Nguyễn Thị Bích Châu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chế Thắng phu nhân
制胜夫人
Trần Duệ Tông phi
Thông tin chung
Phu quân Trần Duệ Tông
Tên đầy đủ Nguyễn Thị Bích Châu (阮氏碧珠)
biểu tự: Bích Lưu (碧琉)
Hoàng tộc nhà Trần
Thân phụ Nguyễn Tướng Công
Sinh 1356 (?)
Nam Ðịnh
Mất 1377
Quy Nhơn
An táng Cửa Khẩu, bến Kỳ La, huyện Kỳ Hoa thuộc Châu Hoan

Chế Thắng phu nhân (chữ Hán: 制胜夫人), còn gọi Bà Bích Châu (婆碧珠) hay Cung phi Bích Châu (宮妃碧珠), là một nhân vật truyền thuyết Việt Nam, tương truyền là một phi tần rất được sủng ái của Trần Duệ Tông. Khi Trần Duệ Tông mở chiến dịch vào Chiêm Thành, bà đã đi theo và qua đời do dâng mình cho vị thần biển. Không lâu sau cái chết của bà, Trần Duệ Tông cũng tử trận trong chiến dịch này.

Theo truyền thuyết, bà có nhan sắc và mưu lược, tuy nhiên có kết cục bi thảm khi bị hiến tế cho thần biển. Tính xác thực về hành trạng của bà chung quy vẫn còn là bí ẩn, vì những ghi chép về bà chỉ tồn tại ở những cuốn sách truyền kỳ cũng như thần phả.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sự tồn tại[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII, trong tác phẩm Truyền kỳ tân phả của mình, Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã dành nhiều tâm huyết để viết thiên truyện "Đền thiêng ở Hải Khẩu"; đó là câu chuyện về Cung phi Nguyễn Thị Bích Châu của Trần Duệ Tông, và từ đây chính là bắt nguồn người đời đặt nghi vấn tính tồn tại của Bích Châu.

Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đăng Na trong một công trình nghiên cứu công phu và có nhiều phát hiện về "Truyện ngắn trong sự phát triển của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại", đã đối chiếu các tình tiết trong trục chính của cốt truyện với chính sử Việt Nam - Đại Việt sử ký toàn thư, phần Trần Duệ Tông, Lê Thánh Tông và đi đến một nhận xét rằng: “Mọi chi tiết trong truyện Đền thiêng cửa bể của Đoàn phu nhân đầu thế kỷ XVIII đều “khớp” với lịch sử, chính xác đến từng năm, từng tháng và kể cả thời tiết... của thế kỷ XIV - XV”.

Như vậy, do là nhân vật được sáng tác ở thời sau, nên độ chính xác về thông tin sự kiện hoàn toàn lý giải được. Đến nay, sách vở thời nhà Trần đã mất quá nhiều, nên với cứ liệu trước mắt, sự tồn tại của Bích Châu hoàn toàn có khả năng cao là chỉ từ tác phẩm truyền kỳ, hay ít nhất cũng là những truyền thuyết thêu dệt từ dân gian, từ đó được phong thần, thờ cúng.

Hành trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Cứ theo Truyền kỳ tân phả của bà Đoàn Thị Điểm, một tác phẩm thuộc thể loại truyện truyền kỳ chứ không phải là lịch sử[1], bà quê ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định con gái đại thần Nguyễn Tướng Công, sinh vào khoảng năm Thiệu Phong thứ 15 (1356) dưới thời Trần Dụ Tông. Bà được cha mẹ nâng niu đặt tên Nguyễn Thị Bích Châu (阮氏碧珠), biểu tựBích Lưu (碧琉). Ngụ ý con gái của ông bà quý giá sánh với châu ngọc, lưu ly ở trên đời.

Bà sớm nổi tiếng thông tuệ, hiểu văn chương, biết thi phú, thạo âm luật, lại có dung mạo xinh đẹp, nên rất nổi tiếng trong vùng.

Năm Long Khánh thứ 1 (1373), bà được Trần Duệ Tông tuyển làm cung nhân. Lúc đàn ca, khi ngâm vịnh, bà được Hoàng đế rất đỗi thương yêu, gọi là Nguyễn Cơ (阮姬).

