Thục tần họ Thôi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dực Tường Cung
毓祥宮
Nội mệnh phụ Triều Tiên
Thông tin chung
Phu quân Triều Tiên Túc Tông
Hậu duệ Triều Tiên Anh Tổ
Tên đầy đủ Thôi thị (崔氏)
Tước hiệu Thục viên (淑媛)
Thục nghi (淑儀)
Quý nhân (貴人)
Thục tần (淑嬪)
Thụy hiệu Hòa Kính Huy Đức An Thuần Tuy Phúc Thục tần
和敬徽德安純綏福淑嬪
Miếu hiệu Dục Tường Cung (毓祥宮)
Tên ngai Thủy tứ
Thục viên
Thục nghi
Quý nhân
Thục tần
Hoàng tộc Nhà Triều Tiên
Thân phụ Tặng Lãnh nghị chánh Thôi Hiếu Nguyên (崔孝元)
Thân mẫu Trinh Kính phu nhân Hồng thị (洪氏)
Sinh 6 tháng 11, năm 1670
Tư đệ ở phường Dư Khánh (餘慶坊私第)
Mất 9 tháng 3, 1718 (47 tuổi)
Tư đệ ở Chương Nghĩa đồng (彰義洞私第)
An táng Chiêu Ninh viên (昭寧園), tỉnh Gyeonggi
Thục tần họ Thôi
Hangul 숙빈 최씨
Hanja 淑嬪崔氏
Romaja quốc ngữ Sukbin Choessi
McCune–Reischauer Sukbin Choessi

Thục Tần Thôi thị (chữ Hán: 淑嬪崔氏; Hangul: 숙빈최씨; 6 tháng 11, 1670 - 9 tháng 3, 1718), còn gọi là Dực Tường Cung (毓祥宮), là một Hậu cung tần ngự trong Nội mệnh phụ của Triều Tiên Túc Tông, mẹ đẻ của Triều Tiên Anh Tổ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thục tần Thôi thị không rõ tên thật là gì, sinh vào ngày 6 tháng 11 âm lịch, năm Triều Tiên Hiển Tông thứ 11. Bà người Hải Châu, là thứ nữ của Tặng Lĩnh Nghị chính Thôi Hiếu Nguyên (崔孝元; 최효원, 1638 – 1672) và Trinh Kính phu nhân Hồng thị ở Nam Dương (贈貞敬夫人南陽洪氏; 1639 – 1673). Ông nội của bà là Thôi Thái Dật (崔泰逸, 최태일), còn cụ nội tên là Thôi Mạt Trinh (崔末貞, 최말정). Mẹ bà là con gái của Hồng Kế Nam (洪繼南, 홍계남). Ngoài ra bà có một em trai và một chị gái. Khi còn nhỏ, cha mẹ bà đều qua đời.

Năm 1677, khi được 7 tuổi thì bà nhập cung làm Thuỷ tứ[1] cho Nhân Hiển Vương hậu Mẫn thị, khi đó đang là Vương phi.

Hậu cung tần ngự[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1688, Chiêu nghi Trương Ngọc Trinh, một Hậu cung được hậu thuẫn bởi phái Nam Nhân, sinh hạ Vương trưởng tử Lý Quân. Túc Tông muốn tấn phong Trương Chiêu nghi lên hàng Tần (嬪)[2] và lập Vương trưởng tử làm Vương thế tử. Sự phản đối quyết liệt của những quan lại thuộc phái Tây Nhân khiến Túc Tông vô cùng tức giận và tiến hành Hoán cục, đó gọi là Kỷ Tị hoán cục (己巳換局), loại bỏ phái Tây Nhân ra khỏi Nội các.

Năm 1689, ngày 4 tháng 5, Vương phi Mẫn thị bị phế truất, Hy tần họ Trương được lập làm Vương phi. Một lần, vào ngày sinh nhật của Phế phi Mẫn thị, cung nữ Thôi thị bí mật cầu phúc cho Phế phi tại phòng của mình. Túc Tông đi qua nghe được, thấy rất cảm động và sủng hạnh bà. Sau lần sủng hạnh, bà bị Kế phi Trương thị ám hại, nhưng do Túc Tông che chở mà bà vẫn không bị hại. Dưới sự hậu thuẫn của Túc Tông, bà được lập làm Thục viên (淑媛)[3], đồng thời được ban Bảo Khánh đường (寶慶堂) tại Xương Đức cung làm tẩm cung. Vì lời nói động viên của bà, Túc Tông dần dần nghĩ đến Phế phi Mẫn thị và có ý khôi phục tước vị của Phế phi.

