Nguyễn Phúc Tĩnh Hảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Diên Phúc Công chúa
延福公主
Công chúa nhà Nguyễn
Thông tin chung
Phu quânNguyễn Văn Ninh
Tên húy
Nguyễn Phúc Tĩnh Hảo
阮福静好
Thụy hiệu
Đoan Nhã Diên Phúc Công chúa
端雅延福公主
Thân phụNguyễn Hiến Tổ
Thiệu Trị
Thân mẫuHoàng thái hậu
Từ Dụ
Sinh1824
Mất1847 (23 tuổi)

Nguyễn Phúc Tĩnh Hảo (chữ Hán: 延福公主 阮福静好; 18241847), là một công chúa, con gái của vua Thiệu Trị nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng nữ Tĩnh Hảo sinh vào năm Minh Mạng thứ 5 (1824), là con gái đầu lòng của Thiệu Trị, khi đó vẫn còn là Trường Khánh công (长庆公). Mẹ của bà là Phủ thiếp Phạm Thị Hằng, về sau chính là Từ Dụ Hoàng thái hậu nổi tiếng hiền đức, uy quyền bậc nhất trong vòng 55 năm. Hoàng nữ Tĩnh Hảo là chị ruột cùng mẹ với hoàng nữ Uyên Ý (mất sớm khi mới 3 tuổi) và vua Tự Đức.

Sử sách ghi lại, hoàng nữ Tĩnh Hảo tuổi còn trẻ mà thông minh, nhàn nhã đoan tĩnh, có tính hiếu để. Hằng ngày, bà đều vào hầu tằng tổ mẫu là Nhân Tuyên Hoàng thái hậu Trần Thị Đang, rất mực lễ phép và kính cẩn, được bà Nhân Tuyên rất mực yêu dấu[1].

Thiệu Trị năm thứ 6 (1846), bà được gả cho Phò mã Đô úy Nguyễn Văn Ninh (阮文寧), người Bảo Hựu, Vĩnh Long. Phò mã Ninh là con của Chưởng phủ sự Thái bảo Hoằng Trung hầu Nguyễn Văn Trọng (阮文仲). Mùa hạ năm đó, bà chính thức được sắc phong làm Diên Phúc Công chúa (延福公主)[1]. Trong số những người em gái khác mẹ của chúa Diên Phúc, có Quy Chính Công chúa Lệ Nhàn, hoàng nữ thứ 15 của vua Thiệu Trị, hạ giá lấy Nguyễn Văn Duy, là cháu nội của Hoằng Trung hầu Nguyễn Văn Trọng.

Công chúa sống với chồng rất mực yêu quý và hòa thuận, nhưng chúa lại mệnh yểu, mất vào năm Tự Đức thứ nhất (1847), sau vua cha không lâu. Chúa mất khi mới vừa 25 tuổi (tính theo tuổi mụ), được ban thụy là Đoan Nhã (端雅). Phủ thờ của Công chúa Diên Phúc được dựng ở Kim Long, Thừa Thiên - Huế[2]. Chúa cũng được thờ ở chùa Diệu Đế[2], nguyên trước đây là phủ Trường Khánh, nơi chúa đã sống khi Thiệu Trị chưa đăng cơ.

Năm Tự Đức thứ 23 (1869), chồng bà cũng qua đời, nhưng thế phả của dòng họ Nguyễn Phúc lại ghi phò mã mất vào năm 1872[2].

Bài thơ của Tự Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Sau này vua Tự Đức thường đi qua nhà cũ, nhớ thương người chị vắng số, mà làm ra một số bài thơ:

Bài thứ 1:

Hoa trôi nước chảy khá vô tình,
Quang cảnh xui người ngầm tự kinh hãi,
Sóng nước sông Tương làm chìm tiếng đàn sắt,
Mây phủ lầu Tần làm lấp tiếng tiêu thổi,
Những thương suối vàng để hận nghìn năm,
Chưa được phong cho sách vàng làm vinh dự,
Nuốt lệ dùng dằng ngoảnh đầu trông lại,
Khốn nỗi vì gió thổi thuyền bồng đi nhanh.

Bài thứ 2:

Khó tìm được người tài giỏi biến hóa như mọc cánh bay đi,
Người ta ở đời ai khỏi có 7 thứ thương[3].
Năm trước xe qua nghe ca hát nhộn nhịp,
Sớm nay thuyền dạo thấy huệ lan khô héo,
Đám mây bay tụ tán không bao giờ nhất định,
Giấc mộng vui buồn lại chẳng mấy chốc,
Việc cũ chẳng nên bàn cãi làm gì nữa,
Tấc lòng ta từ ngoài thành ra gió lạnh.

Bài thứ 3:

U hồn chim tinh vệ biết tìm ở chốn nào,
Đi qua xa thương làn sóng xanh biếc,
Ao quan ở Thường Sơn, hoa tự rơi rụng,
Lâu đài ở Cấm Thủy bóng trăng tự chìm lặng,
Nước chảy ở khúc sông gãy khúc thành ra tiếng biệt ly,
Nhạn kinh lạc bạn oánh trách rừng sâu lạnh lẽo,
Xem lại chuyện đời buồn đều như giấc mộng cả,
Sóng nước mênh mang không cầm nổi tình thương xót.

Năm thứ 2 là năm Tân Dậu (1848), mùa xuân, vua đến nhà thờ chúa rót rượu tế, lại làm thơ rằng:

Chị ta nguyên chẳng trẻ,
Ruột thịt chỉ hai tên,
Nghe sách từng quên đói,
Nấu nướng chẳng hề quen,
Thương nhau chung ấm lạnh,
Lo lắng chỉ vì em,
Đêm khuya dâng tặng lễ,
Nhìn trăng cảm thương thêm.

Chị cùng mẹ với Tự Đức chỉ có hai người, mà một người lại chết non (hoàng nữ Uyên Ý mất khi mới 3 tuổi), một người lại chết khi còn trẻ quá sớm. Đối với Tự Đức rất là quý mến, cho nên ý thương xót thường lộ ra, làm vài bài thơ như thế.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Đại Nam liệt truyện, tập 3, quyển 10
  2. ^ a ă â Nguyễn Phúc Tộc thế phả, tr.360
  3. ^ 7 thứ thương: 1 là đau xót mà thương; 2 là vì nghĩa mà thương; 3 là cảm xót mà thương; 4 là oán hận mà thương; 5 là tai mắt trông thấy mà thương; 6 là than thở mà thương và cuối cùng là mũi cay mà thương.

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]