Đường Hiến Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Hiến Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Tang Xianzong.jpg
Hoàng đế nhà Đường
Trị vì 5 tháng 9, 805[1][2] - 14 tháng 2, 820[3]
Tiền nhiệm Đường Thuận Tông
Kế nhiệm Đường Mục Tông
Thông tin chung
Hậu duệ
Tên thật Lý Thuần (李淳)
sau đổi thành Thuần (純)[4]
Niên hiệu Nguyên Hòa (元和)[5][6][7][8]
Thụy hiệu Chiêu Văn Chương Vũ Đại Thánh Chí Thần Hiếu hoàng đế
昭文章武大聖至神孝皇帝
Miếu hiệu Hiến Tông (憲宗)
Triều đại Nhà Đường
Thân phụ Đường Thuận Tông
Thân mẫu Trang Hiến hoàng hậu
Sinh 778[9]
Mất 14 tháng 2, 820[3][8]
An táng Cảnh lăng (景陵)

Đường Hiến Tông (chữ Hán: 唐憲宗; 778 - 14 tháng 2 năm 820), tên thật là Lý Thuần (李純), là vị Hoàng đế thứ 11 hay 14 của nhà Đường[10] trong lịch sử Trung Hoa. Ông trị vì từ năm 805 đến 820, tổng cộng 15 năm.

Ông được đánh giá là một vị Hoàng đế chăm lo triều chính và đã nhận ra mối nguy của phiên trấn và quyết tâm quét sạch các phiên trấn này. Quân đội triều đình đã đánh bại nhiều tiết độ sứ như Lưu Tịch, Lý Kỹ, Dương Huệ Lâm trong các năm 806-807. Năm 813, tiết độ sứ Điền Hoằng Chính ở Ngụy Bác[11]đã quy phục triều đình. Thất bại đầu tiên của ông năm 813 trước Vương Thừa Tông nhưng đến năm 817, sau thất bại của Lý Sư Đạo và sự phục tùng của Vương Thừa Tông thì hầu như phần lớn các tiết độ sứ đều quy thuận triều đình.

Các sử gia sau này nói tới thời kỳ trị vì của ông như là Nguyên Hòa trung hưng (元和中兴).

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Hiến Tông bổn danh Lý Thuần (李淳), chào đời vào năm 778 tại Đông cung, thành Trường An do lúc đó, ông nội ông là Đường Đức Tông Lý Quát vẫn là Hoàng thái tử. Cha của ông là Đường Thuận Tông Lý Tụng và mẫu thân là Vương thị, lương đệ của Lý Tụng. Sang năm 779, Đức Tông lên ngôi, năm 780, cha ông tức Lý Tụng được phong làm Thái tử[12], Lý Thuần mang thân phận đích hoàng tôn. Trong những năm 784 - 785, Lý Thuần mới khoảng sáu, bảy tuổi có một hôm được gặp ông nội Đức Tông. Đức Tông ôm ông vào lòng và hỏi:"Tử là ai, sao lại ở gần trẫm thế?"[13].

Lý Thuần trả lời:"Là đệ tam thiên tử"[13]. Đức Tông ngạc nhiên nhưng vô cùng thích thú và tỏ ra quý mến ông.

Vào tháng 6 ÂL năm Trinh Nguyên thứ tư (788), Lý Thuần lúc đó đã 10 tuổi được sách phong tước vị Quảng Lăng quận vương (广陵郡王). Năm 793, Đức Tông lấy Quách thị, người con gái của Thăng Bình công chúa (con gái Đường Đại Tông) với chồng là Quách Ái, con trai đại tướng Quách Tử Nghi, cho kết hôn với Lý Thuần mà Quách thị được phong làm Vương phi[14][15].

Năm 804, cha Lý Thuần bị đột quỵ, mất khả năng nói và đi lại. Khi Đường Đức Tông qua đời vào tháng 2 năm 705[16], triều đình xảy ra tranh cãi về việc ai là người kế vị, bởi Thái tử Lý Tụng mắc bệnh, không đủ khả năng quản lí triều chính. Một số hoạn quan trong triều không muốn lập Lý Tụng, khi hai đại thần Trịnh NhânVệ Thứ Công vào cung soạn thảo di chiếu, các hoạn quan này lại đề nghị nên để Lý Thuần trực tiếp lên ngôi, còn Lý Tụng là Thái thượng hoàng. Nhưng Vệ Thứ Công cho rằng quyết định như vậy có thể làm cho hoàng tộc xảy ra tranh chấp, nên vẫn quyết định lập Thái tử Lý Tụng, cuối cùng mọi người bằng lòng.

Ngày Giáp Ngọ (tức ngày 26 tháng 2), Thái tử Lý Tụng lên ngôi, tức là Đường Thuận Tông[2].

