Nguyễn Thị Nhậm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nhất giai Lệnh phi
一階令妃
Thiệu Trị Đế Nhất giai Phi
Thông tin chung
Phu quânNguyễn Hiến Tổ
Thiệu Trị
Hậu duệAn Thạnh Công chúa Nhàn Yên
Tên húy
Nguyễn Thị Nhậm
Tước hiệuPhủ thiếp (府妾)
Cung tần (宮嬪)
Trinh Phi (貞妃) (phỏng đoán)
Lệnh phi (令妃)
Thân phụNguyễn Văn Nhơn

Nhất giai Lệnh phi Nguyễn Thị Nhậm (hoặc Nhiệm) (chữ Hán: 一階令妃 阮氏任, ? – ?), là một cung phi của Nguyễn Hiến Tổ Thiệu Trị Đế.

Gia thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lệnh phi Nguyễn Thị Nhậm là con gái của Kinh Môn Quận công Nguyễn Văn Nhơn, võ tướng phò trợ đắc lực của Nguyễn Ánh trong việc khôi phục triều Nguyễn. Năm 1802, vua Gia Long cho cha bà giữ chức Lưu trấn Gia Định, sau được cử làm Tổng trấn Gia Định, là vị Tổng trấn đầu tiên của miền Nam.

Năm 1822, ngài Tổng trấn mất, dù sử sách không ghi rõ nhưng việc bà Nhậm nhập phủ làm thất thiếp cho Thiệu Trị có thể là để xoa dịu nỗi mất mát của gia đình bà.

Nhập phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1823, bà Nhậm cùng với bà Phạm Thị Hằng được triều đình làm lễ cưới nạp vào phủ Trường Khánh cho Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Miên Tông. Bà Nhậm vì tước của cha mình cao hơn của ông Phạm Đăng Hưng, cha của bà Hằng, nên có vị trí ở trên.

Bói cúc áo[sửa | sửa mã nguồn]

Một hôm, Thánh Tổ Minh Mạng ban cho hai người con dâu mỗi người một cái áo sa cổ thường thêu hoa vàng. Khi vào cung yết bái được Nhân Tuyên Hoàng thái hậu ban cho mỗi người một cúc áo bằng vàng, một cái chạm hình chim phượng, cái còn lại hình cành hoa, đều được phong giấy kín. Bà Nhân Tuyên khấn trời rằng: "Ai được chiếc cúc chạm hình phượng, thì có con trước", rồi sai nữ quan đem ban cho, bảo mỗi người lấy một phong, nhưng không được mở ra, cứ để nguyên mà tiến lên. Bà Nhậm được bà Hằng nhường cho chọn trước. Khi mở gói giấy ra thì bà Nhậm được cúc chạm hoa, bà Hằng được cúc chạm phượng. Điềm báo ứng nghiệm khi bà Hằng sinh được Hoàng trưởng nữ Nguyễn Phúc Tĩnh Hảo, tức Diên Phúc Công chúa[1].

Sau bà Nhậm cũng hạ sinh Hoàng nhị nữ là An Thạnh Công chúa Nguyễn Phúc Nhàn Yên, hạ giá lấy Tạ Quang Ân. Sử sách không ghi lại năm sinh cũng như năm mất của công chúa, ước chừng là từ năm 1824 đến 1826. Từ đó về sau bà không hoài thai thêm bất kỳ lần nào.

Nhị giai Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1841, Thiệu Trị đăng cơ, bà Nhậm cùng với các thiếp thất khác của ngài được phong làm Cung tần (宮嬪) chờ mãn tang Minh Mạng.

Năm 1843, Thiệu Trị đại phong hậu cung, bà được phong Nhị giai Trinh phi (二階貞妃) (phỏng đoán).

Nhận định sai lầm:[sửa | sửa mã nguồn]

• Có nhiều nhầm lẫn cho rằng: vào năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), bà Nguyễn Thị Nhậm được sơ phong Nhất giai Lệnh phi, đứng đầu hậu cung. Tuy nhiên, theo ghi chép về năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) trong bản dịch “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” quyển 76, tập 6, trang 167, có dòng:

“Lại năm ấy tấn phong Quý phi, Lệnh phi, Lương phi, Thục phi và Thuỵ tần trở xuống…”

Ở đây, Lệnh phi (cuối hàng Nhất giai phi) được tấn phong vào năm mà Phạm Thị Hằng cũng được tấn phong Quý phi (đứng đầu Nhất giai phi). Vậy không hề có chuyện Lệnh phi khi ấy là phi tần cao nhất trong hậu cung. Cũng lưu ý, khi ấy đã là năm Thiệu Trị thứ 6, tức là một năm trước khi Thiệu Trị băng hà, có thể nói là Nguyễn thị được phong rất trễ chứ không phải vào năm Thiệu Trị thứ 3 như thường được biết trước đó.

