Ngô Thị Ngọc Dao

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quang Thục thái hậu
光淑太后
Hoàng thái hậu Đại Việt
Tại vị 1460 - 1496
Tiền nhiệm Tuyên Từ hoàng thái hậu
Kế nhiệm Huy Gia hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phu quân Lê Thái Tông
Hậu duệ Lê Thánh Tông
Thao Quốc Trưởng công chúa
Tên đầy đủ Ngô Dao (吳瑤)
Tước hiệu Tiệp dư
Sung viên
Hoàng thái hậu
Tước vị Thánh mẫu Hoàng thái hậu
Thụy hiệu Quang Thục Trinh Huệ Khiêm Tiết Hòa Xung Nhân Thánh hoàng thái hậu
(光淑禎惠謙節和沖仁聖皇太后)
Hoàng tộc Nhà Lê sơ
Thân phụ Ngô Từ
Thân mẫu Đinh Thị Ngọc Kế
Sinh 1421
Thanh Hóa
Mất 26 tháng 2, 1496 (74–75 tuổi)[1]
Thừa Hoa điện, Đông Kinh[2]
An táng Hựu lăng

Ngô Thị Ngọc Dao (chữ Hán: 吳氏玉瑤; 1421 - 26 tháng 2, 1496), còn gọi là Quang Thục thái hậu (光淑太后) hay Thái Tông Ngô hoàng hậu (太宗吳皇后)[3], là một phi tần của Lê Thái Tông, mẹ đẻ của Lê Thánh Tông của triều đại nhà Hậu Lê.

Ngô Thái hậu là người đã hết lòng cùng con chăm lo sự nghiệp đế vương, là một trong những chỗ dựa tin cậy của Lê Thánh Tông. Đại Việt sử ký toàn thư ghi rõ rằng, chính bà là người đã không quản đường sá dặm dài, cùng Lê Thánh Tông tiến hành cuộc tấn công vào đất Chiêm Thành, cuối năm 1470, đầu năm 1471[4].

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Quang Thục hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa (nay là xã Định Hoà, huyện Yên Đinh, tỉnh Thanh Hóa). Có nguồn cho rằng quê bà ở làng Thịnh Mỹ (làng Mía), nay thuộc xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa[5].

Cụ cao tổ là Ngô Lỗ, một dòng họ lớn thời Trần, cụ bà là Đinh Thị Quỳnh Khôi, được ban tước Á Quận chúa, Đại hoàng bà cung Bảo Từ[6]. Cụ tằng tổ là Ngô Tây, được tặng Kiến Tường hầu, cụ bà là Đinh Thị Ngọc Luân, tặng Kiến Tường quận phu nhân. Ông nội bà là Ngô Kinh, gia nô của Lê Khoáng và sau đó là Lê Lợi, mất trước khởi nghĩa Lam Sơn, sau được truy Thái phó, tước Hưng quốc công; cụ bà là Đinh Thị Mại được tặng Hưng Quốc phu nhân.

Cha bà là Ngô Từ, là gia nô của Lê Lợi, giữ vai trò cung cấp quân lương trong những ngày đầu khởi nghĩa Lam Sơn, khai quốc công thần nhà Hậu Lê. Sau được tặng Tuyên phủ sứ Thái từ Thiếu bảo Quan nội hầu, được tặng Chương Khánh công, gia tặng Ý Quốc công; mẹ bà là Đinh Thị Ngọc Kế, được tặng Ý Quốc thái phu nhân. Bà ngoại họ Trần, húy là Ngọc Huy, là hậu duệ của một nhân vật nổi tiếng triều Trần là Tá Thánh Thái sư Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật.

Bà từ nhỏ mồ côi mẹ, được bà ngoại nuôi. Có lần gặp một người lạ nói rằng: “Cô bé này sẽ đáng làm mẫu nghi thiên hạ”. Nói xong người ấy biến mất. Đó là điềm tốt. Chị ruột của Hoàng thái hậu là Ngọc Xuân được vào hầu Lê Thái Tổ là nơi vinh hiển, tiếng thơm lây sang từ đó[7].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thiệu Bình thứ 3 (1436), Ngô thị được 14 tuổi, con nhà lương thiện được tuyển vào cung. Lời nói thành giáo huấn, nết na hợp khuôn phép. Đối bậc trên đúng lễ độ, tiếp kẻ dưới có ân tình, được Lê Thái Tông rất mến yêu. Năm Đại Bảo thứ nhất (1440), bà được phong Tiệp dư, ngự ở cung Khánh Phương. Tuy nhiên, theo văn bia mộ của bà[6], khi được sách phong làm Tiệp dư, theo lễ được phép ở hẳn tại cung Khánh Phương nhưng bà cho rằng cung này Lê chiêu nghi[8] đang ở nên không nỡ chiếm lấy mà cố từ chối, khiến cho Thái Tông và cận thần rất nể phục.