Một hôm, nhân tiết trung thu, bà bày tiệc nhỏ trên gác tía, chung quanh treo đèn lồng sắc trắng chen đủ màu rất đẹp. Duệ Tông tỏ vẻ hài lòng hết ngắm trăng lại ngắm đèn, bỗng Hoàng đế cao hứng ra câu đối:

"Trời thu gác tía treo đèn bạc, quế đỏ trong trăng"

Hàng quan dự tiệc đều buông đũa suy nghĩ. Họ đang mải miết tìm vần thì bà đã chắp tay, cất tiếng:

"Sắc xuân đài trang mở gương báu, phù dung đáy nước"

Hoàng đế đắc ý khen hay và thưởng cho đôi "ngọc long kim nhĩ" (hoa tai vàng cẩn ngọc hình rồng nổi) và nhân đó lại đặt biệt hiệu cho bà là Phù Dung (芙蓉).

Sau một thời gian, bà Bích Châu nhận thấy Hoàng đế tính nóng nảy do dồn hết tâm huyết chinh phạt Chiêm Thành, triều chính đang có nguy cơ rạn nứt suy sụp. Bích Châu đăm chiêu chú tâm soạn thảo bản điều trần dâng Hoàng đế ngự lãm, nhan đề: "Kê minh thập sách" - nêu 10 kế sách trị nước an dân. Đại ý mượn tiếng gà gáy sáng để thức tỉnh Hoàng đế, với những lời tâm huyết được trải ra từng câu, ví như:

Nhất viết, phù quốc bản, hà bạo khứ tắc nhân tâm
Tứ viết - thải nhũng lại dĩ tính dân ngự

Dịch nghĩa:

Điều một - bền gốc nước, trừ kẻ bạo thỉ dân chúng được yên
Điều bốn - đuổi bọn quan lại tham nhũng để bớt vơ vét của dân

Xem xong bản điều trần của Bích Châu, Hoàng đế cảm kích vỗ trán thốt lên:"Không ngờ ái phi lại thông tuệ đến thế? May cho trong cung của trẫm xuất hiện một bậc Từ phi" [2]

Nhưng sau đó, bản điều trần ấy không được Hoàng đế quan tâm đến.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Long Khánh thứ 4 (1376), tháng 5, Chiêm Thành đến cướp Hóa Châu. Tháng 6, Trần Duệ Tông giận dữ xuống chiếu ngự giá thân chinh đi dẹp giặc. Bích Châu bồn chồng lo lắng dâng biểu khuyên can.

Rồi bà lại viết tiếp đoạn ngắn nhắc nhở Hoàng đế: "Việc trị đạo nước trước gốc sau ngọn, xin nghỉ binh cho dân chúng yên hàn. Trị cái rắn nên dùng cái mềm, phục rợ xa cốt lất đức… Đó là thượng sách, xin quan gia xét đoán cho minh."

Bài biểu dâng lên cũng không lay chuyển nổi Hoàng đế. Cung phi Bích Châu buồn lo than thở: "…Nghĩa lớn là vua tôi, ái tình là vợ chồng. Vậy mà không giỏi khuyên can để giữ nền bình trị, không biết khéo lời để ngăn lòng hiếu chiến, như thế ta đã là người vô dụng chăng?"

Biết Hoàng đế nhất định không chịu nghe, bà đành xin đi theo hộ giá.

Thuyết thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Khi quan quân nhà Trần đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn) vua Chiêm là Chế Bồng Nga cho sứ giả đem vàng ngọc tới quan quân ta để trá hàng, nhưng sau đó lại bất ngờ tiến đánh vào lúc nửa đêm. Quân của Trần Duệ Tông bị tấn công bất ngờ, long thể nhà vua lại bất an, Nguyễn Thị Bích Châu cưỡi ngựa tả xung hữu đột cầm quân xung trận và không may bị trúng tên độc sau đó từ trần.