Hoàng thái tử[sửa | sửa mã nguồn]

Do Thuận Tông bệnh nặng nên quyền lực trong cung thuộc về Ngưu chiêu dung cùng hoạn quan Lý Trung Ngôn, còn ngoại vụ do Vương Thúc Văn quyết định. Ngưu Chiêu dung vẫn ngại Lý Thuần thông minh quyết đoán sẽ gây trở ngại cho mình nên không muốn lập ông làm thái tử. Ở trong triều, Vương Thúc Văn cùng một số đại thần khác đề xướng cuộc Duy Tân</ref> Vĩnh Trinh nhằm cải cách đất nước, trong đó hạn chế quyền lực của hoạn quan. Nhóm Câu Văn Trân, Lưu Quang Kì, Tiết Doanh Trân ... lo sợ mất quyền lực bèn tính kế đối phó, trước tiên là lập Lý Thuần chính vị thái tử. Họ dâng sớ xin cho triệu Vệ Thứ Công, Lý Trình, Vương Nhai vào điện thảo chiếu lập thái tử. Các đại thần soạn tờ chiếu trong đó có bốn chữ: lập đích dĩ trưởng trình lên, Thuận Tông gật đầu. Ngày Quý Tị (26 tháng 5), Lý Thuần được phong làm hoàng thái tử, đổi tên là Thuần (純)[2].

Vương Thúc Văn cầm quyền thấy Lý Thuần được lập, muốn lôi kéo Lý Thuần ủng hộ cải cách của mình mình, bèn phái Lục Chất làm sư phó của ông để xem xét. Nhưng khi Lục Chất nhắc đến việc này, Lý Thuần tức giận nói:"Phụ vương bảo tiên sinh giảng cho ta về kinh nghĩa, sao lại nhắc đến chuyện khác"[2] .

Lục Chất sợ hãi lui ra và không dám nhắc đến nữa. Đến mùa hạ năm 805, thế lực của Vương Thúc Văn trong triều suy yếu dần do sự công kích từ phiên trấn bên ngoài và hoạn quan trong triều. Tháng 7, Vương Thúc Văn phải về nhà phụng dưỡng thân mẫu bị bệnh[2] [17], hoạn quan nhân đó bàn kế hoạch loại bỏ các đại thần thân tín của Thúc Văn và chấm dứt công cuộc cải cách, tiếp sau là đưa Lý Thuần lên ngôi. Ngày Ất Mùi 26 tháng 8, hoạn quan ép Thuận Tông cho thái tử nhiếp chính, thay mặt Thuận Tông yết kiến bá quan ở triều đường. Ngày hôm sau, 27 tháng 8 Lý Thuần đến điện Lân Đức nghe bách quan tấu sự.

Ngày Canh Tí (31 tháng 8), Đường Thuận Tông hạ chiếu nhường ngôi cho Lý Thuần, cải nguyên Vĩnh Trinh còn mình xưng Thái thượng hoàng, mẹ tự hoàng là Vương thị làm thái thượng hoàng hậu. Ngày Ất Tị (5 tháng 9), Tự Hoàng chính thức đăng cơ ở Tuyên Chánh điện, tức là Đường Hiến Tông. Thái thượng hoàng chuyển sang ở Sùng Khánh cung[2][13][18] .

Làm vua[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Vĩnh Trinh và sơ kì Nguyên Hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi lên ngôi, Hiến Tông cho bãi chức các đại thần đề xướng Vĩnh Trinh Duy Tân như Vương Thúc Văn, Vương Bái, Hàn Thái, Hàn Diệp, Liễu Tông Nguyên ... và đuổi họ ra khỏi triều đình, sau lại bắt Vương Thúc Văn phải tự tử. Vĩnh Trinh Duy Tân chấm dứt. Ngày hôm sau 6 tháng 9 (Bính Ngọ), công chúa Thăng Bình dâng 50 tì nữ, nhưng Hiến Tông cho rằng thượng hoàng không thể nhận nên mình cũng không thể nhận rồi trả về[13] .

Nắm quyền tể tướng lúc này là bọn Viên TưĐỗ Hoàng ThườngTrịnh Dư Khanh. Trong những ngày đầu trị vì của Hiến Tông, một số Tiết độ sứ như Hàn Toàn Nghĩa ở Hạ Tuy và Sử Y Thận ở Phụng Nghĩa đã vào triều yết tân thiên tử để tỏ ý quy phục.

Cuối năm 805, bách quan đề nghị thượng hoàng tôn hiệu là Ứng Can Thánh Thọ thái thượng hoàng và Hiến Tông là Văn Vũ Đại Thánh Hiếu Đức hoàng đế. Cùng lúc, có ẩn sĩ La Lệnh Tắc từ Trường An đến Phổ Nhuận[19] và nói với Thứ sử Tân châu Lưu Dung rằng La Lệnh Tắc nhận cáo của thượng hoàng yêu cầu phế truất Hiến Tông lập vua khác. Nhưng không ai nghe theo chỉ dụ này, Lệnh Tắc bị đưa về Trường An và bị đánh đến chết.

Ngày 5 tháng 2 năm 806 (Bính Dần tháng 1 ÂL năm Nguyên Hòa nguyên niên thời Hiến Tông), Hiến Tông suất quần thần đến cung Hưng Khánh dâng tôn hiệu cho thượng hoàng là Ứng Can Thánh Thọ thái thượng hoàng, còn bản thân xưng tôn hiệu Văn Vũ Đại Thánh Hiếu Đức hoàng đế[6] . Ngày Bính Thân, 11 tháng 2, thượng hoàng mất ở cung Hưng Khánh. Sau đó Hiến Tông tôn Thái thượng hoàng hậu Vương thị làm Hoàng thái hậu. Ông cũng tiến hành phong quan chức trên danh nghĩa cho một số phiên trấn bên ngoài như Điền Quý An ở Ngụy Bác[20]Vương Sĩ Chân ở Thành Đức làm Đồng bình chương sự, Lưu Tế ở Lư Long và Lý Sư Cổ ở Bình Lư làm thị trung[6] .

