Tề Cảnh công

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tề Cảnh công
齊景公
Vua chư hầu Trung Quốc (chi tiết...)
Tề hầu
Trị vì 547 TCN490 TCN
Tiền vị Tề Trang công
Kế vị Tề An Nhũ Tử
Thông tin chung
Thê thiếp Yển Cơ
Dực Tự
Hậu duệ
Tên thật Khương Chử Cữu (姜杵臼)
Thụy hiệu Cảnh công (景公)
Thân phụ Tề Linh công
Thân mẫu Mục Mạnh Cơ - con gái Thúc Tôn thị Lỗ quốc
Mất 490 TCN
Trung Quốc

Tề Cảnh công (chữ Hán: 齊景公; cai trị: 547 TCN490 TCN[1][2][3]), tên thật là Khương Chử Cữu (姜杵臼), là vị quốc quân thứ 26 của nước Tề - chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Ông được biết đến là một trong những vị quân chủ chư hầu hùng mạnh nhất thời Xuân Thu.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là con trai thứ của Tề Linh công – quốc quân thứ 24 nước Tề và là em Tề Trang công – quốc quân thứ 25 nước Tề. Mẹ ông là thị thiếp của Tề Linh công, con gái đại phu quý tộc Thúc Tôn Tuyên Bá, một trong Tam Hoàn nước Lỗ[1].

Năm 554 TCN, vua cha Tề Linh công mất, anh lớn Khương Quang lên nối ngôi, tức là Tề Trang công. Tề Trang công gian díu với vợ đại phu Thôi Trữ là Đường Khương. Năm 548 TCN, Thôi Trữ lập mưu giết chết Tề Trang công tại nhà riêng, rồi thông cáo với các đại phu, lấy công tử Chử Cữu là cháu ngoại nước Lỗ, lên ngôi vua, để hòa hiếu với Lỗ. Chử Cữu sau đó tức vị, tức là Tề Cảnh công[1][3][4].

Thất bại của Thôi, Khánh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Thôi Trữ giết Trang công thì sai người mang lễ vật tới xin hòa với vua Tấn, và cũng để ém nhẹm vụ giết vua của mình, sau đó có hội chư hầu ở Trọng Khưu thuộc đất nước Tề.

Tề Cảnh công phong Khánh Phong, Thôi Trữ làm Tả, Hữu tướng quốc điều hành chính sự. Không lâu sau Khánh Phong mưu trừ Thôi Trữ để một mình nắm quyền. Năm 546 TCN, nhân nhà họ Thôi có việc tranh chấp thừa kế giữa con lớn và con nhỏ, Khánh Phong giả cách giúp Thôi Trữ dẹp loạn 2 người con lớn nhưng nhân đó giết cả nhà họ Thôi. Thôi Trữ nhận ra mình bị lừa gạt bèn tự sát. Quyền chính nước Tề về tay Khánh Phong, nhưng Khánh Phong lại ham mê săn bắn, thường đem vợ con lại nhà Lư Bồ Miết uống rượu, nên việc quốc chính giao hết cho con lớn là Khánh Xá.

Năm 545 TCN, thấy Khánh Phong cùng Khánh Xá chuyên quyền, bốn họ đại phu họ Bão, họ Cao, họ Loan và họ Trần mưu trừ họ Khánh. Cùng lúc đó theo lời của Lư Bồ Miết, Khánh Phong triệu em ông này là Lư Bồ Quý về triều, đem con gái gả cho, nhưng Lư Bồ Quý vẫn nuôi chí báo thù cho chủ cũ là Trang công. Mùa đông năm đó, thừa dịp Khánh Phong đi săn, chỉ có Khánh Xá ở nhà, Lư Bồ Quý và Vương Hà phát động binh biến, được 4 nhà mang quân trợ giúp, giết chết Khánh Xá trong ngày tế lễ. Tề Cảnh công nhìn thấy hoảng sợ, Bão QuốcTrần Tu Vô cố trấn an và đưa nhà vua về cung[5]. Toàn bộ Khánh thị bị diệt, chỉ riêng Khánh Phong đang ở ngoài mới thoát, một mình bỏ chạy sang lưu vong ở Lỗ quốc. Tề bức ép Lỗ phải giao Khánh Phong ra, Phong biết được lại chạy sang Ngô quốc, được Ngô Dư Sái thu nạp, sau bị quân Sở giết chết. Từ đó chính sự nước Tề ổn định trở lại.

