Lý Thánh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lý Thánh Tông
李聖宗
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Lý Thánh Tông.JPG
Tượng Lý Thánh Tông tại Văn miếu-Quốc tử giám
Hoàng đế nhà Lý
Trị vì 10541072
Tiền nhiệm Lý Thái Tông
Kế nhiệm Lý Nhân Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Thượng Dương hoàng hậu
Linh Nhân hoàng hậu
Hậu duệ
Tên húy Lý Nhật Tôn (李日尊)
Niên hiệu Long Thụy Thái Bình (龍瑞太平 1054 - 1058)
Chương Thánh Gia Khánh (彰聖嘉慶 1059 - 1065)
Long Chương Thiên Tự (龍彰天嗣 1066 - 1067)
Thiên Huống Bảo Tượng (天貺寶象 1068)
Thần Vũ (神武 1069 - 1072)
Thụy hiệu Ứng Thiên Sùng Nhân Chí Đạo Uy Khánh Long Tường Minh Văn Duệ Vũ Hiếu Đức Thánh Thần hoàng đế
應天崇仁至道威慶龍牆明文睿武孝德聖神皇帝
Miếu hiệu Thánh Tông (聖宗)
Triều đại Nhà Lý
Thân phụ Lý Thái Tông
Thân mẫu Linh Cảm hoàng hậu
Sinh 30 tháng 3, 1023
Long Đức cung
Mất 1 tháng 2, 1072 (48 tuổi)
Hội Tiên điện, Thăng Long
An táng Thọ Lăng
Tôn giáo Phật giáo
Nho giáo

Lý Thánh Tông (chữ Hán: 李聖宗; 30 tháng 3, 10231 tháng 2, 1072), là vị hoàng đế thứ 3 của nhà Lý, cai trị từ năm 1054 đến năm 1072, tổng cộng 17 năm.

Cũng như 2 vị hoàng đế tiền nhiệm là Lý Thái TổLý Thái Tông, Thánh Tông hoàng đế là người tài kiêm văn võ, từ khi còn là Thái tử đã giỏi cầm quân dẹp loạn. Đế còn nổi tiếng là một minh quân có nhiều đức độ trong lịch sử Việt Nam, qua việc đối đãi nhân từ với tù nhân, đối xử với người dân trọng tình nghĩa và có phần khoan thứ[2].

Khi vừa lên ngôi, Đế cho đặt quốc hiệu Đại Việt (大越), bắt đầu Kỷ nguyên Đại Việt hưng thịnh hơn 800 năm của Việt Nam với quốc hiệu này, qua nhà Lý, nhà Trầnnhà Hậu Lê, quốc hiệu bị gián đoạn bởi nhà Hồ vào năm 1400 nhưng được Lê Thái Tổ khôi phục vào năm 1427. Quân sự dưới đời Thánh Tông tiếp tục được phát triển tối cường. Năm 1069, Thánh Tông phát động chiến tranh vào đất Chiêm Thành, bắt được chúa Chiêm là Rudravarman III, lấy được ba châu của Chiêm Thành. Với nhà Tống, Thánh Tông càng tỏ ra kiêu ngạo, không hề kiêng dè, Tống Đế và triều đình nhà Tống cũng phải kiêng dè vài phần.

Thánh Tông bên cạnh thao lược võ bị, còn rất chú tâm đến Nho giáo, Đế cho xây dựng Văn Miếu, trọng Nho giáo vào việc rèn luyện con người, dụng Phật giáo để tĩnh tâm, chú trọng vào thiền, Nho giáo và Phật giáo đều hưng thịnh. Năm 1057, Thánh Tông cho xây dựng Tháp Báo Thiên, một trong An Nam tứ đại khí đầy tự hào của văn minh Lý - Trần, đánh dấu sự phát triển cực đại của Phật giáo thời Lý.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh Tông hoàng đế tên thật là Lý Nhật Tôn (李日尊), là con thứ 3 của Thái Tông Từ Hiếu hoàng đế, mẹ là Linh Cảm hoàng hậu Mai thị. Ông sinh ngày 25 tháng 2 năm Quý Hợi, niên hiệu Thuận Thiên thứ 14 (tức 30 tháng 3 năm 1023) tại cung Long Đức, dưới triều đại của ông nội là Thái Tổ Thần Vũ hoàng đế[1].