Diệt Lý Kĩ, Lưu Tịch và Dương Huệ Lâm[sửa | sửa mã nguồn]

Từ cuối năm 805, Tây Xuyên[21] tiết độ sứ Vi Cao hoăng, tướng dưới quyền Lưu Tịch tự xưng là lưu hậu, đuổi Tiết độ sứ do nhà Đường bổ nhiệm rồi thượng biểu xin phong chức lên triều đình. Do thực lực chưa ổn định nên Hiến Tông chấp nhận công nhận Lưu Tịch, nhưng ngay sau đó Lưu Tịch lại đòi thêm cả đất Đông Xuyên[22] và Sơn Nam Tây Đạo[23]. Không được triều đình chấp thuận, Lưu Tịch đưa quân tấn công vào Đông Xuyên, bao vây Đông Xuyên Tiết Độ sứ Lý Khang ở Tử châu. Hiến Tông bấy giờ có ý đánh Thục, triều thần cho rằng đất Thục hiểm trở khó công, duy có tể tướng Đỗ Hoàng ThườngLý Cát Phủ khích lệ Hiến Tông xuất quân. Mùa xuân năm 806, lấy Tả Thần Sách hành doanh Tiết độ sứ Cao Sùng Văn dẫn 5000 quân làm tiên phong, Lý Nguyên Dịch dẫn 2000 quân yểm hậu, cùng Sơn Nam Tây Đạo Tiết độ sứ Nghiêm Lệ cùng tiến công Lưu Tịch[13]. Chiến sự nổ ra quyết liệt, ban đầu Lưu Tịch bắt sống được Lí Khang nhưng không lâu sau thì liên tục bại trận, phải bỏ trốn khỏi Tử châu và tập hợp được khoảng 10.000 quân tiếp tục chống trả nhưng vẫn liên tiếp thua trận. Sau đó Lưu TịchLư Văn Nhược mất cả Thành Đô, định bỏ trốn sang Thổ Phiên nhưng bị quân Đường bắt được và giải về kinh và bị diệt môn[6] . Cũng năm 806, ông phong vương cho các hoàng tử; lập chính thất Quách thị (đã hạ sinh hoàng tử Lý Hựu) làm Quý phi.

Trước đó Hàn Toàn Nghĩa khi vào triều để cháu là Dương Duệ Lâm ở lại Hạ Tuy[24] làm lưu hậu. Trong khi đó Đỗ Hoàng Thường lấy cớ Hàn Toàn Nghĩa không có công lớn mà xa xỉ quá độ nên bắt Toàn Nghĩa phải trí sĩ, lấy Lý Diễn lên thay làm Hạ Tuy tiết độ sứ. Lý Diễn vừa đến thì Dương Huệ Lâm đã đưa binh chống lại. Triều đình quyết định lấy quân ở Hà Đông và Thiên Đức thảo phạt Dương Huệ Lâm. Không lâu sau, Dương Huệ Lâm bị Trương Thừa Kim giết chết ở Hạ châu, gửi thủ cấp về kinh, kết thúc cuộc nổi loạn. Cao Sùng Văn được triều đình phong làm Tiết độ sứ Đông Xuyên.[6] Sau đó Tiết độ sứ Bình Lư Lý Sư Cổ hoăng, Hiến Tông vừa mới tiến hành hai chiến dịch lớn nên muốn cho quân nghỉ ngơi, bèn công nhận em Sư Cổ là Lý Sư Đạo làm tiết độ sứ Bình Lư.

Tháng 9 năm 807, thấy hai trấn đã bị diệt, Tiết độ sứ Trấn Hải[25] Lý Kĩ lo sợ, bèn xin vào triều yết kiến để tỏ lòng trung thành nhưng lại không thực hiện. Hiến Tông thúc giục không được, bèn quyết định thảo phạt, lấy Lý Nguyên Tố làm Tiết độ sứ mới thảo phạt Lý Kĩ. Lý Kĩ thấy đất Tuyên châu phì nhiêu nên muốn lấy trước, bèn sai quân tướng tiến đánh. Nhưng các tướng này đã hợp nhau làm phản, bắt Lý Kĩ rồi đầu hàng Đường triều. Sau đó Lý Kĩ bị triều đình giết chết[6] . Sau việc này, Tiết độ sứ Sơn Nam Đông Đạo[26] xin cưới một công chúa trong hoàng gia và giao trả lại trấn cho triều đình. Hiến Tông gả công chúa Phổ Ninh cho. Tết năm 808, Hiến Tông đổi tôn hiệu là Duệ Thánh Văn Vũ hoàng đế.