Bởi vì loạn họ Thôi, các công tử anh em với Tề hầu đều chạy trốn ra nước ngoài. Đến đây nhà vua triệu họ trở về, ban cho đồ dùng và trả lại ấp phong. Lại đày Lư Bồ Miết ra Bắc Cảnh, cải táng cho huynh trưởng là Tề Trang công[6]. Cuối năm 545 TCN, vua Tề sai đào thây của Thôi Trữ và vợ là nàng Đường Khương lên, truyền phơi xác giữa chợ. Án Anh can rằng gia hình lên thân xác người phụ nữ là việc làm trái đức, vì vậy chỉ cho phơi xác của Thôi Trữ mà thôi.

Trần thị quật khởi[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Họ Điền thay Tề

Năm 539 TCN, Tề Cảnh công sai Án Anh đi sứ nước Tấn, thiết lập lại quan hệ hòa bình sau nhiều năm xung đột trong các đời vua trước. Sau đó liên tiếp trong các năm 536 TCN530 TCN, đích thân Tề Cảnh công sang nước Tấn.

Sau khi Thôi, Khánh bị diệt thì đến lượt hai nhà Loan và Cao (hậu duệ dòng Huệ công) nắm quyền. Trưởng tộc hai nhà này là Loan ThiCao Cương vừa nghiên rượu vừa mê gái, lại ghét hai nhà Trần và Bão. Hai nhà Trần và Bão nghi Cao, Loan có ý diệt trừ mình, nên đã ra tay trước. Năm 532 TCN, Trần Vô Vũ cùng Bão Quốc đánh Loan Thi và Cao Cương. Hai nhà kia không chống nổi, bỏ chạy đến cung thất, nhưng Cảnh công sai đóng chặt Hổ Môn không cho họ vào. Hai nhà Cao, Loan đóng ở phía hữu, Trần và Bão đóng ở phía tả của Hổ Môn. Cảnh công theo lời Án Anh, cho rằng lỗi của Loan, Cao nặng hơn Trần, Bão nên cần diệt trừ trước. Loan ThiCao Cương chạy trốn sang Lỗ quốc. Trần và Bão chia nhau tài sản của Cao và Loan. Án Anh phải đem lý lẽ ra giảng giải để buộc hai họ trả số tài sản đó về công thất. Trần Vô Vũ xin cho gọi các Công tử bị họ Cao đuổi đi khi trước trở về Tề, các công tử đều cảm kích. Lại nịnh nọt mẹ vua là bà Mục Mạnh Cơ để bà nói giúp, xin cho họ Trần tăng thực ấp Cao Đường[7], từ đó họ Trần lớn mạnh, về sau đã thay họ Khương làm chủ nước Tề.

Có lần Cảnh công ngồi ở trong cung bàn với Án Anh về việc Trần Vô Vũ (Trần Hoàn tử) thường chu cấp của công thất, cứu tế lê dân, Án Anh cho rằng họ Trần cho của còn nhà vua thì thu thuế, lòng dân ắt hướng theo họ Trần, ngày sau khi công thất suy yếu tất sẽ bị họ Trần tiếm đoạt. Cảnh công từ đó có ý đề phòng họ Trần, song Trần Vô Vũ hành động cẩn trọng, không để lộ tội lỗi gì, nên chưa thể trừng phạt được.

Tranh bá với Tấn quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 546 TCN, Tấn và Sở cùng tổ chức hội minh ở đất Tống để giảng hòa, chấm dứt việc tranh bá nhiều năm giữa hai bên[8]. Sứ Tống là Hướng Thú sang Lâm Tri mời Tề đến dự, ban đầu Tề không chịu, nhưng Trần Tu Vô can ngăn rằng Tấn và Sở đã hứa, một mình Tề không chống lại được đâu, vì thế vua Tề bất đắc dĩ phải sai Khánh PhongTrần Tu Vô tới hội. Trong buổi hội, chư hầu lấy Tấn hầu và Sở vương đứng đầu, Tề hầu và Tần bá là chư hầu hàng hai, Tống là chủ nhà, các nước còn lại tính vào số phiên thuộc. Đây là sự kiện độc nhất trong thời Xuân Thu. Mùa hạ năm 545 TCN, theo minh ước ở Tống, vua Tề cùng vua các nước khác phải đến triều kiến vua Tấn[9].

Năm 540 TCN, Yên Huệ công bị họ quý tộc nổi chống lại phải chạy sang nước Tề lánh nạn. Bốn năm sau, Tề hầu sai Cao Yển đến xin Tấn hầu cùng nhau giúp Yên. Liên quân Tấn-Tề hợp sức đưa Yên bá về nước.