Ba ngày sau vì vết thương quá nặng nhà vua cũng băng hà, quân nhà Trần rút về kinh đô khi tới địa điểm Châu Hoan vì sóng to gió lớn tàu thuyền phải ghé vào vũng Ô Tôn (Vũng Áng). Lúc này Trần Phế Đế mới lên ngôi nghe tin liền xuống chiếu rước linh cữu nhà vua về bằng đường bộ còn linh cữu Thần phi đi bằng đường biển. Sau mấy ngày thời tiết không thuận lợi triều đình xuống chiếu cho an táng Thần phi tại Cửa Khẩu, bến Kỳ La huyện Kỳ Hoa thuộc Châu Hoan.

Thuyết thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Trần buổi xuất binh ngày ấy cờ xí rợp trời, chiêng trống dậy đất, truyền rằng trùng trùng lớp lớp, binh sĩ gươm giáo sáng loáng, hùng khí chất ngất từng mây. Nhưng khi đoàn thuyền chiến vừa đến cửa bể Kỳ Hoa (Kỳ Anh, Nghệ Tĩnh) (nay là Kỳ Lợi, Kỳ Anh, Hà Tĩnh) trời bỗng nổi cơn phong ba bão táp. Đoàn thuyền đành tạm neo ngay lại đấy. Bởi mặt biển thường nổi sóng cao và xoáy lốc, ngay sát bờ đã là dãy vực thẳm đầy đá nhọn, ra càng xa thì vực càng sâu, lòng biển lởm chởm hàng khối đá ngầm.

Binh thuyền phải vất vả thương tổn khá nhiều mới ràng nổi dây neo. Nhưng cơn dông bão vẫn dai dẳng càng lúc càng dữ dội hơn. Đoàn thuyền chiến nhấp nhô đập chúi vào nhau rầm rầm. Nhiều cái bị đứt dây, lao đi vùn vụt đâm vào đá vỡ toang. Quân lính lớp chết, lớp kêu la chới với. Số còn sống ai nấy đều kinh hãi nản lòng. Nhà vua nhất quyết đợi tan cơn bão sẽ tiến binh tiếp.

Đêm ấy, vua Duệ Tông mộng thấy một vị thần xưng là Nam Minh đô đốc, thủ hạ của Quảng Lợi đại vương, muốn xin vua ban cho một người thiếp, nếu được như ý nguyện, mới làm cho bể yên, sóng lặng để thuyền vua đi qua. Vua sợ hãi, vội cho đòi các quan tướng và phi tần đến chỗ ngự tẩm, kể lại giấc mơ. Trong khi các quan tướng chưa biết ứng đối thế nào, thì Bích Châu từ sau trướng bước ra, nói:

"Việc linh ứng của thần nhân như vậy là rõ ràng, chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Tiện thiếp tình nguyện liều tấm thân bèo bọt này để chu toàn cho đoàn ngự giá và quan quân".

Vua Duệ Tông bàng hoàng chưa kịp phán bảo cản ngăn thì bà Bích Châu đã nhanh nhẹn quay ra thuyền lệnh: "… Các quan mau mau sửa soạn lễ vật cúng thần biển, kính báo thời khắc thiếp tôi được nhà vua cử làm sứ giả đi gặp thần biển xin sóng lặng bể yên phù trợ cho vua quan, quân lính nhà Trần được chiến thắng dịp này, đem bình an về cho đất nước".

Bà vừa dứt tiếng thì từ nhà vua đến các quan có mặt quanh đó đều sửng sốt, nghẹn lời… Mặc hết những lời can ngăn, bà Bích Châu vẫn một mực tha thiết tâu xin cho bà có dịp được vinh hạnh phò vua, giúp quân, đền nợ nước. Không làm sao hơn, tất cả đều nén lòng nghe theo ý chí cương quyết của cung phi Bích Châu. Một cung nữ tài sắc, mới kề cận nhà vua được bốn năm, được vua Duệ Tông sủng ái rất mực như vậy mà dám lìa bỏ tất cả, can đảm hy sinh tính mạng thì thật là một việc làm quá phi thường.

Chiếc thuyền rồng chao đảo ngả nghiêng. Bà Bích Châu thản để thị nữ xông trầm, trang điểm cho mình. Thoáng chốc, bà đã trâm thoa, xiêm gấm, hài thêu lộng lẫy bước ra. Trước mắt mọi người lúc này, vẻ đẹp của bà Bích Châu đang tỏa ánh hào quang như một vị thiên thần. Phải, chính đó là một vị ái phi mới 20 tuổi của nhà vua, giai nhân tuyệt sắc ấy đang đứng ở vị thế là một nữ dũng tướng của quan quân triều Trần Duệ Tông.