Tình hình triều chính và ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu hạ năm 808, Hiến Tông ra lệnh khuyến khích các đại thần trong triều can gián những điều không đúng của vua hay quan lại triều đình, ai nói đúng sẽ được thăng chức. Các đại thần Ngưu Tăng Nhụ, Hoàng Phủ Thực, Lý Tông Mẫn thẳng thắn chỉ trích nhiều thiếu sót của triều đình mà không kiêng dè. Giám khảo Vi QuánDương Ư Lăng đánh giá cao những lời chỉ trích này, dâng trình lên, Hiến Tông bằng lòng. Nhưng tể tướng Lý Cát Phủ không vừa lòng vì những lời chỉ trích xúc phạm đến mình, bèn đến khóc lóc với Hiến Tông, bảo rằng Hàn lâm học sĩ Bùi 垍 và Vương Nhai xung đột với nhau, mà Hoàng Phủ Thực lại là cháu của Vương Nhai nên có thể họ bí mất cấu kết với nhau, chuẩn bị sẵn lời nói để nói trong ngày khảo thí. Hiến Tông bèn giáng chức Vương Nhai làm Đô Quan viên ngoại lang, tước danh vị học sĩ, sau đó biếm ra Quắc Châu, nhưng sau cũng dùng lại. Bọn của Ngưu Tăng Nhụ không được xét thăng chức mà cũng không bị phạt, sau họ đến phục vụ cho Tiết độ sứ các nơi. Về sau Lý Cát PhủNgưu Tăng Nhụ được nắm quyền trong triều mà tiếp tục tranh chấp với nhau, Lý Cát Phủ đứng đầu Lý Đảng, Ngưu Tăng Nhụ đứng đầu Ngưu Đảng, sử xưng là Ngưu Lý Đảng tranh[27].

Bộ tộc Sa Đà vốn nhiều năm phụ thuộc Thổ Phiên, được Thổ Phiên bố trí ở đất Cam Châu. Trong năm 808, do bị Thổ Phiên ngờ vực, tù trưởng Sa Đà là Tận Trung hoảng sợ, bèn quy phục nhà Đường, liền bị Thổ Phiên giết. Con là Chấp Nghi đem 10000 người dân và 3000 quân kị đên Linh châu đầu hàng nhà Đường. Tiết độ sứ Linh Diêm Phạm Hi Triều ra tiếp đón và bố trí chỗ ở cho người Sa Đà. Ban đầu họ định cư tại Sóc Phương[28] sau dời sang Hà Đông[29]. Sa Đà dần phát triển thế lực, đến cuối đời Đường cũng phát triển mạnh mẽ, người Sa Đà đã kiến lập nên ba vương triều thời Ngũ Đại là Hậu Đường, Hậu TấnHậu Hán[30][31].

Năm 809, theo thỉnh cầu của Lý Giáng, Nhà Vua lập con trưởng là Đặng vương Lý Ninh do Kỉ mĩ nhân sinh ra làm hoàng thái tử[6]. Cuối năm 811, do chán việc Lý Cát Phủ chuyên quyền, Hiến Tông bèn bổ dụng Lý Giáng cùng đảm nhận tướng vị để tạo ra đối trọng với Lý Cát Phủ và rất tín nhiệm Lý Giáng[32] .

Năm 812, thái tử Lý Ninh hoăng[33][34]. Hiến Tông sau đó bỏ qua con thứ hai Lý Khoan do cung tần sinh ra để lập con thứ ba Toại vương Lý Hựu, con của Quách quý phi làm hoàng thái tử, đổi tên là Lý Hằng[32] [35]. Các đại thần cũng nhân đó dâng sớ xin lập Quách quý phi làm hoàng hậu, nhưng Hiến Tông cho rằng Quý phi đã có thế lực lớn bên nhà mẹ (Quý phi là cháu gái của Đại tướng quân Quách Tử Nghi), nếu phong hậu thì các phu nhân khác sẽ e ngại mà không dám tiếp cận ông, nên vẫn để trống ngôi hậu đến tận khi qua đời[36].

Năm 814, Lý Giáng có bệnh xin từ chức, Hiến Tông dời làm Lễ bộ thượng thư. Có chiếu phong cho tiết độ sứ Hà Trung Trương Hoằng Tĩnh cùng Tiết độ sứ Hà Đông Vương Ngạc và Thượng thư hữu thừa Vi Quán Chi đảm nhận tướng vị. Cũng trong năm đó, tể tướng Lý Cát Phủ qua đời[37]. Năm 816, Hiến Tông phong cho Trung thư xá nhân Lý Phùng Cát làm Môn hạ thị lang, đồng bình chương sự, và đại thần khác là Vương Nhai đảm nhiệm tướng vị. Cùng năm Vương thái hậu băng hà thụy là Trang Hiến hoàng hậu[38].

Đánh các trấn Thành Đức, Chiêu Nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 808, Tiết độ sứ Thành Đức[39] Vương Sĩ Chân hoăng, con là phó sứ Vương Thừa Tông kế tập ở Thành Đức, Hiến Tông muốn Thừa Tông hứa cắt đất hai châu Đức, Lệ quy về triều đình để đổi lấy sự công nhận của mình. Nhưng sau khi được công nhận, Vương Thừa Tông không chịu cắt đất, Hiến Tông bèn tước quan chức của Vương Thừa Tông rồi cử Thổ Đột Thừa Thôi cầm quân đánh diệt. Trong khi đó Điền Quý An ở trấn Ngụy Bác cũng ủng hộ Vương Thừa Tông, dự định hai trấn liên quân cùng kháng triều đình.