Năm 530 TCN, Tề hầu cùng Vệ hầu, Trịnh bá đến dự yến tiệc do Tấn hầu tổ chức. Tướng lễ của nước Tấn khi đó là Trung Hàng Ngô (Mục Tử). Trung Hàng Ngô bày trò chơi cho Tấn hầu cùng Tề hầu ném thẻ vào cái hồ. Lúc Tấn Chiêu công cầm thẻ ném, Trung Hàng Ngô nói rằng nếu vua Tấn ném trúng sẽ làm chủ chư hầu, sau đó quả nhiên thẻ của Tấn hầu ném trúng. Đến lượt Tề Cảnh công cầm thẻ, cũng tự khấn rằng nếu mình ném trúng sẽ thay địa vị (bá chủ) của Tấn Chiêu công. Sĩ Văn Bá trách cứ Trung Hàng Ngô, nói rằng việc làm hôm đó sẽ khiến vua Tề tự phụ và không thần phục Tấn nữa. Sau đó tướng nước Tề là Công Tôn Tẩu kiếm cớ để đưa Tề hầu rời tiệc[10].

Từ sau sự kiện quan đại phu nước Tấn ăn của đút mà bỏ mặc để nước Lỗ chiếm cứ đất của nước Cử, thì các chư hầu dẫn đều là Tề đều không chịu thần phục nữa, bí mật hội riêng với nhau, thế bá chủ của Tấn không còn như trước nữa. Mùa thu năm 529 TCN, nước Tấn triệu tập chư hầu tại Bình Khưu, mà nước Tề không muốn phó hội. Đại phu Tấn quốc là Thúc Hướng vặn hỏi Tề hầu. Cảnh công trả lời rằng

Khi một chư hầu bội ước đã bị trừng phạt, thì mới họp lại để thề. Nhưng khi tất cả đều theo mệnh không trái, thì họp thề lại làm gì.

Thúc Hướng lại đem pháp độ nhà Chu mà vặn lại, Tề hầu đành phải tuân theo. Năm 528 TCN, ông lại cùng tướng quốc Án Anh sang Lỗ quốc học hỏi về lễ nghi. Đầu năm 526 TCN, Tề Cảnh công cử quân đánh Từ quốc, tiến đến đất Bồ Toại, người Từ xin hòa. Vua Tề bèn tổ chức hội thề với vua Từ, Đàm và Cử ở Bồ Toại[11]. Từ tử hối lộ cho Tề hầu một cái đỉnh. Hứa Hàn phê bình hành động của vua Tề khư khư tham lợi ở Từ và Cử mà bỏ đi điều đại nghĩa, vì thế mà không thành nghiệp bá[12].

Năm 505 TCN, sau vụ nước Tấn tập hợp 15 nước chư hầu bàn việc đánh Sở cứu Sái, mà quan đại phu Tuân Dần vì không có tiền hối lộ mà bãi binh, khiến uy tín của Tấn quốc không còn nữa. Nước Vệ vì thế bàn ngả sang Tề, cùng dự hội thề ở đất Tỏa (503 TCN). Vì thế khiến Tấn giận Vệ, trong buổi lễ chư hầu năm 502 TCN cố tình làm nhục Vệ hầu khiến Vệ nhất quyết theo Tề. Vua Tấn mới sai Phạm Ưởng dẫn quân hội với Lỗ tiến hành phạt Vệ, và phạt luôn cả Trịnh cũng đang ngả về phe Tề. Tề bèn đem quân giúp Trịnh và Vệ. Năm 502 TCN, ông cùng Vệ Linh công đi đánh Tấn, chiếm đất Di Nghi. Sau đó ông lại tấn công sang đất Trung Mâu, nhưng bị quân Trung Mâu đánh lui[13]. Tề Cảnh công lui quân, tặng cho Vệ Linh công 3 ấp Chước, Di và Mạnh[14].

Năm 497 TCN, Tề và Vệ lại đánh Tấn, đóng quân ở đất Cúc Thị, nhiều đại phu can không nên đánh tiếp, chỉ có Bỉnh Ý Tư nói rằng viện quân Tấn không thể đến kịp là cơ hội để tấn công. Tề hầu giận các quan đại phu can ngăn, đã tước quyền đi xe của họ (trừ Bỉnh Ý Tư). Ông muốn bắt vua Vệ lên cùng xe với mình, nên giả cách sửa soạn chiến xe có đầy đủ giáp cụ, nói dối là quân Tấn đánh tới, rồi nói với Vệ Linh công rằng xe của quý quân chưa sửa soạn và hãy lên xe với mình, rồi đánh roi cho ngựa chạy; khi biết quân Tấn thực không tới thì mới dừng lại[15].