Vua Duệ Tông xót trút bỏ giáp trụ, thương cảm trong lớp hoàng bào. Ngài trịnh trọng đội mũ Triều thiên[3] để kính cẩn đưa tiễn bà ái phi dũng cảm ra đi. Ngài truy tặng cho bà làm Thần phi (宸妃).

Mặc cho sóng đánh tối tấp, nước tràn lênh láng, bà Bích Châu vẫn tươi tắn đến sụp quỳ lạy nhà vua, cầu chúc nhà vua bình tĩnh và đại thắng, rồi quay về hướng Bắc lạy cha mẹ, vái chào tử biệt hàng quan quân, trang nghiêm đến ngồi gọn vào trong lòng chiếc thuyền thoi nhỏ nhắn có cắm đại hoàng kỳ (cờ nhà vua). Chiếc thuyền được quan quân thòng dây thả từ từ xuống biển, giữa những cơn sóng thần liên tiếp quật nước lên cao. Bà Bích Châu bình tĩnh nắm dây nhắm mắt.

Vừa đụng nước, chiếc thuyền lập tức quay vòng ngụp lặn với sóng cả rồi chìm lỉm mất hút. Đem theo một trái tim rực rỡ ánh châu ngọc lưu ly nhập cõi thuỷ tận.

Hai ngày sau bão mới ngớt, xác phu nhân Bích Châu nổi trên mặt biển, vẫn uy nghi trong bộ triều phục, nhấp nhô theo làn sóng bạc trôi dần vào bờ, được dân làng vớt lên rước đi an táng tại làng Kỳ Hoa. Cũng là lúc mà đoàn thuyền chiến của vua Trần Duệ Tông đã lướt tiến khá xa, chở đầy những bầu máu nóng sẵn sáng lao vào trận tiền với quyết tâm diệt giặc giữ yên bờ cõi, đền bù tâm nguyện của phu nhân Bích Châu trước giờ tử biệt.

Thế nhưng, vì Trần Duệ Tông không nghe lời can gián, vẫn cho quân tiến sâu vào động Y Mang, đất Chiêm, nên bất ngờ bị trúng mưu của giặc Bà Ma, một tướng của Chế Bồng Nga, toàn quân tan rã. Vua tử trận ở Đồ Bàn (Quy Nhơn ngày nay). Sử ghi đó là ngày 23 tháng 1 năm Đinh Tỵ (1377).

Truy phong[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hồng Đức (1471), Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, qua chỗ bà Bích Châu đã trầm mình. Bà hiện lên báo mộng cho vua Lê và xin làm lễ giải thoát. Biết chuyện bà Bích Châu, hôm sau, nhà vua liền viết một tờ hịch hạch tội Nam Minh đô đốc, sai thả xuống biển. Truyền thuyết kể lập tức vị này bị chém chết, xác nổi lên mặt nước.

Sau khi thắng trận trở về, vua hạ chiếu lập đền, cấp ruộng tế và người trông coi, sắc phong cho bà là Chế Thắng, nên đền được gọi là Chế Thắng Phu Nhân. Hàng năm, vào 12 tháng 2 âm lịch là ngày giỗ. Đến nay, tại xã Kỳ Ninh và làng Hải Phong, Kỳ Lợi vẫn còn thờ bà Bích Châu.

Lê Thánh Tông còn làm một bài thơ điếu bà Bích Châu:

Phiên âm
...
Bản thị Hy Lăng[4] cung lý nhân,
Lâm nguy vị quốc độc vong thân.
Yên phong nhất trận đào hao lãng,
Xuân dạ tam canh độ nhược tân.
Hàn thủy vô đoan mai Sở phụ,
Hương hồn hà xứ điếu Tương quân?
Ta hồ, bách vạn hùng binh lữ,
Bất tận thư sinh nhất hịch văn!
Dịch thơ
...
Nàng xưa cung nữ của Hy Lăng,
Vì nước lâm nguy, quyết xả thân.
Một trận gió yêu gây sóng cả,
Hồn nương bến bãi suốt đêm xuân.
Bỗng dưng sông lạnh vùi thân gái,
Biết chốn nào đây viếng nữ thần?
Chán nhỉ, vạn ngàn quân tướng mạnh,
Chẳng bằng tờ hịch gã thư sinh!