Cũng năm 809, Ngô Thiếu Thành ở Trấn Hoài Tây[40] hoăng, tướng Ngô Thiếu Dương sát con Thiếu Thành là Thiếu Khanh, tự xưng là Chương Nghĩa lưu hậu. Hiến Tông cho rằng Chương Nghĩa dễ đánh diệt hơn Thành Đức, nhưng mình đã trót dùng quân đánh Thành Đức nên chỉ đành tiếc nuối mà thôi, sau đó phong Thiếu Dương làm Hoài Tây lưu hậu. Sang năm 810, quân Đường có thắng có thua nhưng không thể tận diệt được Vương Thừa Tông, Tiết độ sứ Lư Tòng ở Chiêu nghĩa[41] cũng cử quân đến giúp Vương Thừa Tông. Tướng Đường là Ô Trọng Dận lừa bắt được Lư Tòng rồi giải về kinh sư. Hiến Tông cảm kích công ấy, muốn cho Ô Trọng Dận làm Tiết độ sứ mới ở Chiêu Nghĩa, nhưng sau nghe lời Lý Giáng nên thôi. Mùa thu năm đó, Vương Thừa Tông sai người đến kinh trần tình và đổ tội cho Lư Tòng li gián mình với triều đình[32], Hiến Tông do thấy chiến dịch chống Vương Thừa Tông không có kết quả nên đồng ý công nhận Thừa Tông làm lưu hậu.

Sau chiến dịch này, Tiết độ sứ Nghĩa Vũ[42] Trương Mậu Chiêu hoăng, con là Trương Hiếu Trung lên nắm quyền nhưng sợ triều đình tấn công, bèn dâng biểu trả lại trấn. Hiến Tông cử Nhâm Địch Giản đến Nghĩa Vũ thay thế. Tuy nhiên binh lính ở Nghĩa Vũ lại nổi dậy làm loạn, bắt gian Nhâm Địch Giản. Tuy nhiên về sau một nhóm binh sĩ khác giải thoát cho ông ta. Từ đó trấn Nghĩa Vũ lại thuộc tầm kiểm soát của triều đình.[32]

Phiên trấn quy phục[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 812, Tiết độ sứ Ngụy Bác Điền Quý An hoăng. Con là Tiết độ phó sứ Điền Hoài Gián mới 11 tuổi lên kế tục. Sau đó, binh sĩ ở Ngụy Bác tiến hành binh biến, lật đổ Điền Hoài Gián, đưa Điền Hưng lên nắm quyền. Theo đề nghị của Lý Giáng, Hiến Tông quyết định công nhận Điền Hưng là Tiết độ sứ Ngụy Bác, đổi tên là Điền Hoằng Chính, đồng thời cũng cử Bùi Độ đến Ngụy Bác đem 500.000 tiền thưởng cho quân sĩ để họ không xúi giục Điền Hoằng Chính phản lại triều đình. Từ đó đến sau khi Hiến Tông qua đời, trấn Ngụy Bác quy phục nhà Đường

Cũng năm đó, quân Thổ Phiên kéo sang cướp phá Kính châu. Để phòng chống sự xâm lăng của Thổ Phiên, Hiến Tông quyết định tăng thêm thế lực cho các đội quân Thần Sách ở Kinh Tây, Kinh Bắc. Hoạn quan do ngày càng được tin tưởng đã trở nên lộng quyền hơn, và gây ra nhiều cuộc đảo chính trong cung đình về sau. Quan lại nhà Đường cũng cho xây Nguyệt Thành ở Sóc Phương để phòng bị Thổ Phiên cướp phá, từ đó Sóc Phương được bảo vệ vững chắc.

Năm 814, Ngô Thiếu Dương hoăng, con là Ngô Nguyên Tế được lên kế tập, Hiến Tông không đồng ý công nhận. Do đó sang năm 815, Ngô Nguyên Tế đem quân tấn công các trấn khác để gây áp lực lên triều đình. Hiến Tông lệnh tước quan chức của Nguyên Tế rồi cử binh thảo phạt. Hai tiết độ sứ Lý Sư ĐạoVương Thừa Tông dâng biểu xin Hiến Tông tha tội cho Ngô Nguyên Tế nhưng ông không theo. Quân triều đình được Điền Hoằng Chính hỗ trợ, giành lợi thế trước quân Hoài Tây. Lý Sư Đạo bèn cử 2000 quân đến Thọ Xuân bề ngoài là hỗ trợ quân triều đình nhưng bên trong ngầm giúp Ngô Nguyên Tế. Đồng thời, Sư Đạo sai sát thủ đến cướp phá các đoàn chuyển vận lương thực dùng trong quân đội của nhà Đường. Sau đó thấy tình hình chiến sự bất lợi, Lý Sư Đạo lập kế ám sát tể tướng Võ Nguyên HoànhBùi Độ, người chủ ý tiêu diệt phiên trấn rồi lại dâng biểu xin vua bãi binh. Cuối cùng Võ Nguyên Hoành bị giết nhưng Bùi Độ may mắn thoát được. Hiến Tông bị kinh động một phen, cũng hạ lệnh các tể tướng khi vào triều đều được phép đem theo kị sĩ bảo vệ, nhưng các đại thần vẫn lo sợ. Hiến Tông lại nghi ngờ Vương Thừa Tông chủ mưu việc này nên quyết định thảo cả phạt Thành Đức, đồng thời cũng quyết định cho Bùi Độ làm tể tướng. Về sau Hiến Tông mới biết chủ mưu thực sự là Lý Sư Đạo, nhưng do đã cử binh thảo phạt Thành Đức và Hoài Tây nên ông không còn binh mã trong tay để chống Lý Sư Đạo[36] .