Hiền tướng Án Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Án Anh
Tập tin:YanzimeetingwithDukeJing.jpg
Án Anh yết kiến Tề Cảnh công

Án Anh, người gốc Đông Hải, dáng người thấp nhỏ nhưng có trí tuệ thông minh và là một vị quan tài ba. Sau khi Thôi Trữ giết Tề Trang công đã từng có ý muốn giết luôn Án Anh vì ông ta không phục mình, nhưng cuối cùng bị can ngăn nên mới thôi. Sau khi Thôi, Khánh bị diệt; Tề Cảnh công lấy Án Anh làm tướng quốc, nắm hết quyền chính nước Tề, giống như Tề Hoàn công dùng Quản Trọng ngày trước. Trong lần xuất sứ Sở quốc, ông bị người Sở làm nhục đủ điều, nhưng vì tài ứng đối mà không bị mất danh dự, khiến Sở vương phải chịu phục. Sau lần đó, Tề Cảnh công tôn Án Anh làm thượng tướng, ban cho một cái áo câu giá nghìn lạng vàng, lại muốn phong thêm thái ấp và dựng dinh thự mới cho, nhưng Án Anh đều từ chối. Cảnh công có lần thăm nhà Án Anh trông thấy Án phu nhân đã già mà xấu, nên nói đùa là muốn đem con gái trẻ đẹp gả cho. Án Anh từ chối, bảo rằng không nỡ phụ bạc hiền thê. Do vậy Cảnh công lại càng mến đức và tin tưởng Án Anh[16].

Tề Cảnh công có ba viên dũng tướng là Điền Khai Cương, Công Tôn TiệpCổ Giả Tử đều từng có nhiều công trạng, rất được tin dùng. Ba người ngày càng kiêu ngạo và hống hách, không coi vua ra gì, Cảnh công dần sinh ý ghét, Án Anh tìm cách trừ khử họ đi. Nhân dịp Lỗ Chiêu công sang triều yết, Án Anh tâu với vua lấy 6 quả đào ra bàn tiệc, nói dối là Vạn thọ kim đào trồng 90 năm mới kết trái, rồi làm lễ chia đào, hai vua cùng hai tướng lễ (Án Anh và Thúc Tôn Nhược của Lỗ) mỗi người một quả, còn hai quả thì bảo các quan tự kể công lên để xét mà chia đào. Công Tôn Tiệp và Cổ Giả Tử tranh được hai quả đào ấy, mà Điền Khai Cương có công lớn nhất thì lại hết đào. Khai Cương bị nhục liền rút gươm tự sát. Công Tôn TiệpCổ Giả Tử nghĩ tình anh em và tự thẹn vì công nhỏ mà được ăn đào, nên cũng đâm cổ chết theo. Vụ này được nhắc đến với giai thoại "Giết ba dũng sĩ bằng hai quả đào" (nhị đào sát tam sĩ, 二桃殺三士).

Sau đó, Tấn quốc và Yến quốc thấy ba dũng sĩ đã chết, liền cử binh phạt Tề. Trước tình thế lưỡng đầu thọ địch, Án Anh đã tiến cử cho Tề Cảnh công một vị tướng tài là Điền Nhương Thư làm tướng[17]. Giám quân Trang Giả đến trễ, Nhương Thư lấy quân lệnh giết chết hắn. Tề Cảnh công vội sai người cầm cờ tiết đến tha cho Giả. Nhương Thư nói rằng tướng cầm quân không cần tuân theo lệnh vua, lại trị tội người cầm cờ vì dám phi ngựa thẳng vào doanh trại, chém ngựa và phá xe để thế mạng sứ giả. Đối với quân sĩ thì hết lòng khích lệ, vì thế sĩ khí quân Tề lên cao, quân hai nước kia phải tháo chạy. Cảnh công bèn phong cho Nhương Thư chức Tư mã. Sau lại có người gièm pha Nhương Thư cầm nhiều binh quyền, lại là người họ Điền, nên Cảnh công dần sinh nghi kị, dần bãi chức của Nhương Thư khiến ông ta uất ức mà chết. Di sản của Tư Mã Nhương Thư để lại cho đời là một quyển binh pháp, gọi là Tư Mã pháp[18].

