh đàm tiếu.

Ngày 16 tháng 1 năm 1034, Nhân Tông giáng hoàng hậu làm Tịnh phi, Ngọc Kinh Trùng diệu tiên sư, ban tên là Thanh Ngộ; cũng tức là phải đi làm đạo sĩ, sau lại dời ra Diêu Hoa cung[4]. Bọn các đại thần Phạm Trọng Yêm, Khổng Đạo Phụ,... đến chất vấn Lã Di Giản về việc phế hậu; đều bị đuổi khỏi triều đình. Tiền Duy Diễn vì có móc nối với Quách hậu cũng bị đuổi ra Sùng Tín quân. Sau khi Quách hậu bị phế, hai mĩ nhân Thượng, Dương độc sủng trong cung. Nhân Tông ngày đêm bên hai mĩ nhân đến nỗi cơ thể suy nhược gầy còm. Dương thái phi được tin đó, trách cứ hai phu nhân Thượng, Dương mê hoặc thánh thượng. Nhân Tông bất đắc dĩ cũng phải phế hai mĩ nhân này làm đạo sĩ[13]. Sau chuyện đó, có phu nhân họ Trần nhập cung, Nhân Tông rất sủng ái và muốn lập làm tân hậu. Tham chính Tống Thụ, Xu mật sứ Vương Tăng lại can ngăn. Cuối cùng ngôi hoàng hậu thuộc về cháu gái của danh tướng Tào Bân là mĩ nhân Tào thị.

Ngày 10 tháng 12 năm 1035, Quách hoàng hậu lâm bệnh. Nhân Tông lúc này có ý hối chuyện khi trước, nên thường sai người đến hỏi thăm. Đến đây sai Diêm Văn Ứng đến chữa trị, mà Diêm Văn Ứng trước kia từng gièm pha khiến Quách hậu bị phế nên Văn Ứng rất lo sợ. Ngay sau đó hoàng hậu qua đời. Nhân Tông cho khôi phục địa vị hoàng hậu của Quách thị.

Chính trị, 1032 - 1043[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thu năm 1032, theo thỉnh cầu của gián quan Trần Chấp Trung, triều đình bãi chức Tham chính Vương Thự vì lí do bệnh tật; lấy Môn hạ tỉnh làm Gián viện, dời tỉnh cũ sang phía tây cửa Hữu Dịch. Dùng Yến Thù làm Xu mật phó sứ, Tham tri chính sự[4][11][12]. Ngày 8 tháng 1 năm 1033, lấy Dương Sùng Huân làm Xu mật sứ; Sùng Huân vào tạ; thái hậu và Nhân Tông nói rằng tiên đế ngày trước có nói Sùng Huân là người uy tín, có thể đảm đương đại sự, nay thấy thật là đúng như vậy. Mấy hôm sau, Vương Tùy đề nghị bãi bỏ luật muối. Vào lúc khi triều đình cấm việc bán muối, tiền ngân khố tăng 15 vạn so với năm trước; nhưng sang năm sau lại hao tổn đến 9 vạn; sau đó cũng không phát huy ích lợi gì nữa, nên mới có đề nghị này.

Sau khi Lưu Thái hậu qua đời, Nhân Tông mới có thể đích thân chấp chính. Vì bất hòa từ lâu với bà ta, Nhân Tông liền cho thay đổi một loạt nhân sự trong triều. Trước kia có Lâm Hiến Khả cầu xin thái hậu trao lại quyền cho Nhân Tông mà bị đày đến Lĩnh Nam, đến nay Nhân Tông cho người này được phục chức. Đồng thời các đại thần bị thái hậu đuổi đi là Tống Thụ, Phạm Trọng Yêm cũng được triệu về. Bọn hoạn quan Giang Đức Minh, Tuế Sùng Huân, Nhậm Thủ Trung ỷ thế làm bậy; nên cũng bị đuổi ra ngoài, nhưng chưa làm thành tội. Đến việc dưới thời thái hậu, nhiều người dâng con gái vào cung, nên Nhân Tông bèn liên tục hạ lệnh phóng thích cung nhân. Ngày 25 tháng 5 năm 1033, Đồng bình chương sự Lã Di Giản, Xu mật sứ Trương Kì, Xu mật phó sứ Hạ Tủng, Phạm Ung, Triệu Chẩn; Tham chánh Trần Nghiêu Tá, Yến Thù... đều bị bãi chức[12][13]. Lúc nhà vua thân chính, Lã Di Giản dâng lên tám điều cải cách. Nhân Tông bèn cùng với Di Giản lập kế loại hết những người mà Lưu thái hậu bổ dụng trước kia. Việc này đến tai Quách hoàng hậu. Quách hậu nói với Nhân Tông rằng Lã Di Giản thật giỏi ứng biến, nên Di Giản cũng bị bãi chức luôn. Lại dùng Lý Địch lên thay Lã Di Giản, Vương Tùy Tham chính, Lý Tư làm Xu mật phó sứ... Thầy của Nhân Tông là Tôn Thích qua đời, truy tặng Tả bộc xạ, thụy là Tuyên. Trước kia Hữu tư gián là Phạm Trọng Yêm xin sai sứ đi xem xét thiên tai, dịch bệnh ở miền đông nam; sau một thời gian triều đình mới chịu cử Trọng Yêm làm An phủ, đến mở kho khóc, cấm thơ văn bậy bạ... tình hình nơi đó mà dịu bớt đi.