Năm 1028, khi Thái Tông hoàng đế lên kế vị, ông được lập làm Hoàng thái tử. Thái tử Nhật Tôn sớm tinh thông kinh truyện, rành âm luật, lại giỏi võ nghệ, là người thông minh xuất chúng. Tháng 8 năm 1033, ông được ban phong tước hiệu Khai Hoàng vương (開皇王), cho ở cung Long Đức để học tập và tự lập. Năm 15 tuổi (1037), ông được Thái Tông phong làm Đại nguyên soái, cùng cha đi dẹp bạo loạn ở Lâm Tây (Lai Châu) và lập được đại công.

Năm 1039, Thái Tông đi đánh Nùng Tồn Phúc, Thái tử Nhật Tôn mới 17 tuổi được cử làm giám quốc, coi sóc kinh thành và việc triều chính. Tháng 4, ngày mồng 1 năm Canh Thìn (1040), ông lại được Thái Tông giao cho việc xử các vụ kiện tụng trong nước, đặt điện Quảng Vũ cho ông phụ trách.

Tháng 10, ngày mồng 1 năm 1042, ông được Thái Tông hoàng đế phong làm Đô thống Đại nguyên soái đi đánh châu Văn (nay thuộc Lạng Sơn). Năm sau, Tháng 3, ngày mồng 1 năm 1043, ông lại được cử làm Đô thống Đại nguyên soái đi đánh châu Ái (nay thuộc Thanh Hoá). Tháng giêng, năm 1044, Thái Tông hoàng đế đi đánh Chiêm Thành, ông được giao làm Lưu thủ kinh sư để cai quản mọi việc của quốc gia, gọi là Giám quốc.

Tháng 7 năm 1054, thấy mình già yếu, Thái Tông hoàng đế cho phép Hoàng thái tử ra coi chầu nghe chính sự. Hai tháng sau, Thái Tông hoàng đế băng hà, Hoàng thái tử lên nối ngôi, sử gọi là Lý Thánh Tông, lấy niên hiệu đầu là Long Thụy Thái Bình (龍瑞太平).[2]

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Đối đãi nhân từ[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Thánh Tông là một vị hoàng đế có lòng thương dân. Nhân một năm trời rét đậm, Thánh Tông bảo các quan hầu cận rằng:

Trẫm ở trong cung ngự sưởi than thú, mặc áo hồ cừu mà còn rét thế này. Huống chi những tù phạm giam trong ngục, phải trói buộc, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc; vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, nhỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm.

Nói rồi vua truyền lấy chăn chiếu cho tù nằm, và mỗi ngày cho hai bữa ăn.

—Đại Việt sử ký toàn thư

Lại có một hôm, Thánh Tông ra ngự ở điện Thiên Khánh xét án, có Động Thiên công chúa đứng hầu bên cạnh. Thánh Tông chỉ vào công chúa mà bảo các quan rằng: Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại, làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm. Từ rày về sau tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi.

Nội trị[sửa | sửa mã nguồn]

Là người sùng Phật giáo, Thánh Tông đã xây cất nhiều chùa tháp, đúc chuông đồng lớn. Như vào năm 1056, Thánh Tông cho xây dựng chùa Sùng Khánh Báo Thiên (nay là Chùa Báo Thiên), dùng 12000 cân đồng để đúc chuông, đặt vào chùa. Ồng lại cho xây Đại Thắng Tư Thiên bảo tháp (大勝資天寳塔), hay gọi là Tháp Báo Thiên. Về sau được liệt vào một trong An Nam tứ đại khí, bản thân chùa Báo Thiên cũng trở thành Quốc tự lúc bấy giờ vị sự tráng lệ, xa hoa.

Cùng năm, ông lại cho xây thêm hai chùa Thiên Phúc (天福) và Thiên Thọ (天壽), cho đúc hai pho tượng Phạn VươngĐế Thích bằng vàng để thờ phụng. Về sau hai chùa được xem là một trong các quốc tự, hay bái yết chùa.