Năm 522 TCN Tề Cảnh công mắc bệnh sốt cách nhiệt nằm ở trong cung, qua hết một năm vẫn chưa hết. Bọn Lương Khâu CứDuệ Khoản tâu với ông rằng căn bệnh đó là do quan Chúc và quan Sử (các chức lo việc tế lễ) không tôn kính khi khấn vái các vị thần linh, và đòi giết họ đi. Tề hầu đem việc hỏi ý của Phu tử (Án Anh). Phu tử đáp rằng khi nhà vua có đức thì tự nhiên quan Chúc sẽ đem những đức hạnh đó nói cho thần linh biết, và nhà vua sẽ được phù hộ. Nhưng hễ mà nhà vua làm việc xấu, thì quan Chúc vẫn phải trình bày sự thực, và nhà vua sẽ bị trời trừng phạt, nếu quan Chúc và Sử mà trình bày giả dối thì cả nước sẽ bị giáng tai vạ[19], và khuyên vua bớt việc xây dựng và lễ nhạc, giảm bớt thuế khóa ... để tu sửa đức chính. Tề hầu nghe theo[20].

Cuối năm 522 TCN, Tề hầu đã khỏi bệnh, và đi săn ở đất Bái, sai viên quan là Ngu Nhân cầm cái cung. Ngu Nhân không tới, Tề hầu sai người tới bắt tội. Ngu Nhân đáp rằng theo lễ khi triệu tập Ngu nhân thì người tới truyền phải mang theo mũ chiến, mà nay không thấy nên không đến; Tề hầu mới tha cho. Khi đi săn về, Tề hầu cùng với Án Phu tử ngồi trên lầu thấy Lương Khâu Cứ đi tới. Tề hầu khen Khâu Cứ là người hợp ý với mình. Án Anh bác lại, nói rằng nếu bề tôi hợp ý với vua tức là phải biết hết mọi việc của vua chỗ nào đúng thì tuân theo, chỗ nào sai thì sửa gium vua; còn Khâu Cứ chỉ luôn a dua theo những lời của Cảnh công mà thôi. Tề hầu lại hỏi nếu người xưa không chết thì sẽ ra sao, Án Anh đáp rằng nếu quả như vậy thì người làm vua hưởng phú quý ở đất Tề là dòng dõi vua trước chứ không phải là nhà vua bây giờ nữa[21].

Tề Cảnh công có một con ngựa rất quý, nhưng một hôm con ngựa ấy không bệnh mà lăn đùng ra chết. Nhà vua tức giận lên người chăn ngựa, muốn xử tội phanh tay. Án Anh can ngăn rằng việc xử tội phanh thây là quá tàn ác, Cảnh công vẫn chưa nguôi giận, truyền đem giam vào ngục đợi ngày hành hình. Án Anh bèn đứng ra xin kể ba lý do giết tên chăn ngựa, để anh ta chết không hối tiếc, nhà vua đồng ý. Án Anh kể tội rằng

  1. Thứ nhất, vua giao cho coi ngựa, mà không cẩn thận làm ngựa chết, tương đương với ngươi giết con ngựa, phải đền mạng.
  2. Thứ hai, vì vua rất yêu con ngựa, nên phải khép anh ta vào tội chết.
  3. Thứ ba, vua vì một con ngựa mà giết người, sẽ khiến thiên hạ đồn vua yêu ngựa chứ không quý người, và mọi người sẽ chê cười vua. Nhưng căn nguyên là người nuôi ngựa làm ngựa chết mới làm tức giận, nên càng đáng ban cho anh ta tội chết.

Tề Cảnh Công nghe thấy biết Án Anh can ngăn mình, đành phải tha tội cho người chăn ngựa[22]. Năm 516 TCN, trên bầu trời Tề quốc xuất hiện Tuệ tinh là điềm gở, quần thần đều kêu khóc, chỉ có Án Anh là cười to mà thôi. Tề hầu giận hỏi vì sao, Án Anh nhân đó khuyên nhà vua hảo trị cung thất, khoan chính giảm hình thì không cần sợ điềm lành dở. Cảnh công theo lời khuyên đó[1]. Từ đây đến hết thời Cảnh công, tề tiếp tục cường thịnh trong khi Tấn và Sở thì ngày một suy yếu.