Ở mặt trận Thành Đức và Hoài Tây, quân Đường có thắng nhiều trận nhưng không thể giành được ưu thế hoàn toàn và không thể trừ dứt được hai trấn. Đến năm 817, thấy việc thảo phạt các trấn đã lâu không giành thắng lợi, Hiến Tông theo đề nghị của Lý Phùng Cát, chỉ tập trung đánh vào Hoài Tây trước rồi sau mới đánh các trấn khác. Bùi Độ thỉnh cầu ra trận đốc chiến, Hiến Tông chuẩn y. Cuối năm 817, Tiết độ sứ Đường Tùy Đặng[43]Lý Tố hợp quân với triều đình tấn công bất ngờ vào lực lượng của Ngô Nguyên Tế ở Thái châu. Nguyên Tế bị bắt và bị đưa về Trường an hành quyết[44].

Thấy Ngô Nguyên Tế bị diệt, Vương Thừa TôngLý Sư Đạo cực kì sợ hãi. Sang năm 818, Vương Thừa Tông để nghị gửi con mình đến Trường An làm con tin, cắt đất hai châu Đức Lệ quy về triều đình. Hiến Tông ra lệnh xá tội cho Vương Thừa Tông. Lý Sư Đạo cũng hứa cắt đất ba châu Nghi, Mật, Hải và gửi con tin nhưng sau đó Sư Đạo nuốt lời hứa. Do vậy Hiến Tông cử quân thảo phạt trấn Bình Lư. Lý Quang Nhan được bố trí ở Nghĩa Thành để chuẩn bị thảo phạt. Chiến sự nổ ra quyết liệt, quân Đường giành thắng lợi rất nhiều trận. Đến năm 819, Lý Sư Đạo nghi ngờ tướng dưới quyền là Lưu Ngộ, âm mưu giết đi. Lưu Ngộ biết được, bèn quyết định phản lại Lý Sư Đạo, bất ngờ đưa quân tấn công Sư Đạo ở Vận châu và giết Sư Đạo cùng con trai ông ta, gửi đầu về Trường An. Sau thất bại của Lý Sư Đạo, Hiến Tông chia nhỏ trấn Bình Lư làm ba phần để dễ dàng khống chế, Lưu Ngộ được phong làm Tiết độ sứ Nghĩa Thành[45][8] .Nạn phiên trấn tạm thời được dẹp yên.

Lạm dụng thuốc tiên, bất đắc kì tử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi dẹp được phiên trấn, Hiến Tông sinh ra dâm dật kiêu căng và xa xỉ. Các đại thần Hoàng Phủ BácTrình Dị hiểu điều đó nên tăng tiền trong ngân khố vào việc chi tiêu trong cung, do đó được Hiến Tông sủng tín. Hoàng Phủ BácTrình Dị được thăng dần đến tể tướng. Các tể tướng khác như Bùi Độ, Thôi Quần nhiều lần can ngăn, công không nghe. Bùi Độ chán nản muốn từ quan nhưng lại không được. Sau đó Hiến Tông nghe lời Bác và Dị, đuổi hai vị tể tướng khỏi kinh đô Trường An[46].

Hiến Tông lại tin vào thần tiên ma thuật và mong được trường sinh bất lão, bèn hạ chiếu triệu tập phương sĩ trong thiên hạ đến Trường An luyện đan cho mình. Hoàng Phủ Bác tiến cử yêu đạo Liễu Bí. Hiến Tông bố trí cho Liễu Bí ở Hưng Đường cung để luyện đan.

Đầu năm 819, do tin lời đồn có cốt Phật ở một ngôi chùa tại Phụng Thiên[47], Hiến Tông sai rước hộp xương cốt về và bảo các đại thần phải quỳ lạy và quyên tiền đóng góp cho việc xây đền thờ cho hộp xương cốt đó. Đại thần Hàn Dũ lên tiếng can ngăn, Hiến Tông cả giận, hạ lệnh đem Hàn Dũ ra xử tử. Tể tướng Bùi ĐộThôi Quần hết sức kêu xin, Hiến Tông mới tha cho nhưng giáng Hàn Dũ làm Thứ sử Triều Châu[48][49]. Cùng năm, Hiến Tông theo thỉnh cầu của quần thần, xưng tôn hiệu Nguyên Hòa Thánh Văn Thần Vũ Pháp Thiên Ứng Đạo hoàng đế.

Do lạm dụng quá nhiều đơn dược của Liễu Bí, nên hay khát nước và tính tình trở nên khắc nghiệt, các hoạn quan bị ông đối xử tàn bạo, cho dù chỉ phạm lỗi nhỏ cũng có thể bị giết, nên đó hoạn quan rất bất an. Ngày Canh Tí (14 tháng 2 năm 820), Hiến Tông bạo băng tại Trung Hòa điện[50]. Nguyên nhân cái chết của ông được cho là do hoạn quan Trần Hoằng Chí (陳弘志) hạ độc.