• Hơn nữa, không hề có chuyện địa vị bà Phạm Thị Hằng (tức Nghi Thiên Chương Hoàng hậu) ở dưới bà Nguyễn Thị Nhậm vào lúc đại phong hậu cung lần đầu tiên.

Đại Nam thực lục đệ tam kỷ cho biết, năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), nhà vua thay đổi danh hiệu hậu cung được định ra từ thời Minh Mạng, đồng thời phong Phạm Thị Hằng làm Thành phi:

"Định lại thứ tự chín bậc ở trong cung. Vua dụ Nội các rằng: "... Ta từ khi lên ngôi đến nay, sửa sang quy mô thái bình, mở mang trị hóa, cương kỷ trong triều, chính trị trong nước, không việc gì là không lần lượt sửa sang cho rõ ràng. Nhân nghĩ đến chính hoá của nhà vua, tất từ nhà mà ra đến nước, trật tự trong cung cũng nên định có khác nhau. Nay chuẩn cho đặt một Hoàng quý phi, trên giúp Hoàng hậu, chủ việc ăn uống trong cung, hàng ở trên bậc thứ nhất; thứ đến Quý phi, Đoan phi, Lệnh phi làm bậc thứ nhất; Thành phi, Trinh phi, Thục phi là bậc thứ nhì ...". Tấn phong Cung tần họ Phạm làm Thành phi."

Như vậy, khi mới chuẩn định cấp bậc hậu cung vào năm Thiệu Trị thứ 3, Phạm Thị Hằng đã được tấn phong Thành phi, đứng đầu nhị giai. Còn vị phân của Nguyễn Thị Nhậm tuy không được chép nhưng dựa vào việc mãi đến năm Thiệu Trị thứ 6 bà mới được phong làm Lệnh phi đứng cuối hàng Nhất giai thì ta có thể suy trước đó địa vị của Nguyễn Thị Nhậm cao nhất cũng chỉ từ Trinh phi (đứng thứ hai ở hàng nhị giai) trở xuống do Thành phi Phạm Thị Hằng khi ấy đang đứng đầu nhị giai. Đến năm Thiệu Trị thứ 6, khi Nguyễn Thị Nhậm được tấn phong Lệnh phi (cuối nhất giai) thì Phạm Thị Hằng cũng được tấn phong Quý phi (đầu nhất giai), địa vị vẫn cao hơn Lệnh phi; chưa kể khi đó, vị trí Lương phi đứng thứ hai ở hàng nhất giai cũng vừa có chủ. Vậy trên Lệnh phi khi đó có đến hai người vị thứ cao hơn, chắc chắn không có chuyện Nguyễn thị có vị thứ cao hơn Phạm thị.

Nhất giai Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), bà được phong Nhất giai Lệnh phi (一階令妃), "Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ" chép:

"Lại năm ấy tấn phong Quý phi, Lệnh phi, Lương phi, Thục phi và Thuỵ tần trở xuống …"

Năm đó, Thiệu Trị cho sắp lại các phong hiệu Tam phi Nhất giai, theo thứ tự từ cao đến thấp là Quý phi (貴妃), Lương phi (良妃), Lệnh phi (令妃). Lúc này, Lệnh phi chỉ đứng thứ 3 trong hậu cung, sau cả Lương phi Võ thị ban đầu chỉ là một đằng thiếp. Trong Tứ phi của Thiệu Trị, Lệnh phi chỉ đứng trên được bà Nhị giai Thục phi Nguyễn Thị Xuyên.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Không rõ bà mất năm nào nhưng có thể là vào những năm Tự Đức. Khi mất được ban thụy là Nhâm Thuận. Mộ của bà đã bị hư hỏng khá nặng. Táng gần đó là mộ của một bà Tài nhân họ Nguyễn của ngài Thiệu Trị, không rõ tên húy của bà vì Thiệu Trị có tới 4 bà Tài nhân đều mang họ Nguyễn.


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Nam liệt truyện, tập 3, quyển 2, Truyện các hậu phi (mục II)