Ngày 20 tháng 11 năm 1033, lại bãi Trương Sĩ Tốn, Dương Sùng Huân vì lí do hai người uống rượu đến mức trễ cả buổi thiết triều[12][13]. Nguyên do sâu xa vì trong nước có nạn châu chấu nhưng Sĩ Tốn làm tướng mà không có kế sách gì, khiến Nhân Tông lại nhớ đến Lã Di Giản. Bèn dùng Di Giản làm Môn hạ thị lang, Thượng thư bộ Lại, Đồng bình chương sự[14], Vương Thự, Vương Đức Dụng, Thái Tề làm Xu mật chánh phó sứ, Tống Thụ làm Tham tri chinh sự. Như vậy chỉ trong vòng có chưa tới nửa năm, Nhân Tông lại bổ dụng trở lại các đại thần bị ông cách chức trước kia. Mĩ nhân Trương thị mà trước đây Nhân Tông có ý lập hậu, nay đã mất thì được truy tặng là hoàng hậu.

Sau khi tự mình chấp chính, Nhân Tông làm theo cách của Đường Thái Tông mở rộng con đường thi cử làm quan, mỗi khóa thi tuyển sinh tới mấy nghìn người, lại đặt ra những ưu đãi cho người đi thi. Người thi đỗ ngày càng nhiều, mà đại thần và người bên họ ngoại lại liên tục được đề bạt khiến cho hiện tượng quan lại vô dụng thùa mứa trong triều đình càng ngày càng nghiêm trọng. Thế nhưng Nhân Tông vẫn cho rằng đường làm quan vẫn chưa đủ rộng, vì nhiều người tuy tuổi đã cao mà vẫn chưa đỗ đạt. Mùa xuân năm 1034, nhà vua hạ lệnh trong mỗi khoa thi cứ 10 người lấy đỗ hai người. Mỗi khi đã vào tới thi Đình thì dù làm bài có sai sót thì cũng không đánh hỏng đó là luật bất thành văn[13]. Đến mùa hạ, lại có lệnh rằng cử nhân đi thi mà không hợp quy cách thì không bị bắt tội. Năm Đại Trung Tường Phù thời Chân Tông tổng số quan lại là 9758 người, đến năm Hoàng Hựu thời Nhân Tông đã lên tới 17300 người, chưa tính số chưa được bổ nhiệm. Như vậy chỉ trong 40 năm số lượng quan lại của nhà Tống đã tăng gấp đôi.

Ngày 28 tháng 9 năm đó, dùng Vương Tăng làm Thượng thư Bộ lại, Đồng bình chương sự, Xu mật sứ. Ngày 25 tháng 3 năm 1035, Thượng thư Bộ Công, Bình chương sự Lý Địch bị bãi đến Bạc châu. Lấy Xu mật sứ Vương Tăng làm Hữu Bộc xạ kiêm Mon hạ thị lang, Bình chương sự; Vương Tùy, Lý Tư, Vương Đức Dụng, Hàn Nhân Ý làm Tri Xu mật viện; Tham chính Tống Thụ làm Xu mật phó sứ; Thái Tề, Trịnh Độ làm Tham tri chính sự[15]. Ngày 22 tháng 8, Nhân Tông nhận tôn hiệu từ quần thần là Cảnh Hựu Thể Thiên Pháp Đạo Khâm Văn Thông Vũ Thánh Nhân Hiếu Đức.