Tả trung úy Thổ Đột Thừa Thôi âm mưu phế thái tử Hằng để lập Lễ vương Uẩn lên ngôi. Các hoạn quan Mã Tiến Đàm, Lưu Thừa Giai, Vương Thủ Trừng hợp sức đánh bại Thừa Thôi và giết Lễ vương Uẩn. Ngày Bính Ngọ (20 tháng 2), thái tử Hằng tức vị, tức là Đường Mục Tông.[8] . Về sau năm 846, con trai thứ 10 của Hiến Tông là Lý Thầm lên ngôi (Đường Tuyên Tông). Tuyên Tông nghi ngờ cái chết của Hiến Tông có sự nhúng tay của Quách quý phi cùng Mục Tông, nhưng không có bằng chứng xác thực để chứng minh[51].

Ông được dâng thụy hiệuThánh Thần Chương Vũ Hiếu hoàng đế (聖神章武孝皇帝), an táng tại Cảnh lăng (景陵). Năm Đại Trung thứ 3 (849), ông được cải thụy hiệu đầy đủ là Chiêu Văn Chương Vũ Đại Thánh Chí Thần Hiếu hoàng đế (昭文章武大聖至神孝皇帝).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Ý An hoàng hậu Quách thị (懿安皇后郭氏, ? - 851), là cháu gái danh thần Quách Tử Nghi, con gái Phò mã Quách Ái (郭曖) và Thăng Bình công chúa (昇平公主) - con gái của Đường Đại Tông. So với Hiến Tông, bà thuộc vai vế là biểu cô (表姑). Tuy được cưới làm chính thê nhưng khi đăng cơ, Đường Hiến Tông chỉ phong bà làm Quý phi, do lo sợ gia thế của bà. Sinh hạ Đường Mục Tông Lý Hằng và Kỳ Dương Trang Thục công chúa.
  2. Hiếu Minh hoàng hậu Trịnh thị (孝明皇后鄭氏, ? - 865), người Đan Dương, vốn là thiếp của Trấn Hải Tiết độ sứLý Kĩ (李錡). Sinh hạ Đường Tuyên Tông Lý Thầm.
  3. Vương Hiền phi (王贤妃).
  4. Hà Chiêu nghi (何昭仪).
  5. Hứa Thái nghi (许太仪).
  6. Mạnh Tiệp dư (孟婕妤).
  7. Kỷ Mỹ nhân (紀美人).
  8. Quách Tài nhân (郭才人).
  9. Triệu Cung nhân (赵宫人).
  10. Đỗ Cung nhân (杜宫人).
  11. Đỗ Thu Nương (杜秋娘), hay Đỗ Trọng Dương (杜仲阳), là thiếp của Lý Kĩ, sau khi Lý Kĩ chết thì bị nạp vào cung.
  • Hoàng tử:
  1. Bình Nguyên quận vương → Đặng vương → Hoàng thái tử → Huệ Chiêu Thái tử Lý Ninh [惠昭太子李寧; 793 - 812], mẹ Kỉ mỹ nhân.
  2. Đồng An quận vương → Lễ vương Lý Uẩn [澧王李恽; ? - 820], bổn danh Lý Khoan (李寬).
  3. Toại vương → Đường Mục Tông Lý Hằng, mẹ Ý An hoàng hậu.
  4. Bành Thành quận vương → Thâm vương Lý Tông [深王李悰], bổn danh Lý Sát (李察).
  5. Cao Mật quận vương → Dương vương Lý Hãn [洋王李忻; 801 - 828], bổn danh Lý Hoàn (李寰).
  6. Văn An quận vương → Giáng vương Lý Ngộ [絳王李悟; ? - 827], bổn danh Lý Liêu (李寮).
  7. Kiến vương Lý Khác [建王李恪; 805 - 821], bổn danh Lý Thẩm (李審).
  8. Phu vương Lý Cảnh [鄜王李憬].
  9. Quỳnh vương Lý Duyệt [琼王李悦].
  10. Miện vương Lý Tuân [沔王李恂], mẹ Đỗ cung nhân.
  11. Vụ vương Lý Dịch [婺王李怿].
  12. Mậu vương Lý Âm [茂王李愔], mẹ Triệu cung nhân.
  13. Quang vương → Đường Tuyên Tông Lý Thầm, mẹ Hiếu Minh hoàng hậu.
  14. Truy vương Lý Hiệp [淄王李恊].
  15. Hành vương Lý Đản [衡王李憺].
  16. Thiền vương Lý Sung [澶王李㤝].
  17. Lệ vương Lý Chúy [棣王李惴].
  18. Bành vương Lý Dịch [彭王李惕].
  19. Tín vương Lý Đản [信王李憻].
  20. Vinh vương Lý Trách [荣王李㥽].
  1. Lương Quốc Huệ Khang công chúa (梁国惠康公主), ban đầu là Phổ Ninh công chúa (普宁公主), lấy Vu Quý Hữu (于季友).
  2. Vĩnh Gia công chúa (永嘉公主), xuất gia làm đạo sĩ.
  3. Hành Dương công chúa (衡阳公主), chết non.
  4. Tuyên Thành công chúa (宣城公主), lấy Thẩm Nghĩ (沈礒).
  5. Trịnh Quốc Ôn Nghi công chúa (郑国温仪公主), ban đầu là Phàn Dương công chúa (汾阳公主), lấy Vi Nhượng (韦让).
  6. Kỳ Dương Trang Thục công chúa (岐阳庄淑公主), mẹ là Ý An hoàng hậu, lấy Đỗ Tông (杜悰).
  7. Trần Lưu công chúa (陈留公主), lấy Bùi Tổn (裴损).
  8. Chân Ninh công chúa (真宁公主), lấy Tiết Hồng (薛翃).