Bên cạnh sùng Phật giáo theo truyền thống từ các đời trước, Thánh Tông còn rất chú trọng Nho giáo. Năm 1070, ông cho làm Văn Miếu, đắp tượng thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ phối [3], vẽ tượng Thất thập nhị hiền [4], bốn mùa cũng tế, để mở mang Nho học.

Về quân đội, ông chủ trương rèn luyện binh sĩ một cách hiệu quả nhất, mạnh hơn cả các đời trước. Ông cho định hiệu quân, gọi là Ngự Long (御龍), Vũ Thắng (武勝), Long Dực (龍翼), Thần Điện (神電), Bổng Thánh (俸聖), Bảo Thắng (寳勝), Hùng Lược (雄畧), Vạn Tiệp (萬捷) đều chia làm tả hữu, thích vào trán ba chữ Thiên tử quân (天子軍).

Ông hay ngự xem đánh cá, gặt lúa, khi hạn hán, thiên tai thì đều miễn thuế, phát kho lương. Dân chúng được hưởng ơn, phúc báo không hết lời. Nhiều năm liền được mùa to, Thánh Tông vui mừng lại miễn thuế. Công tích ngày càng cao, các nước láng giềng Trảo Oa (Java), Ngưu Hống [5], Ai Lao đều dâng sản vật địa phương xin giao hảo.

Trong thời kỳ tại vị, liên tiếp các tộc man di ở vùng miền thượng như động Mang Quán (Sơn La), động Ma Sa (Mã Đài, Hòa Bình), Ái Châu (Giang Long), động Sã Đang,...đều nhiều lần làm phản, nhưng Thánh Tông vốn là một người thiện chiến nên hoàn toàn dẹp yên được. Các chủ tộc ở đây sợ thiên uy, đều thuần phục và nộp cống.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Công phá Chiêm Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Ổn định tình hình trong nước, Lý Thánh Tông chú trọng mở rộng cương thổ.

Về việc binh, Thánh Tông đặt quân hiệu và chia ra làm tả hữu tiền hậu 4 bộ, hợp lại là 100 đội, có kỵ binh, bộ binh, tượng binh, hỗ trợ thêm có máy bắn đá, còn những phiên binh thì lập ra thành đội riêng. Binh pháp thời Lý Thánh Tông có tiếng là thiện chiến và tinh nhuệ, nhà Tống cũng phải dụng tâm học cách tổ chức, phiên chế quân đội Đại Việt.

Nước Chiêm Thành phía Nam hay sang quấy nhiễu, không hề tỏ ra thuần phục Đại Việt. Năm 1069, Thánh Tông hoàng đế thân chinh đi đánh. Đánh lần đầu không thành công, bèn đem quân trở về.

Đi nửa đường đến châu Cư Liên, Thánh Tông nghe thấy nhân dân khen bà Lê Nguyên phi ở trong kinh thành giám quốc, trong nước được yên trị, Thánh Tông nghĩ bụng: Người đàn bà trị nước còn được như thế, mà mình đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn ông hèn lắm sao? Ông bèn đem quân trở lại, đánh bắt được chúa Chiêm Thành là Rudravarman III, Thánh Tông về triều, đổi niên hiệu là Thần Vũ (神武).

Rudravarman III xin dâng đất ba châu là Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính để chuộc tội. Thánh Tông lấy 3 châu ấy và cho Rudravarman III về nước. Những châu ấy nay ở địa hạt các huyện Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hoá, Lệ Thuỷ thuộc tỉnh Quảng Bình và huyện Bến Hải tỉnh Quảng Trị.

Uy hiếp Nước Tống[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1057, Thánh Tông sai sứ thần đem con thú lạ sang biếu nước Tống, nói là con lân. Đại thần nước Tống là Tư Mã Quang nói: Nếu là con lân thực mà đến không phải thời cũng chẳng lấy gì làm điềm tốt, nếu không phải lân, thì làm cho người phương xa chê cười. Xin hậu thưởng rồi bảo đem về.