Lúc bấy giờ tri phủ Khai Phong Phạm Trọng Yêm là người chính trực, vì thế bị mất lòng khá nhiều đại thần trong triều, nhất là Lã Di Giản. Trọng Yêm có ý khuyên triều đình dời đô về phía tây, bị Di Giản phản đối. Ông lại đề xuất với Nhân Tông việc dùng người hiền năng, Di Giản bèn tố rằng Trọng Yêm tiến dẫn bằng đảng, li gián triều đình. Ngày 5 tháng 6 năm 1036, có chiếu giáng Phạm Trọng Yêm làm tri Nhiêu châu[15][16]. Các đại thần như Dư Tĩnh, Âu Dương Tu không bằng lòng với việc này, cũng bị giáng chức. Đến ngày 9 tháng 5 năm 1037, bọn tể thần Lã Di Giản, Vương Tăng, Tham chính Tống Thụ bất hòa và bài xích lẫn nhau, Nhân Tông đồng loạt cách chức của họ. Lấy Vương Tùy, Trần Nghiêu Tá làm Bình chương sự, Trịnh Độ làm Tri Xu mật, Hàn Ức, Trình Lâm, Thạch Trung Lập Tham tri chính sự... Đó là do tiến cử của Lã Di Giản. Mùa thu năm này kinh sư gặp địa chấn, Diệp Thanh Thần dâng sớ nói rằng có lẽ do chuyện bọn Phạm Trọng Yêm, Âu Dương TuDư Tĩnh nói thẳng bị mất chức nên trời oán giận, vì thế Nhân Tông lại dời ba người này về làm việc ở các châu gần. Phạm Trọng Yêm được đến Nhuận châu[16], trong triều sợ ông ta được dùng trở lại, mới có lời gièm đến tai Nhân Tông. Nhân Tông nổi giận, có ý đày ông ta đến Lĩnh Nam, nhưng Tham chính Trình Lâm lại can gián, nên bỏ qua việc đó[17].

Ngày 8 tháng 4 năm 1038, tể tướng Vương Tùy, Trần Nghiêu Tá, Hàn Ức bị bãi chức. Dùng Trương Sĩ Tốn lên thay làm tướng, Chương Đắc Tượng, Vương Tông làm Tham chính, Vương Bác VănTrần Chấp Trung làm Tri Xu mật. Mùa hạ năm đó Vương Bác Văn qua đời[18]. Lấy Ngự sử trung thừa Trương Quan lên thay chức. Lúc bấy giờ Nhân Tông lưu ý đến việc nông nghiệp, thấy trong nước mùa vụ không ổn định do bão lũ hạn hán, nên lo lắng, bèn hạ chiếu các châu cứ định kì phải dâng tấu trình bày tình hình thời tiết, nông vụ ở địa phương mình lên triều đình[17]. Ngày 24 tháng 8, quần thần cùng nhau dâng tôn hiệu là Bảo Nguyên Thể Thiên Pháp Đạo Khâm Văn Thông Vũ Thánh Thần Anh Duệ Hiếu Đức, dâng lên năm lần, nhà vua không nhận. Sau cùng khi hỏi ý kiến của Trương Sĩ Tốn, ông quyết định nhận tôn hiệu nhưng bỏ đi hai chữ Anh Duệ. Hữu tư gián Hàn Kì dâng biểu xin dùng lễ nhạc cũ, vì lễ nhạc mới đây không hợp phép cũ, bọn Tống Thụ cũng tán thành, nhà vua nghe theo.

