Tề Cảnh công

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tề Cảnh công
齊景公
Vua chư hầu Trung Quốc (chi tiết...)
Vua nước Tề
Trị vì 547 TCN490 TCN
Tiền nhiệm Tề Trang công
Kế nhiệm Tề An Nhũ Tử
Thông tin chung
Hậu duệ Con trai Yển cơ
Khương Sừ
Tề Điệu công
Tề An Nhũ Tử
Tên thật Khương Chử Cữu (姜杵臼)
Thụy hiệu Cảnh công (景公)
Thân phụ Tề Linh công
Thân mẫu con gái Thúc Tôn Tuyên Bá
Mất 490 TCN
Trung Quốc

Tề Cảnh công (chữ Hán: 齊景公; cai trị: 547 TCN490 TCN[1]), tên thật là Khương Chử Cữu (姜杵臼), là vị vua thứ 26 của nước Tề - chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là con trai thứ của Tề Linh công – vua thứ 24 nước Tề và là em Tề Trang công – vua thứ 25 nước Tề. Mẹ ông là vợ thứ của Tề Linh công, con gái đại phu quý tộc Thúc Tôn Tuyên Bá, một trong Tam Hoàn nước Lỗ.

Năm 554 TCN, vua cha Tề Linh công mất, anh lớn Khương Quang lên nối ngôi, tức là Tề Trang công. Tề Trang công gian díu với vợ đại phu Thôi Trữ là Đường Khương. Năm 548 TCN, Thôi Trữ lập mưu giết chết Tề Trang công rồi lập Chử Cữu lên ngôi vua, tức là Tề Cảnh công.

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tề Cảnh công phong Thôi Trữ làm tướng quốc, cùng Khánh Phong điều hành chính sự. Không lâu sau Khánh Phong mưu trừ Thôi Trữ để một mình nắm quyền. Nhân nhà họ Thôi có việc tranh chấp thừa kế giữa con lớn và con nhỏ, Khánh Phong giả cách giúp Thôi Trữ dẹp loạn 2 người con lớn nhưng nhân đó giết cả nhà họ Thôi. Thôi Trữ nhận ra mình bị lừa gạt bèn tự sát. Quyền chính nước Tề về tay Khánh Phong.

Năm 545 TCN, thấy Khánh Phong cùng con là Khánh Xá chuyên quyền, bốn họ đại phu họ Bão, họ Cao, họ Loan và họ Điền mưu trừ họ Khánh. Nhân có các vệ sĩ cũ của Tề Trang công là Lư Bồ Quý và Vương Hà muốn báo thù cho chủ, họ bèn liên kết với nhau. Thừa dịp Khánh Phong đi săn, chỉ có Khánh Xá ở nhà, Lư Bồ Quý và Vương Hà phát động binh biến, được 4 nhà mang quân trợ giúp. Kết quả họ Khánh bị diệt, Khánh Phong một mình bỏ chạy sang lưu vong ở nước Ngô, được Ngô Dư Sái thu nạp, sau bị quân Sở giết chết.

Từ khi hai họ Thôi, Khánh bị trừ khử, chính sự nước Tề ổn định trở lại. Tề Cảnh công được sự phò tá của tướng quốc Án Anh và các họ Điền, Loan, Cao, Bão.

Năm 539 TCN, Tề Cảnh công sai Án Anh đi sứ nước Tấn, thiết lập lại quan hệ hòa bình sau nhiều năm xung đột trong các đời vua trước. Sau đó liên tiếp trong các năm 536 TCN530 TCN, đích thân Tề Cảnh công sang nước Tấn.

Năm 540 TCN, Yên Huệ công bị họ quý tộc nổi chống lại phải chạy sang nước Tề lánh nạn. Bốn năm sau, Tề Cảnh công sai Cao Yển đến xin Tấn Bình công cùng nhau giúp Yên Huệ công. Liên quân Tấn-Tề hợp sức đưa Yên Huệ công về nước.

Năm 528 TCN, ông lại cùng tướng quốc Án Anh sang nước Lỗ học hỏi về lễ nghi. Đến năm 517 TCN, Lỗ Chiêu công bị quyền thần họ Quý đánh đuổi chạy sang nước Tề. Tề Cảnh công bèn mang quân đánh Lỗ, lấy đất Vận cho Lỗ Chiêu công ở.

Năm 502 TCN, tướng Dương Hổ nước Lỗ chống lại Lỗ Định công thất bại bèn chạy sang Tề xin Tề Cảnh công đánh Lỗ. Theo lời can của đại phu họ Bão, Tề Cảnh công không đáp ứng yêu cầu của Dương Hổ và bắt giam Hổ[2].

Có thực lực, Tề Cảnh công bắt đầu chống lại nước Tấn. Cũng trong năm 502 TCN, ông cùng Vệ Linh công đi đánh Tấn, chiếm đất Di Nghi. Sau đó ông lại tấn công sang đất Trung Mâu, nhưng bị quân Trung Mâu đánh lui. Tề Cảnh công lui quân, tặng cho Vệ Linh công 3 ấp Chước, Di và Mạnh[3].

Năm 501 TCN, Tề Cảnh công hội với Lỗ Định công ở Giáp Cốc. Ông định trấn áp vua Lỗ nhưng Lỗ Định công có Khổng Tử phò trợ. Tề Cảnh công phải trả lại những vùng đất lấn chiếm của nước Lỗ.

Sau khi Án Anh mất (501 TCN), Tề Cảnh công cũng cao tuổi, chính sự nước Tề kém đi. Năm 493 TCN, họ Phạm và họ Trung Hàng nước Tấn tranh chấp quyền lực với 4 họ thượng khanh khác, sai người sang Tề xin lương thực. Tề Cảnh công nghe lời Điền Khất bèn giúp thóc cho họ Phạm và họ Trung Hàng[4].

Truyền ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Tề Cảnh công có nhiều vợ và nhiều con trai. Người vợ cả là Yển Cơ, sinh được một con trai[5]. Năm 490 TCN, người con này qua đời.

Ông có một người vợ lẽ là Nhuế Cơ, sinh con nhỏ là Khương Đồ. Khi Cảnh công đã già, Khương Đồ còn nhỏ và ít đức. Vì yêu quý Khương Đồ, Cảnh công muốn lập làm thế tử. Các đại phu can ngăn Tề Cảnh công nên chọn trong số những người con thứ đã lớn tuổi lên nối ngôi nhưng ông không nghe.

Mùa thu năm 490 TCN, Tề Cảnh công ốm nặng, bèn lệnh cho đại phu họ Cao và họ Quốc giúp Khương Đồ làm vua và đuổi những người con lớn sang đất Lai. Sau đó Tề Cảnh công qua đời. Ông ở ngôi tất cả 58 năm. Khương Đồ lên nối ngôi, tức là Tề An Nhũ Tử. Chính sự nước Tề bắt đầu lọt vào tay họ Điền.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên, thiên:
    • Tề Thái công thế gia
  • Phương Thi Danh (2001), Niên biểu lịch sử Trung Quốc, Nhà xuất bản Thế giới
  • Khổng Tử (2002), Xuân Thu tam truyện, tập 4-5, Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sử ký, Tề Thái công thế gia; Phương Thi Danh, sách đã dẫn, tr 29
  2. ^ Sau đó Dương Hổ trốn thoát sang nước Tấn
  3. ^ Xuân Thu tam truyện, tập 5, tr 223
  4. ^ Tuy nhiên tới năm 488 TCN, hai họ này vẫn bị diệt
  5. ^ Sử không ghi rõ tên