Tháng 3 năm 1059, ông mang quân vào Khâm Châu nước Tống diễu võ dương oai khiến quân Tống phải nể sợ.

Năm 1060, ông lại sai tướng trấn thủ Lạng châu là Thân Thiệu Thái đánh quân Tống can thiệp ở biên giới, bắt được tướng nhà Tống là chỉ huy sứ Dương Bảo Tài. Tháng 7, quân Tống mấy lần phản công nhưng thất bại, phái Thị lang bộ Lại là Dư Tĩnh sang điều đình. Phía Đại Việt, Thánh Tông cử Phí Gia Hậu đi hoà đàm, đối đãi với sứ Tống rất hậu nhưng cương quyết không trả tù binh Dương Bảo Tài.

Vấn đề nối dõi[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ỷ Lan

Vào năm 1063, lúc bấy giờ hoàng đế tuổi 40 mà chưa có con trai nối dõi. Tục truyền rằng, Thánh Tông hay cúng khấn cầu tự chưa thấy hiệu nghiệm. Nhân đi chơi khắp các chùa quán, xa giá đi đến đâu, con trai con gái ở các thôn làng đổ xô ra xem đông đúc và hết sức nô nức. Duy có một lần, vua nhìn thấy có một người con gái hái dâu, nhan sắc mặn mà, cứ đứng một mình tựa vào gốc cây lan, không hề chú ý đến xa giá của ngài như những cô gái khác. Vua lấy làm lạ, cho nàng là người có cốt cách khác người, bèn tiến lại gần làm quen với nàng, ngay bữa ấy đưa nàng về cung. Được gần gũi nàng, vua càng phát hiện nhiều vẻ thanh quý khác thường ở nàng. Ngài rất ưng ý, sủng ái nàng và phong nàng là Ỷ Lan phu nhân(phu nhân dựa gốc cây lan).

Thánh Tông muốn có con trai, sai Chi hậu nội nhân Nguyễn Bông (阮艽) đem hương cầu đảo ở chùa Thánh Chúa (聖主寺). Nhà sư dậy cho Bông thuật đầu thai thác hoá. Bông nghe theo. Việc phát giác, đem chém Bông ở trước cửa chùa. Người sau gọi chỗ ấy là [Đồng Bông; 艽原]. Chùa ở xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, Đồng Bông ở phía Tây trước cửa chùa, nay hãy còn.

Năm 1066, Ỷ Lan phu nhân hạ sinh hoàng tử đầu tiên, đặt tên là Lý Càn Đức (李乾德). Hoàng tử ra đời được một ngày thì nhà vua vui mừng lập ngay làm Hoàng thái tử, đại xá cho thiên hạ, và phong Ỷ Lan phu nhân làm Thần phi.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng Giêng, ngày Canh Dần, năm Nhâm Tý (tức 1 tháng 2 năm 1072), Thánh Tông hoàng đế băng hà ở điện Hội Tiên[1], trị vì được 17 năm, hưởng thọ 49 tuổi và được an táng ở Thọ Lăng.

Miếu hiệuThánh Tông (聖宗), thụy hiệu của ông là Ứng Thiên Sùng Nhân Chí Đạo Uy Khánh Long Tường Minh Văn Duệ Vũ Hiếu Đức Thánh Thần hoàng đế (應天崇仁至道威慶龍牆明文睿武孝德聖神皇帝).

Thánh Tông hoàng đế mất, Thái tử Lý Càn Đức mới 7 tuổi lên thay, tức là Nhân Tông Minh Hiếu hoàng đế. Bấy giờ Hoàng đế mới 7 tuổi, tôn mẹ đẻ là Lê Nguyên phi làm Hoàng thái phi, tôn mẹ đích là Dương hoàng hậu làm Hoàng thái hậu, buông rem cùng nghe chính sự, Thái sư Lý Đạo Thành giúp đỡ công việc.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có lời nhận định về Lý Thánh Tông:

"Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đặt khoa bác sĩ, hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, xứng đáng là bậc vua tốt. Song nhọc sức dân xây tháp Báo Thiên, phí của dân làm cung Dâm Đàm đó là chỗ kém."[1]