Ngày 24 tháng 12 năm 1038, cựu tướng Vương Tăng qua đời. Nhân Tông xuống chiếu bỏ triều hai ngày, truy tặng làm Thị trung, thụy là Văn Chính[17][19]

Quan lại vô dụng, binh lính bất tài làm cho quốc khố ngày càng cạn kiệt, không những thế đất đai lại bị ngoại bang thôn tính, thuế khóa tăng cao làm đời sống nhân dân cơ cực, dẫn tới khởi nghĩa. Các học sĩ trong triều như Phạm Trọng Yêm lần lượt dâng sớ yêu cầu cắt giảm bớt những quan lại vô dụng, chủ trương tiết kiệm và cải cách chính trị. Năm 1043 để cứu triều chính khỏi cảnh lâm nguy, Phạm Trọng Yêm đã dâng tấu "Đáp thủ chiếu điều trần thập sự" đưa ra 10 chủ trương cải cách, như giảm thuế khóa và phu phen, củng cố quân đội, khuyến khích dân trồng dâu nuôi tằm phát triển thương nghiệp... Nhân Tông chấp nhận và cho thực hiện những chủ trương này, gọi đó là "tân chính", trong sử hay gọi là "Khánh Lịch tân chính".

Nhưng những chính sách mới này vấp phải sự phản đối của phe bảo thủ trong triều do nó trực tiếp động chạm đến lợi ích của một số quần thần. Các bè đảng không ngớt lời dèm pha dần dần làm cho Nhân Tông mất niềm tin vào "tân chính". Cộng thêm liên tiếp những cuộc khởi nghĩa nông dân và nạn châu chấu xảy ra ở nhiều nơi, khiến Nhân Tông xem xét lại mọi việc và đổ lỗi cho "tân chính", ông quyết định hi sinh phe cải cách và thỏa hiệp với phe bảo thủ. Những người chủ trương cải cách như Phạm Trọng YêmÂu Dương Tu lần lượt bị cách chức, công cuộc cải cách chấm dứt, Nhân Tông cũng không còn tâm huyết xây dựng đất nước, cục diện đất nước nghèo túng yếu ớt đã hình thành.

Chiến tranh với Tây Hạ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thời Tống Thái Tông, bộ lạc Đảng Hạng ở miền tây bắc Trung Quốc ngày càng lớn mạnh, có ý đồ li khai, không thần phục triều Tống nữa. Đến năm 1032, Lý Nguyên Hạo lên kế nhiệm cha là Lý Đức Minh, là tiết độ sứ Định Nan[20][21], tước Tây Bình vương. Lý Nguyên Hạo là người tàn bạo, từ lâu đã có ý li khỏi tự lập. Lúc đó Nhân Tông dùng niên hiệu Minh Đạo, phạm vào tên cha của Nguyên Hạo (Đức Minh), nên trong nước ông ta tự ý đổi niên hiệu này thành Hiển Đạo. Tuy ban đầu vẫn nộp cống cho triều Tống nhưng cũng đã manh nha ý muốn chống đối. Đồng thời Nguyên Hạo cũng được nhà Liêu phong làm Hạ quốc vương.

Giữa năm 1034, Hạ chủ Lý Nguyên Hạo lấy cớ quân Tống ở Khánh công xâm nhập vào cảnh giới nước Hạ, bèn dẫn quân đến báo thù. Các tướng Tống Dương Tuân, Lư Tuấn bị đánh bại ở trận Long Mã tỉnh; Hoàn Khánh đô giám Tề Tông Củ xuất quân chiến đấu và bị bắt sống. Trước kia tri Định châu Lưu Bình thường cảnh báo nhà vua phải triệt để đề phòng Lý Nguyên Hạo, song triều đình không theo. Đến đây Nhân Tông khen là người biết nhìn xa, dùng Lưu Bình làm Hoàn Khánh lộ phó đô bộ thự.

Chính trong lúc Nhân Tông sa đà vào cuộc sống phóng túng, chính trị triều Tống ngày càng hủ bại, thì dân tộc Đảng Hạng ngày càng lớn mạnh. Ngày 10 tháng 11 năm 1038, Nguyên Hạo tự xưng là hoàng đế nước Tây Hạ, sai sứ giả đến triều Bắc Tống yêu cầu thừa nhận chính quyền Tây Hạ, nhưng bị cự tuyệt[17]. Bấy giờ ở phía nam cũng có giặc An Hóa cướp phá. Triều đình nhà Tống cử quân giao chiến với người Man, nhưng thất bại, kiềm hạt Trương Hoài Chi và năm người khác đều chết. Vua sai Phùng Thân Kỉ là con của Phùng Chửng làm tri Quế châu, Quảng Tây kiềm hạt, nhanh chóng đi dẹp doạn. Thân Kỉ sau khi đến châu, huấn luyện quân đội và tuyển thêm lính, lấy thêm lương thực rồi chia quân làm ba lộ tiến đánh quân Man; người Man phải đầu hàng, tình hình Quảng Tây lại được yển ổn.