Năm 1693, tháng 10, Thục viên Thôi thị sinh hạ Vương tử Vĩnh Thọ (永壽), nhưng 2 ngày sau thì chết yểu. Sang năm 1694, ngày 1 tháng 6, Phế phi Mẫn thị được phục vị, Trương Vương phi bị phế vị trở lại tước Hy tần (禧嬪). Ngày 13 tháng 9, cùng năm đó bà sinh hạ Vương tử Lý Khâm (李昑), tức Triều Tiên Anh Tổ về sau. Khi ấy, Anh Tổ được phong tước Diên Nhưng quân (延礽君). Năm đó, bà được tấn phong làm Thục nghi (淑儀)[4]. Về sau bà sinh hạ 1 vương tử nữa nhưng cũng bị chết yểu.

Năm 1695, vào dịp sinh nhật Diên Nhưng quân, bà được nâng lên hàng Quý nhân (貴人)[5]. Năm 1699, để kỉ niệm việc Triều Tiên Đoạn Tông phục vị, bà lại được tấn phong lên hàng Thục tần (淑嬪)[2], ngang hàng với Trương Hy tần.

Năm 1701, Vương phi Mẫn thị qua đời một cách đột ngột, có thuyết cho rằng do bị bệnh mãn tính từ những ngày bị lưu đày. Nhà vua ban thụy hiệu cho Vương phi là "Nhân Hiển Vương hậu" (仁顯王后). Căn cứ Túc Tông thực lục (肅宗實錄) và Đan Nham mạn lục (丹巖漫錄) của Mẫn Trấn Viễn (閔鎮遠), Thôi Thục tần đã tố cáo với Túc Tông rằng Trương Hy tần đã dùng Thuật vu cổ (巫蠱之術) để ám hại Vương phi Mẫn thị. Ngày 10 tháng 10, năm đó, Trương Hy tần bị xử tử bằng độc dược, thọ 42 tuổi. Sau khi chết, Hy tần Trương thị vẫn được giữ nguyên tước hiệu nhằm đảm bảo địa vị của Thế tử Lý Quân.

Năm 1702, Túc Tông sắc phong Khánh Châu Kim thị làm Kế phi, ra chiếu chỉ cấm các Hậu cung từ nay về sau không được lên làm Vương phi nhằm ngăn chặn những âm mưu của các Cung tần nhằm đoạt ngôi Trung điện, đồng thời ban chỉ Thế tử Lý Quân nhận Kế phi Kim thị làm dưỡng mẫu. Năm 1703, con trai của Thục tần Thôi thị là Diên Nhưng quân được Kế phi Kim thị yêu mến và nhận làm dưỡng tử. Kế phi về sau đóng vai trò quan trọng trong việc Diên Nhưng quân trở thành Vương thế đệ, cũng như bảo vệ ông trước tình hình chính trị hỗn loạn dưới triều Cảnh Tông.

Cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1704, Diên Nhưng Quân thành thân với Đạt Thành quận phu nhân Từ thịĐạt Thành. Túc Tông tổ chức hôn lễ cho Vương tử vô cùng xa hoa khiến nhiều triều thần dị nghị. Cùng năm, Thục tần được Túc Tông ban tặng Lê Hiện cung (梨峴宮, 이현궁), một hành cung nghỉ dưỡng mùa đông ở ngoại ô Hán Thành.

Năm 1716, Thục tần Thôi thị lâm bệnh nặng và được phép rời khỏi Xương Đức cung, bà chuyển về Lê Hiện cung sinh sống. Năm 1718, vào ngày 9 tháng 3, Thục tần Thôi thị qua đời tử tư đệ, hưởng thọ 48 tuổi, được chôn cất tại Chiêu Ninh viên (昭寧園) ở Pha Châu.

Năm 1724, Anh Tổ đại vương kế vị. Để tận hiếu với mẫu thân, Anh Tổ đã khắc trên bia mộ những câu chuyện chính ông viết về bà qua ký ức và đặt bốn trụ đá đặt ở bốn góc mộ, đồng thời xây dựng Dục Khánh miếu trong Xương Đức cung để thờ phụng bà.

Năm 1725, ông truy tặng cho mẫu thân thụy hiệu Huy Đức (徽德). Năm 1744, ông tiếp tục truy tôn cho Thục tần làm Hòa Kính Huy Đức An Thuần Tuy Phúc Thục tần (和敬徽德安純綏福淑嬪) và truy tặng cho bà miếu hiệu Dục Tường Cung (毓祥宮).

Trong văn hoá đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thuỷ tứ (musuri): là tên chỉ các cung nữ làm việc lao động chân tay dưới thời Cao Lynhà Triều Tiên
  2. ^ a ă Chính nhất phẩm trong Nội mệnh phụ
  3. ^ Tòng tứ phẩm trong Nội mệnh phụ
  4. ^ Tòng nhị phẩm trong Nội mệnh phụ
  5. ^ Tòng nhất phẩm trong Nội mệnh phụ