Quan hệ với Lỗ và Cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 523 TCN, Cao Phát của Tề dẫn quân chinh phạt Cử quốc, Cử tử chạy ra đất Kỷ Chương. Quân Tề truy kích đuổi tới vào ấp Kỷ Chương mới lui. Năm 520 TCN, tướng Tề là Quách Khai lại đánh Cử quốc, đánh bại quân Cử ở đất Thọ Dư thuộc Cử quốc. Vua Cử phải xin hòa và thề với vua Tề ở Tắc Môn, Tề quốc. Năm 516 TCN, Tề quốc xuất hiện sao chổi. Cảnh công sai cúng giải. Án Anh can rằng chỉ cần tu sửa đức chính thì không sợ gì sao chổi, Tề hầu mới bỏ việc cúng.

Năm 517 TCN, Lỗ Chiêu công bị quyền thần họ Quý đánh đuổi chạy sang nước Tề. Tề Cảnh công bèn mang quân đánh Lỗ, lấy đất Vận cho Lỗ Chiêu công ở. Đến năm 515 TCN, họ Mạnh và Dương Hổ tiến đánh đất Vận, Lỗ công[23] lại thua trận[24]. Nước Tề tuy trên danh nghĩa là giúp cho Lỗ công, nhưng lại ngầm câu kết với Tam Hoàn mà chần chừ trong việc tiến quân, lại có ý khinh thường Lỗ Chiêu công là ông vua mất nước. Lỗ Chiêu công cảm thấy bị xúc phạm nên không ở Vận nữa mà lánh sang đất Can Hầu thuộc Tấn quốc. Liền sau đó họ Quý chiếm được đất Vận, Lỗ Chiêu công oán hận mà chết vào cuối năm 510 TCN[25].

Năm 503 TCN, Tề Cảnh công xuất quân đánh vào phía tây của Lỗ quốc. Đầu năm 502 TCN, Lỗ Định công (lên ngôi năm 509 TCN) hai lần công đánh vào Tề, tại các trận Dương Châu và Lẫm Khưu, tuy quân Lỗ giành được vài thắng lợi nhỏ nhưng không lâu sau thì rút lui. Mùa hạ năm đó, Tề quân do hai tướng Quốc Hạ, Cao Trương phản công tiến vào đất Lỗ. Lỗ Định công cầu cứu ở Tấn quốc. Cùng năm đó, tướng Dương Hổ nước Lỗ chống lại Tam Hoàn thất bại bèn chạy sang Tề xin Tề Cảnh công đánh Lỗ. Theo lời can của đại phu họ Bão, Tề Cảnh công không đáp ứng yêu cầu của Dương Hổ và bắt giam Hổ[1][26].

Năm 501 TCN, Tề và Lỗ giảng hòa với nhau, hai vua hẹn gặp ở Giáp Cốc, theo phò Lỗ công có Khổng Tử. Theo kế sách của Lê Di, vua Tề đem tù binh người Lai tới áp bức vua Lỗ. Khổng Tử nhìn ra được mưu này của vua Tề, nên đã đuổi hết những tù binh đi. Khi sắp sáp huyết, người Tề thêm vào điều khoản nói rằng khi quân Tề ra khỏi nước thì phía Lỗ phải cử 300 chiến xa đi theo, thì Khổng Tử cũng đòi Tề phải trả lại đất đã chiếm trước kia. Vua Tề còn sai một tên hề Ưu Thi múa trước mặt Lỗ quân (để làm nhục), Khổng Tử liền sai chém Ưu Thi đi. Sau buổi hội đó Tề Cảnh công phải trả lại những vùng ruộng ở Vân, Hoàn và Quy Âm cho Lỗ[27].

Sau cuộc hội thề Giáp Cốc trở về thì được tin Án Anh ốm chết. Cảnh công than khóc rất nhiều, và lo lắng trong triều không còn người hiền tài. Lại thấy nước Lỗ được Khổng Tử mà đang dần cường mạnh lên, cảm thấy bị đe dọa. Năm 498 TCN, nhân dịp hẹn với Lỗ Định công ở đất Hoàng, Tề hầu theo kế của Lê Di, sai người đưa quốc thư và dâng nữ nhạc cho Lỗ công, trong khi nói rằng

Tôi là Chử Cữu, cúi đầu dâng Lỗ quân hầu mấy lời . Khi trước hội ở Giáp Cốc, tôi có thất lễ với quân hầu, trong lòng vẫn lấy làm hổ thẹn, may mà quân hầu có lòng dung thứ, cho tôi được giao hiếu như xưa . Từ ngày ấy đến giờ, trong nước nhiều việc không sang sính vấn được, nay có mấy đội ca vũ, để khuây lòng điện hạ, bảy cỗ ngựa hay,, để êm xe điện hạ, xin đem dâng quân hầu, gọi là chút lòng kính mến, xin quân hầu nhận cho.[28].