Trước đây, Lê Thái Tông đã có 2 bà phi là Nguyên phi Lê Ngọc Dao, con gái của Đại tư đồ Lê Sát, và Huệ phi Lê Nhật Lệ, con gái của Tư khấu Lê Ngân. Khi Lê Sát và Lê Ngân bị xử chết năm 1437, hai người bị phế. Lê Ngọc Dao xuống làm dân thường còn Lê Nhật Lệ xuống làm Tu dung. Sau đó Thái Tông sủng ái bà Dương Thị Bí và sinh ra con trưởng là Lê Nghi Dân vào năm 1439.

Khoảng năm 1440, Thái Tông bắt đầu sủng ái Nguyễn Thần phi và lấy cớ Dương phi kiêu ngạo nên truất làm Chiêu nghi. Năm sau, một người con trai thứ hai là Lê Khắc Xương ra đời, nhưng mẹ là Bùi Quý nhân không được yêu mến. Cùng năm đó Nguyễn Thị Anh sinh được Lê Bang Cơ, liền truất Lê Nghi Dân, con của Dương chiêu nghi, khi ấy mới 2 tuổi, làm Lạng Sơn vương và lập Bang Cơ làm Thái tử kế nhiệm.

Năm Đại Bảo thứ 3 (1442), ngày 20 tháng 7 âm lịch, Ngô tiệp dư sinh hạ người con trai Lê Tư Thành. Ngô Tiệp dư mới sinh vài tháng thì Lê Thái Tông qua đời. Lê Nhân Tông lên ngôi, phong Tư Thành làm Bình Nguyên vương. Nguyễn Thần phi trở thành Hoàng thái hậu, vì Ngô Tiệp dư là mẹ của thân vương, nên đặc cách thăng Sung viên coi việc phụng thờ ở Thái miếu. Ngoài Lê Tư Thành, văn bia cho biết bà còn sinh ra Thao Quốc Trưởng công chúa, công chúa thứ năm của Lê Thái Tông. Trong văn bia Sơn Lăng[7] lại ghi phong hiệu của công chúa là Diệu Quốc trưởng công chúa.

Năm Diên Ninh thứ 6 (1459), vào tháng 10 âm lịch, mùa đông, Lê Nghi Dân gây biến. Hoàng thái hậu và Nhân Tông Tuyên hoàng đế bị giết hại. Lê Tư Thành được cải phong làm Gia vương, Ngô sung viên vẫn sống bình yên cùng con trai trong cung.

Năm Thiên Hưng thứ 2 (1460), các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm, Nguyễn Đức Trung làm binh biến giết chết Lê Nghi Dân và đưa Gia vương lên ngôi, tức Lê Thánh Tông. Lê Thánh Tông tôn mẹ làm Thánh mẫu Hoàng thái hậu, ở điện Thừa Hoa.

Bà thường về ở Đông Triều, ăn chay niệm phật thanh đạm, sáng suốt, khỏe mạnh sống lâu rất là vui vẻ, lấy kiệm cần mà răn dạy người đời, lấy nhân hậu mà nhắc nhủ vua.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hồng Đức thứ 27 (1496), ngày 26 tháng 2, Thái hậu qua đời, thọ 75 tuổi. Sau khi bái yến Lam Kinh, bà bị bệnh nặng rồi mất tại điện Thừa Hoa. Lê Thánh Tông đau buồn, truy tôn bà làm Quang Thục hoàng thái hậu. Về sau, thụy hiệu của bà đầy đủ là Quang Thục Trinh Huệ Khiêm Tiết Hòa Xung Nhân Thánh hoàng thái hậu (光淑禎惠謙節和沖仁聖皇太后).

Lúc Hoàng thái hậu mới bị mệt nặng, Lê Thánh Tông và Thái tử Lê Tranh ngày đêm chầu chực bên giừơng bệnh, thuốc thang cơm nước tự nếm trước. Trong thì cúng tổ tiên, ngoài thì nghe dân chúng cầu khấn các thần không thiếu nơi nào. Khi Thái hậu không cử động được nữa, không mong cầu được, Thánh Tông tự đặt hiệu mà gọi rồi kêu khóc, Hoàng thái hậu vì thế cố mở miệng muốn nói mà không ra tiếng. Việc khâm liệm, phạm hàm đều do Hoàng đế tự làm, viết điếu văn, đặt quan tài ở điện để viếng, định tháng 10 rước về Sơn Lăng, nhưng Thánh Tông hoàng đế cũng băng hà nên chưa làm lễ an táng được.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản KHXH, 1992.
  • Nguyễn Khắc Thuần & Lý Thị Mai, Lần giở trước đèn, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2003.
  • Đại Việt sử ký toàn thư tập 2, Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1985.
  • Lê Quý Đôn toàn tập, tập 3 (Đại Việt thông sử), Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1978, tr. 125-126.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]