Sáu câu đầu Lê Thánh Tông ca tụng đức xả thân cứu nước của bà Bích Châu, hai câu kết có ngụ ý chê Trần Duệ Tông và tự đề cao mình. Có lẽ hương linh của bà Bích Châu không vui, vì chạm vào tình cảm kính trọng chồng. Vì thế, khi Lê Thánh Tông thắng trận, lúc khải hoàn qua đây, bà lại báo mộng, tạ ơn Hoàng đế đã cứu mình, với lời van xin: "Bài thơ nhà vua đề ở Đền lời ý đều hay, duy hai câu kết có ý phẩm bình chuyện cũ, khiến lòng thiếp không được yên!"

Hoàng đế tỉnh dậy, sửa ngay hai câu kết thành: "Cương thường vạn cổ ưng vô quý/ từ hạ thư cưu hý thủy văn". Dịch rằng: "Vạn cổ cương thường lòng chẳng thẹn/ Thư cưu giỡn sóng dưới chân đền".

Ngoài ra, còn một bài thơ trong tập Minh lương cẩm tú, mang tên “Nghỉ lại ở cửa biển Hà Hoa” (Hà Hoa hải môn lữ thứ) cũng đề cập đến bà và ngôi đền. Bài thơ như sau:

Phiên âm
...
Hà Hoa đáo xứ vũ sùng triêu,
Hoàn hải mang nhiên tứ vọng diêu.
Xúc thạch du du vân luyến tụ,
Bài nham húng húng lãng tùy triều.
Thủy Tiên đàm thượng yên hà cổ,
Chế Thắng từ trung thảo mộc kiều.
Túy ỷ song bồng ngâm ý phát,
Thi hoài khách tứ bội vô liêu.
Dịch thơ
...
Mưa mai mù mịt cửa Hà Hoa,
Ngắm biển mênh mang bốn phía xa.
Mây mến đầu non lơ lửng đứng,
Sóng theo con nước rập rờn qua.
Thuỷ Tiên đầm nọ đầy sương ráng,
Chế Thắng đền kia rực cỏ hoa.
Say tựa bên mui càng nảy hứng,
Lòng thơ dạ khách khó khuây khoa.

Bài thơ có một lời nguyên chú ghi được hai mẩu chuyện truyền tụng trong dân gian về Đầm Thủy Tiên và Chế Thắng phu nhân rằng:"Bên trái cửa biển có núi Bàn Độ (Thiên Nam dư hạ chép là Bàn Khánh), dưới chân núi có đầm nước từ các nơi đổ về, dân địa phương thường thấy hai tiên nữ từ trong đầm đi ra, lên núi chơi ở chỗ bàn đá. Chế Thắng là cung nữ của vua Trần Duệ Tông. Nhà vua Nam chinh, tới Kỳ Hoa gặp gió to, thuyền không qua được, nhà vua bèn trai giới bí mật cầu đảo, đặt người cung nữ ấy lên chiếc mâm vàng, để trôi trên mặt nước dâng cho thủy thần. Do có chuyện báo ơn đó, nên thường linh ứng. Người dân bèn lập đền thờ ở bên trái cửa biển. Nay trong Tự điển là Thượng đẳng thần. Vũng dưới gọi là Vũng Nàng (Loan Nương)."