  9. Nam Khang công chúa (南康公主), lấy Thẩm Phần (沈汾), mất khoảng năm Hàm Thông.
  10. Lâm Chân công chúa (临真公主), ban đầu là Tương Thành công chúa (襄城公主), lấy Vệ Chu (卫洙), mất khoảng năm Hàm Thông.
  11. Phổ Khang công chúa (普康公主), chết non.
  12. Chân Nguyên công chúa (真源公主), ban đầu là An Lăng công chúa (安陵公主), lấy Đỗ Trung Lập (杜中立).
  13. Vĩnh Thuận công chúa (永顺公主), lấy Lưu Hoằng Cảnh (刘弘景).
  14. An Bình công chúa (安平公主), mẹ là Hiếu Minh hoàng hậu, lấy Lưu Dị (刘异), mất khoảng năm Càn Phù.
  15. Vĩnh An công chúa (永安公主), xuất gia làm đạo sĩ.
  16. Nghĩa Ninh công chúa (义宁公主), chết non.
  17. Định An công chúa (定安公主), ban đầu là Thái Hòa công chúa (太和公主), lấy Sùng Đức Khả hãn (崇德可汗) của Hồi Cốt, phong Khả đôn (可敦). Sau Hồi Hột bị bạo loạn, công chúa trên đường về Đại Đường thì bị Ô Giới Khả hãn (乌介可汗) cướp mất. Năm 843, Đường Vũ Tông phái quân cướp công chúa về.
  18. Quý Hương công chúa (贵乡公主), chết non.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ www.sinica.edu.tw
  2. ^ a ă â b c d Tư trị thông giám, quyển 236.
  3. ^ a ă www.sinica.edu.tw
  4. ^ đổi năm 805
  5. ^ www.sinica.edu.tw
  6. ^ a ă â b c d đ Tư trị thông giám, quyển 237.
  7. ^ www.sinica.edu.tw
  8. ^ a ă â b Tư trị thông giám, quyển 241.
  9. ^ Đường thư, quyển 14.
  10. ^ Do trước đó có Đường Trung TôngĐường Duệ Tông trị vì hai lần không liên tục
  11. ^ Hàm Đan, Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay
  12. ^ Tư trị thông giám, quyển 227
  13. ^ a ă â b c Cựu Đường thư, quyển 14.
  14. ^ Cựu Đường thư, quyển 52
  15. ^ Tư trị thông giám, quyển 234
  16. ^ Cựu Đường thư, quyển 13
  17. ^ Cựu Đường thư, quyển 135
  18. ^ http://www.sinica.edu.tw/ftms-bin/kiwi1/luso.sh?lstype=2&dyna=%AD%F0&king=%BE%CB%A9v&reign=%A4%B8%A9M&yy=15&ycanzi=&mm=1&dd=&dcanzi=%A9%B0%A4l
  19. ^ Bảo Kê, Thiểm Tây, Trung Quốc hiện nay
  20. ^ Hàm Đan, Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay
  21. ^ Trụ sở thuộc Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc hiện nay
  22. ^ Miên Dương, Tứ Xuyên hiện nay
  23. ^ Trụ sở thuộc Hán Trung, Thiểm Tây hiện nay
  24. ^ Diêm An, Thiểm Tây, Trung Quốc hiện nay
  25. ^ Trấn Giang, Giang Tô, Trung Quốc hiện nay
  26. ^ Tương Phàn, Hồ Bắc, Trung Quốc hiện nay
  27. ^ 中国人史纲, quyển 2, trang 568 - 571
  28. ^ Ngân Xuyên, Ninh Hạ, Trung Quốc hiện nay
  29. ^ Trụ sở nay thuộc Hà Đông, Thái Nguyên, Sơn Tây
  30. ^ 中国人史纲, quyển 2, trang 574
  31. ^ 中国人史纲, quyển 2, trang 592 - 603
  32. ^ a ă â b Tư trị thông giám, quyển 238.
  33. ^ Tân Đường thư, quyển 82
  34. ^ Cựu Đường thư, quyển 175
  35. ^ Cựu Đường thư, quyển 16
  36. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 239.
  37. ^ Cựu Đường thư, quyển 148
  38. ^ Cựu Đường thư, quyển 52
  39. ^ Trụ sở nay thuộc Thạch Gia Trang, Hà Bắc, Trung Quốc
  40. ^ Trú Mã Điếm, Hà Nam hiện nay
  41. ^ Sơn Tây, Trung Quốc hiện nay
  42. ^ Trụ sở nay thuộc Bảo Định, Hà Bắc, Trung Quốc
  43. ^ Trú Mã Điếm, Hà Nam, Trung Quốc hiện nay
  44. ^ Tư trị thông giám, quyển 240
  45. ^ An Dương, Hà Nam, Trung Quốc hiện nay
  46. ^ Tư trị thông giám, quyển 240
  47. ^ Bảo Kê, Thiểm Tây, Trung Quốc ngày nay
  48. ^ Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc hiện nay
  49. ^ Cựu Đường thư, quyển 160
  50. ^ Cựu Đường thư, quyển 15
  51. ^ Tư trị thông giám, quyển 248
  52. ^ 《新唐书·诸帝公主列传》