Lỗ công và Quý tôn Tư nhận được nữ nhạc, dần sa vào thanh sắc mà xa lánh Khổng Tử. Khổng Tử khuyên can không được, đành bỏ đi nước khác, vì thế nước Lỗ không thể cường thịnh lên được nữa.

Những năm cuối[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tướng quốc Án Anh mất (501 TCN), Tề Cảnh công cũng cao tuổi, chính sự nước Tề kém đi. Năm 493 TCN, họ Phạm và họ Trung Hàng nước Tấn tranh chấp quyền lực với 4 họ thượng khanh khác, sai người cầu cứu nước Tề. Tề Cảnh công nghe lời Trần Khất bèn giúp thóc cho họ Phạm và họ Trung Hàng, lại hội các chư hầu Tống, Lỗ và Vệ bàn việc cứu họ Phạm, nhưng đến cuối cùng thì hai họ này cũng bị diệt[1].

Ở Vệ quốc, Vệ Linh phu nhân là Nam Tử tính tình dâm đãng, gây nhiều tiếng xấu. Thái tử Khoái Hội mưu giết bà Nam Tử. Nam Tử mách lại với Vệ hầu, Vệ hầu bèn đuổi thái tử đi. Năm 493 TCN, Vệ Linh công mất, con của Khoái Quý là Triếp được lập lên làm Vệ Xuất công[29]. Khoái Quý chạy sang Thích ấp nương nhờ Tấn quốc, hai cha con một trong một ngoài chống cự với nhau. Tề Cảnh công vì đối kháng với Tấn nên ngả theo phe của Vệ Xuất công. Năm 492 TCN, ông sai Quốc Hạ cầm quân giúp Vệ đánh ấp Thích, nhưng không thắng phải lui về[30].

Tề Cảnh công có nhiều vợ và nhiều con trai. Người vợ cả là Yển Cơ, sinh được một con trai không rõ tên. Năm 490 TCN, người con này qua đời[1].

Ông có một người vợ lẽ là Dực Tự, sinh con nhỏ là Khương Đồ[31]. Khi Cảnh công đã già, Khương Đồ còn nhỏ và ít đức. Vì yêu quý Khương Đồ, Cảnh công muốn lập làm thế tử. Các đại phu can ngăn Tề Cảnh công nên chọn trong số những người con thứ đã lớn tuổi lên nối ngôi nhưng ông không nghe.

Mùa thu năm 490 TCN, Tề Cảnh công ốm nặng, bèn lệnh cho đại phu Cao Trương (Cao Chiêu tử) và Quốc Hạ (Quốc Huệ tử) giúp Khương Đồ làm vua và đuổi những người con lớn sang đất Lai[1]. Sau đó Tề Cảnh công qua đời. Ông ở ngôi tất cả 58 năm. Khương Đồ lên nối ngôi, tức là Tề An Nhũ Tử, còn các Công tử Gia, Câu, Kiềm chạy sang Vệ quốc; Sừ và Dương Sinh (Tề Điệu công) chạy sang Lỗ quốc. Tháng 10 nhuận năm đó, người Tề làm lễ táng cho Tề Cảnh công. Ít lâu sau đó, Trần Khất (Trần Hy tử) đuổi Cao Trương, Quốc Hạ và hiếp Bão Mục phế và giết An Nhũ Tử, lập công tử Dương Sinh làm Tề Điệu công.

Sau đời Tề Cảnh công, chính sự nước Tề bắt đầu lọt vào tay họ Điền[32].

Lăng mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Những bộ xương ngựa được phát hiện gần mộ của Tề Cảnh công.

Ngôi mộ của Tề Cảnh công được phát hiện tại làng Nhai Đầu[33] phía đông bắc kinh thành Lâm Tri của ngày xưa[34]. Năm 1964, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra ngôi mộ này và tìm thấy ở phía bắc ngôi mộ 145 bộ xương ngựa, rất có thể chúng là vật tùy táng[35][36].

Bãi chôn những bộ xương ngựa dài 215 mét (705ft) bao quanh 3 phía của ngôi mộ. Năm 1982, các nhà khảo cổ lại khai quật thêm được 36,5 mét (120ft) và 106 bộ xương ngựa[37]. Tuy ngôi mộ chưa được khai quật hoàn toàn, nhưng người ta ước tính có khoảng 600 con ngựa tùy táng ở đó, và có thể là ngôi mộ có nhiều ngựa tùy táng nhất ở Trung Quốc[35][36]. Những con ngựa đó sống khoảng 5-7 tuổi. Người ta cho rằng chúng đã bị cho uống rượu và bất tỉnh, sau đó bị chặt đầu[36]. Cùng với ngựa, người ta còn tìm ra 30 bộ xương chó, hai bộ xương lợn và 6 bộ xương động vật khác[34].