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài Kê minh thập sách có một đoạn dẫn như sau: "Trộm nghĩ, dời củi nâng mái bếp gây nền trị từ khi chưa loạn; dùng dâu ràng cửa tổ, được ở yên cần lo tính lúc nguy. Vì dân tình dễ đắm đuối sự yên vui; mà thế vận khó giữ luôn thời bình trị. Cho nên dâng lời răn chớ chơi bời lười nhác, Cao Dao trước hãy ngợi khen, ở vào thời không máu chảy gươm khua, Giả Nghị vẫn tâu lời than thở. Chỉ vì yêu vua mà ngăn trước, không phải khác chúng để khoe tài. Tiện thiếp tên gọi Bích Châu, lúc nhỏ vốn nhà nghèo khó, lớn lên được tuyển vào cung, ân sủng chứa chan, thương yêu đằm thắm. Vả xiêm áo vua ngu, dám đâu sánh với người nam tử; rút trâm cài Khương hậu, tiến lời can đứng trước đình thần. Mạo muội tỏ bày mười điều vụng nghĩ"

Sau đó là lời 10 bài điều, được ghi như sau.

Phiên âm:

Nhất viết: Phù quốc bản, hà bạo khứ, tắc nhân tâm khả an.
Nhì viết: Thủ cựu qui, phiền nhiễu cách tắc triều cường bất vẩn.
Tam viết: Ức quyền hành dĩ trừ quốc đố.
Tứ viết: Thải nhũng lại, dĩ tính dân ngự.
Ngũ viết: Nguyện chấn nho phong, sử tước hoả dữ nhật nguyện nhị tịnh chiếu.
Lục viết: Nguyện cầu trực gián, hội thành môn dữ ngôn lộ nhi tịnh khai.
Thất viết: Luyện binh đương tiên dũng lực nhi tả thân tài.
Bát viết: Tuyển tướng nghi hậu thế gia, nhi tiên thao lược.
Cửu viết: Khi giới qui kỳ khiên nhuệ, bất tài thi hoa.
Thập viết: Trận pháp giáo dĩ chỉnh tề, hà tu vũ đạo.

Dịch nghĩa:

Điều một: Bền gốc nước, trừ kẻ bạo thì dân chúng được yên.
Điều hai: Giữ nếp xưa, phiền nhiễu nên bỏ thì triều cương không rối.
Điều ba: Ngăn kẻ lạm quyền để trừ mọt nước.
Điều bốn: Loại bọn quan tham nhũng để bớt vơ vét của dân.
Điều năm: Mở lối nho phong để ngọn lửa đóm được soi cùng mặt trời mặt trăng.
Điều sáu: Tìm những lời trực gián để đường ngôn luận được rộng mở như cửa thành.
Điều bảy: Rèn luyện binh sĩ cần lất hạng có dũng lực hơn là hạng vóc vạc lớn.
Điều tám: Chọn tướng trước nên lựa người thao lược sau mới đến là bậc thế gia.
Điều chín: Khí giới cốt tinh nhuệ hơn là lòe loẹt.
Điều mười: Tập trận pháp cần chỉnh tề không cần múa nhảy.

PGS.TS. Nguyễn Đăng Na, trong tài liệu đã dẫn cho rằng:“... bài Kê minh thập sách của cung nữ Bích Châu thời Trần Duệ Tông (1373-1377) thế kỷ XIV cũng dường như được “sao y bản chính” từ Thập điều khải của Thái thường Tự khanh Bùi Sĩ Tiêm dâng vua Lê Duy Phường năm 1731, thế kỷ XVIII”. Tuy nhiên khi so sánh có vài chỗ không thực sự giống dù khá tương đồng về kết cấu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Thị Bích Châu - Từ văn chương đi vào lịch sử, Nguyễn Huệ Chi, www.talawas.org, 31.3.2007
  2. ^ Từ Hiền phi (chữ Hán: 徐賢妃, 627 - 650) tên là Từ Huệ (徐惠), người tỉnh Chiết Giang, là cung tần của Đường Thái Tông. Ban đầu là Tài nhân, Tiệp dư tiến phong thành Sung dung. Khi Đường Thái Tông chết, Từ Huệ chết theo, truy phong làm Hiền phi. Theo sử sách, bà thường hay đàm đạo chuyện chính trị cùng Thái Tông, rất được Thái Tông tín nhiệm.
  3. ^ Loại mũ cánh chuồn, mũ Ô Sa mà 2 cánh của nó chỉ lên trên trời. Một loại mũ xuất xứ từ Trung Hoa, sau được các vua nhà Trần dùng
  4. ^ Hy lăng: là mộ của Trần Duệ Tông