Để đối phó với Tây Hạ, Nhân Tông dùng Lưu Bình làm Phu Diên lộ đô bộ thự, Hạ Lạt làm Tiết độ sứ Phụng Ninh, tri Vĩnh Hưng; Phạm Ung làm Tiết độ sứ Chấn Vũ, tri Diên châu.

Tháng 2 năm 1039, Nguyên Hạo dẫn quân xâm chiếm Bảo An quân[22]. Sau đó Tây Hạ lại liên tiếp tiến đánh các châu phủ biên giới như Vị Châu, Diên Châu, Lân Châu, Phong Châu. Nhân Tông phải cử Hàn ỶPhạm Trọng Yêm dẫn quân đánh mới thu hồi lại được những đất đai đã mất.

Mới giành được chút thắng lợi, Nhân Tông đã trở nên chủ quan, phái người thâm nhập vào Tây Hạ bày kế khiến Tây Hạ tự tàn sát lẫn nhau để làm "ngư ông đắc lợi". Hành vi này khiến Nguyên Hạo vô cùng giận dữ. Năm 1042 Nguyên Hạo dẫn quân tấn công ồ ạt vào Tống, tiến thắng đến Vị Châu[23], Nhân Tông phải xin cầu hòa. Năm 1044, do chịu áp lực từ Liêu nên Tây Hạ đồng ý xưng thần với Tống, nhưng yêu cầu Tống mỗi năm phải "ban thưởng" 13 vạn súc lụa, 5 vạn lượng bạc, 2 vạn cân trà.

Lúc này Liêu cũng nhân cơ hội để yêu sách đòi Tống phải trả lại mười huyện từ Ngõa Kiều quan trở xuống phía nam mà nhà Hậu Chu đã thu phục trước kia, đồng thời ép Nhân Tông tăng tiền cống nạp để cầu hòa. Với nhà Tống, đây chẳng nào một bản Hòa ước Thiền Uyên thứ hai.

Trọng Hi tăng tệ[sửa | sửa mã nguồn]

Bấy giờ ở miền bắc, Liêu Hưng Tông Da Luật Hồng Chân sau khi lên ngôi được hai năm, tiêu diệt được thế lực của Pháp Thiên thái hậu, nắm được toàn bộ đại quyền trong triều[24]. Trong lúc này triều đình nhà Liêu phát sinh tranh chấp nội bộ, thế lực ngày càng suy yếu; khiến Hưng Tông buộc lòng phải đón Pháp Thiên thái hậu trở về, bắt đầu những tranh chấp mới trong cung đình.

Liêu chủ do đó tìm cách ra uy với nhà Tống để lập lại vị thế. Trong khi đó triều Tống tài chính suy sụp, tham nhũng lan tràn, đạo tặc nổi lên khắp nơi. Nhân lúc Tống bận giao tranh với Hạ, Liêu tìm cách phạt Tống để tăng thêm tiền thuế.

Tháng 2 năm 1042, quân Liêu áp sát vùng biên giới, ý đồ nam hạ. Đồng thời vua Liêu cũng sai sứ đến ép buộc triều Tống phải trả lãi mười huyện phía nam Ngõa Kiều quan mà Chu Thế Tông đã dâng cho Liêu khi xưa.

Biến loạn ở phía nam[sửa | sửa mã nguồn]

Triều chính, 1044 - 1063[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu cung và thái tử[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân Tông mắc bệnh hiếm muộn cũng như Chân Tông ngày xưa. Trong cung, các phi tần hạ sinh được ba hoàng tử là Phưởng, Hân, Hi nhưng đều chết non; chỉ có Chu Trần; Tần Lỗ; Cổn quốc; Yên quốc bốn vị công chúa còn sống đến tuổi trưởng thành. Vì thế vào năm 1035, hoàng hậu Tào thị cho đón con trai của Bộc vương Triệu Doãn Nhượng tên là Tông Thực vào cung để nuôi dưỡng, dự phòng có người kế vị sau này[15].