Ngôi mộ được đưa vào diện Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia. Từ năm 2008, nó được UNESCO đưa vào bản danh sách đề cử cho Di sản văn hóa thế giới như một phần của quần thể lăng mộ và cung điện ở thủ đô Tề quốc ngày xưa[38].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên, thiên:
    • Tề Thái công thế gia
    • Điền Kính Trọng Hoàn thế gia
  • Phương Thi Danh (2001), Niên biểu lịch sử Trung Quốc, Nhà xuất bản Thế giới
  • Khổng Tử (2002), Xuân Thu tam truyện, tập 4-5, Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e Sử ký, quyển 32: Tề Thái công thế gia
  2. ^ Phương Thi Danh, sách đã dẫn, tr 29
  3. ^ a ă Han Zhaoqi (韩兆琦) (2010). “House of Duke Tai of Qi”. Shiji (史记) (bằng tiếng Chinese). Beijing: Zhonghua Book Company. tr. 2569–2585. ISBN 978-7-101-07272-3. 
  4. ^ Xuân Thu tam truyện, quyển 4, trang 171
  5. ^ Xuân Thu tam truyện, tập 4, trang 215
  6. ^ Xuân Thu tam truyện, quyển 4, trang 217
  7. ^ Xuân Thu tram truyện, quyển 4, trang 345
  8. ^ Xuân thu tam truyện, quyển 4, trang 196 - 198
  9. ^ Xuân Thu tam truyện, tập 4, trang 211
  10. ^ Xuân Thu tam truyện, tập 5, trang 15
  11. ^ Xuân Thu tam truyện, tập 5, trang 50
  12. ^ Xuân Thu tam truyện, tập 5, trang 51
  13. ^ Xuân Thu tam truyện, quyển 5, trang 223
  14. ^ Xuân Thu tam truyện, tập 5, tr 225
  15. ^ Xuân Thu tam truyện, tập 5, tr 239
  16. ^ Phùng Mộng Long, Đông Chu liệt quốc, hồi 69
  17. ^ Sử kí, Tư Mã Nhương Thư liệt truyện
  18. ^ Sawyer, Ralph D. The Seven Military Classics of Ancient China. New York: Basic Books. 2007. tr. 116–117
  19. ^ Xuân Thu tam truyện, tập 5, trang 82 - 83
  20. ^ Xuân Thu tam truyện, tập 5, trang 84
  21. ^ Xuân Thu tam truyện, tập 5, trang 85
  22. ^ Người chăn ngựa của Tề Cảnh công
  23. ^ Đáng lý gọi là Lỗ hầu, nhưng vì kinh Xuân Thu là sử của nước Lỗ, nên gọi một cách tôn trọng là Công
  24. ^ Xuân Thu tam truyện, quyển 5, trang 145
  25. ^ Xuân Thu tam truyện, quyển 5, trang 167 - 168
  26. ^ Xuân Thu tam truyện, quyển 5, trang 222
  27. ^ Xuân Thu tam truyện, quyển 5, trang 225
  28. ^ Đông Chu liệt quốc, quyển 79
  29. ^ Sử ký, quyển 37: Vệ Khang Thúc thế gia
  30. ^ Xuân Thu tam truyện, quyển 5, trang 269
  31. ^ Xuân Thu tam truyện, quyển 5, trang 280
  32. ^ Sử ký, quyển 46: Điền Kính Trọng Hoàn thế gia
  33. ^ Nay thuộc Lâm Tri, Tri Bác, Sơn Đông, Trung Quốc
  34. ^ a ă 齐墓特征探析 [Characteristics of Qi tombs] (bằng tiếng Chinese). Zibo city government. 10 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2012. 
  35. ^ a ă 殉马坑期待保护 [Protection needed for sacrificial horse pit] (bằng tiếng Chinese). China Environment News. 9 tháng 9 năm 1999. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2012. 
  36. ^ a ă â “Ancient site reveals stories of sacrificed horses”. Xinhua Net. 24 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2012. 
  37. ^ 齐景公殉马博物馆 [Museum of Sacrificial Horses of Duke Jing of Qi] (bằng tiếng Chinese). Zibo News. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2012. 
  38. ^ “Site of the Qi State Capital and the Mausoleum of King of the Qi State at Linzi”. UNESCO. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2012.