Lý Thánh Tông là người kế tục xứng đáng của Lý Thái Tông trong việc phát triển cơ nghiệp nhà Lý. Hoàng đế tận tụy công việc, thương dân, sửa sang chính trị, làm phương bắc phải kiềng nể, phương nam phải kính sợ. Hơn thế nữa, ông còn xứng đáng là vị hoàng đế mở đầu cho quốc hiệu Đại Việt hiển hách. Sự nghiệp của Lý Thánh Tông có ba điểm nhấn lớn trong lịch sử Việt Nam mà đời sau còn nhắc đến nhiều lần: thành lập quốc hiệu Đại Việt, khai sáng Văn Miếu và mở rộng lãnh thổ qua việc chiếm lấy ba châu phía nam.

Triều đại nhà Lý tới thời ông trị vì đã hoàn toàn ổn định, vững chắc, để rồi dưới thời Lý Nhân Tông đã phát triển lên mức cực thịnh. Bên cạnh đó, thành tựu ấy cũng có được nhờ vào những Linh Nhân Hoàng thái hậu, Thái úy Lý Thường Kiệt và Thái sư Lý Đạo Thành, những nhân vật kiệt suất đã được Thánh Tông chọn lựa mà ủy thác Tân đế, chấn hưng vương quyền.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Dương Hoàng hậu (楊皇后, ? - 1073), không rõ xuất thân, Hoàng hậu tại vị duy nhất. Sau khi Thánh Tông băng, được tôn làm Hoàng thái hậu (皇太后), cùng Lý Đạo Thành (李道成) giúp việc triều chính. Sau bị Lê Thái phi lập mưu giam lỏng và bức chết.
  2. Linh Nhân Hoàng hậu Lê thị (靈仁皇后黎氏, 1044 - 1117), có tên là Ỷ Lan (倚蘭), từ vị Phu nhân (夫人) được tiến phong Thần phi (宸妃) rồi Nguyên phi (元妃), sau được tôn làm Hoàng thái phi (皇太妃). Dùng kế bức tử Dương Thái hậu để được tôn làm Hoàng thái hậu và nắm quyền nhiếp chính.
  • Hậu duệ:
  1. Hoàng thái tử Lý Càn Đức [李乾德], tức Nhân Tông Minh Hiếu hoàng đế (仁宗明孝皇帝), mẹ là Linh Nhân hoàng hậu.
  2. Minh Nhân Vương [明仁王], mẹ là Linh Nhân Hoàng hậu, không rõ kết cục.
  3. Sùng Hiền Hầu [崇贤侯] (?-1130), không rõ mẹ.
  4. Động Thiên Công chúa (洞天公主), trưởng nữ, do Dương Hoàng hậu nuôi dưỡng.
  5. Thiên Thành Công chúa (天圣公主), thứ nữ, do Dương Hoàng hậu nuôi dưỡng. Gả cho Thân Cảnh Phúc (申景福).
  6. Lý Ngọc Kiều [李玉橋], nghĩa nữ. Con gái ruột của Phụng Càn Vương.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Đại Việt sử ký toàn thư, Bản Kỷ Toàn Thư, Quyển III, Mục Thánh Tông Hoàng đế.
  2. ^ a ă Việt Sử Toàn Thư, Phạm Văn Sơn, tr. 138
  3. ^ Tức chỉ Nhan Uyên, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử là bốn học trò của Khổng Tử được thờ với thầy ở Văn Miếu
  4. ^ 72 học trò giỏi của Khổng Tử
  5. ^ tộc người Thái ở vùng Sơn La, có thể là người Thái Đen. Ngưu Hống có thể là phiên âm tên Ngù Háu trong tiếng Thái, có nghĩa là "Rắn hổ mang". Theo Quắm tố mướu (truyện kể bản Mường) của người Thái Đen thì chúa Lò Rẹt ở Mường Muổi (khoảng thế kỷ XIV) lấy hiệu là Ngù Háu. Nhưng Ngù Háu có thể là hình tượng của tộc Thái Đen từ trước

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]