Cuối năm 1036, Bảo Khánh thái hậu là Dương thị băng hà. Ngày trước khi Trang Hiến thái hậu mất, thái hậu cố từ khi Nhân Tông xưng thần với mình. Đến khi có chỉ mỗi năm cấp cho 20.000 làm phí tắm gội, hậu cũng cố từ nhưng không được. Do Nhân Tông không có con trai, thái hậu đề xuất đem các con của các thân vương vào cung nuôi nấng, mới lựa ra được trong số đó có Anh Tông hoàng đế về sau. Khi thái hậu mất đi, Nhân Tông theo chuyện Đường Vũ Tông để tang Nghĩa An thái hậu, phục tang tiểu công, lấy ngày thay tháng, không lên triều tám ngày, trong thời gian để tang không vận đồ đẹp. Đặt tôn thụy cho bà Trang Huệ, bấy giờ có lời khen hoàng đế là con có hiếu[15].

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1063, ngày 30 tháng 4, Nhân Tông mất tại Biện Lương, hưởng thọ 54 tuổi. Ông tại vị tổng cộng 41 năm, được tôn thụy hiệuThể Thiên Pháp Đạo Cực Công Toàn Đức Thần Văn Thánh Vũ Duệ Triết Minh Hiếu hoàng đế (體天法道極功全德神文聖武睿哲明孝皇帝), miếu hiệuNhân Tông (仁宗), an táng tại Vĩnh Chiêu Lăng (永昭陵).

Do không có con trai, ông nhận con trai thứ ba của Bộc An Ý vương Triệu Duẫn Nhượng (趙允讓) tên là Triệu Tông Thực (趙宗實) vào cung làm con, giao cho Từ Thánh Quang Hiến hoàng hậu Tào thị nuôi dưỡng. Năm 1062, Hoàng tử được lập làm Hoàng thái tử kế vị. Sau khi Nhân Tông băng hà, Thái tử kế vị, tức Tống Anh Tông.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Nhân Tông nắm quyền, mặc dù ông đã có những cố gắng, như thực hiện Khánh Lịch tân chính, nhằm củng cố quân đội và kinh tế nhưng vẫn phải chi những khoản cống nộp lớn (cho dù sử sách Trung Hoa viết khác đi, như là "ban thưởng") cho cả nhà Liêu cũng như Tây Hạ, với hy vọng điều này sẽ đảm bảo sự an toàn cho triều đại của mình.

Tuy nhiên, chính sách này phải trả một giá đắt. Để có tiền cho những khoản chi tiêu lớn thì thuế má đã tăng lên khủng khiếp và những người dân của nhà nước này phải sống trong cảnh nghèo đói kinh niên. Điều này cuối cùng dẫn tới những cuộc nổi dậy có tổ chức trên khắp đất nước và càng làm cho chính quyền nhà Tống suy yếu thêm.

Tống Nhân Tông cũng là ông vua hết sức tiết kiệm và có đạo đức. Một đêm ông thèm ăn thịt dê nhưng ông cố nhịn, sáng mai tâm sự với viên thái giám thân tín rằng: đêm qua Trẫm thèm ăn thịt dê quá. Viên Thái giám vội tâu: ấy chết! bệ hạ thèm ăn thịt dê sao không bảo bọn ngự trù làm đêm hôm qua cho Hoàng Thượng dùng. Triệu Trinh nói: nếu đêm qua trẫm gọi sợ làm phiền bọn ngự trù phải thức dậy chuẩn bị thịt dê cho Trẫm, hơn nữa chiều bản thân mình quá cũng không phải là điều hay.

Một số quan lại nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Chương Hiến Minh Túc Hoàng hậu Lưu thị (章献明肃皇后刘氏, 968-1033), người Ích Châu, con gái của Lưu Thông (刘通).
  2. Chương Huệ Hoàng hậu Dương thị (章惠皇后楊氏, 984 - 1036), còn gọi là Dương Thục phi (楊淑妃), con gái của Dương Tri Nghiễm (杨知俨).
  • Hậu phi:
  1. Phế Hoàng hậu Quách thị (废皇后郭氏, 1012 - 1035), sau phế truất làm Tịnh phi (净妃).
  2. Từ Thánh Nhân Tông Hoàng hậu Tào thị (慈聖光獻皇后曹氏, 1016 - 1079), người Kim Hà, cháu gái của danh tướng Tào Bân (曹彬).
  3. Ôn Thành Nhân Tông hoàng hậu Trương thị (溫成皇后張氏, 1024 - 1054), còn gọi Trương Quý phi (張貴妃), người Hà Nam, con gái của Tiến sĩ Trương Nghiêu Phong (張堯封). Trương thị năng ca thiện vũ, quốc sắc thiên tư, khuynh quốc khuynh thành, nhanh chóng thành Quý phi. Sua khi qua đời, được đặt cách truy tặng Hoàng hậu. Sinh ra Tống Anh Tông Triệu ThựĐặng quốc công chúa, Trấn quốc công chúaĐường quốc công chúa.
  4. Chiêu Tiết Quý phi Miêu thị (昭節貴妃苗氏, 1017 - 1086), con gái của Miêu Kế Tông (苗繼宗) và Hứa thị (許氏) vốn là nhũ mẫu của Nhân Tông. Miêu thị tư sắc mỹ lệ, từ hạng Tài nhân (才人) phong dần lên bậc Chiêu dung (昭容) rồi Đức phi (德妃). Có công lao nuôi dưỡng Tống Anh Tông, được phong tặng Quý thái phi (貴太妃).
  5. Chiêu Thục Quý phi Chu thị (昭淑貴妃周姓, 1022 - 1114), xuất thân thị nữ của Ôn Thành Hoàng hậu, sau được Nhân Tông sủng hạnh, hạ sinh 2 Công chúa, sách phong Mỹ nhân (美人), Tiệp dư (婕妤) rồi Chiêu dung (婉容), sau khi mất truy tặng Quý thái phi (貴太妃).
  6. Chiêu Ý Quý phi Trương thị (昭懿贵妃 张氏, ? - 1104): không được ghi chép trong Tống sử. So với sủng phi Trương thị (sau được truy phong làm Ôn Thành hoàng hậu) của Tống Nhân Tông có thể cùng là một người.
  7. Đổng Thục phi (董淑妃, ? - 1062), xuất thân thị nữ của Nhân Tông, sau được sủng hạnh sách phong Văn Hỉ Huyện quân (闻喜县君), sinh hạ Công chúa tấn phong lên bậc Tài nhân (才人), Mỹ nhân (美人), Sung viên (充媛), Uyển nghi (婉仪), khi mất truy tặng Thục thái phi (淑太妃).
  8. Dương Đức phi (楊德妃, 1019 - 1072), tên là Tông Diệu (宗妙), người Định Đào, con gái của Dương Trung Đích (杨忠的). Dương thị nhập cung làm phi tần, sách phong Nguyên Vũ Quận quân (原武郡君) rồi Mỹ nhân (美人). Dương thị mỹ mạo lộng lẫy, thông hiểu âm luật lại khiêm nhường từ tốn, rất được Nhân Tông sủng hạnh. Cùng lúc đắc sủng với bà có Thượng Mỹ nhân, khiến Quách hoàng hậu ghen tức, Nhân Tông nhân đó mà phế truất Quách thị, lại cho là Dương thị cùng Thượng thị nhiễu loạn hậu cung mà buộc phải xuất cung, xuất gia tu đạo. Năm 1034, Dương thị xuất cung, nhưng không lâu sau Nhân Tông nhớ thương mà triệu về, ban cho danh phận Mỹ nhân như trước. Sau sinh hạ Thương Quốc Công chúa, lại tấn phong Tiệp dư (婕妤) rồi Tu nghi (修仪), khi mất truy tặng Đức thái phi (德妃).
  9. Du Đức phi (兪德妃), nguyên là cơ thiếp của Nhân Tông khi còn là Hoàng tử với danh hiệu Diên An Quận quân (延安郡君). Năm 1037, hạ sinh Hoàng trưởng tử Triệu Phưởng, thăng lên bậc Mỹ nhân (美人) rồi Chiêu nghi (昭仪), khi mất truy tặng Đức thái phi (德太妃).
  10. Phùng Hiền phi (馮賢妃), người Đông Bình, cháu gái của Binh bộ Thị lang Phùng Khởi (冯起), sinh hạ Lỗ Quốc Công chúaSở Quốc Công chúa.
  11. Trương Hiền phi (張賢妃).
  12. Chiêu dung Trương thị (昭容張氏).
  13. Phế Sung nghi Thượng thị (充儀尚氏, ? - 1050), nhập cung làm phi tần, sách phong Mỹ nhân (美人), đắc sủng kiêu ngạo. Dưới thời Tống Anh Tông bị phế rồi ban chết.
  14. Sung nghi Chu thị (充儀 朱氏, ? - 1095): nguyên phong là Phái Quốc quận quân, rồi thăng Tài nhân. Tháng 7 năm Thiệu Thánh thứ hai thăng làm Sung nghi.
  15. Tiệp dư Liên thị (婕妤 連氏)
  16. Bành Thành huyện quân Lưu thị (彭城县君 刘氏): tên là Lưu Đạo Nhất, từ dân gian nhập cung làm cung nữ, sau được thăng làm Huyện quân.
  17. An Phúc huyện quân Trương thị (安福县君 张氏): cung nữ của Đổng Thục phi.
  18. Nhân Hòa huyện quân Lý thị (仁和县君 李氏): cung nữ của Đổng Thục phi.
  • Con trai:
  1. Dương vương Triệu Phưởng (楊王 趙昉, 24/6/1037 - 24/6/1037), chết non, mẹ là Du Đức phi.
  2. Ung vương Triệu Hân (雍王 趙昕, 6/9/1039 - 24/3/1041), chết non. Mẹ là Chiêu Tiết quý phi.
  3. Kinh vương Triệu Hi (荊王 趙曦, 23/8/1041 - 14/2/1043), chết non. Mẹ là Chu tài nhân.
  • Con gái:
  1. Chu quốc Trần quốc đại trưởng công chúa [周國陳國大長公主, 1038 - 1071], mẹ là Chiêu Tiết quý phi. Hạ giá Lý Vĩ (李瑋). Sau truy tặng Trang Hiếu Minh Ý đại trưởng đế cơ (庄孝明懿大長帝姬).
  2. Từ quốc công chúa [徐國公主], chết non, mẹ là Du Đức phi.
  3. Đặng quốc công chúa [鄧國公主], chết non, mẹ là Ôn Thành hoàng hậu. Sau truy phong làm Trang Thuận đại trưởng đế cơ (莊順大長帝姬).
  4. Trấn quốc công chúa [鎮國公主], chết non, mẹ là Ôn Thành hoàng hậu. Sau truy phong làm Trang Định đại trưởng đế cơ (莊定大長帝姬).
  5. Sở quốc công chúa [楚國公主], chết non, mẹ là Phùng Hiền phi.
  6. Thương quốc công chúa [商國公主], chết non, mẹ là Dương Đức phi. Sau truy phong làm Trang Tuyên đại trưởng đế cơ (莊宣大長帝姬).
  7. Lỗ quốc công chúa [魯國公主], chết non. Mẹ là Phùng Hiền phi.
  8. Đường quốc công chúa [唐國公主], chết non, mẹ là Ôn Thành hoàng hậu. Sau truy phong làm Trang Thận đại trưởng đế cơ (庄慎大长帝姬).
  9. Trần quốc đại trưởng công chúa [陳國大長公主; 1059 - 1067], chết non, mẹ là Đổng Thục phi. Sau truy phong là Trang Tề đại trưởng đế cơ (莊齊大長帝姬).
  10. Tần quốc Lỗ quốc Hiền Mục Minh Ý đại trưởng công chúa [秦國魯國賢穆明懿大長公主, 1057 - 1142], mẹ là Chiêu Thục quý phi. Hạ giá Tiền Cảnh Trăn (錢景臻). Sau truy phong thành Lệnh Đức Cải Hành đại trưởng đế cơ (令德景行大長帝姬).
  11. Cổn quốc đại trưởng công chúa [袞國大長公主, 1059 - 1083], mẹ là Đổng Thục phi. Hạ giá Tào Thi (曹詩). Sau truy phong thành Hiền Ý Cung Mục đại trưởng đế cơ (賢懿恭穆大長帝姬).
  12. Yên quốc Thư quốc đại trưởng công chúa [燕國舒国大长公主, ? - 1112], mẹ là Chiêu Thục quý phi. Hạ giá lấy Quách Hiến Khanh (郭獻卿). Sau truy phong thành Ý Mục đại trưởng đế cơ (懿穆大長帝姬).
  13. Dự quốc công chúa [豫国公主], chết non, mẹ là Đổng Thục phi. Sau truy phong thành Trang Nghiễm đại trưởng đế cơ (莊儼大長帝姬).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]