Lý Thương Ẩn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lý Thương Ẩn
Li Shangyin.GIF
Tiếng Trung: 李商隐
Bính âm: Li Shangyin
Kana: り しょういん
Hangul: 이상은
Tự: Nghĩa Sơn (義山)
Hiệu: Ngọc Khê sinh (玉谿生)
Phiền Nam sinh (樊南生)

Lý Thương Ẩn (chữ Hán: 李商隱; 813 - 858) biểu tự Nghĩa Sơn (義山), hiệu Ngọc Khê sinh (玉谿生), Phiền Nam sinh (樊南生) là một trong những nhà thơ lớn nhất của văn học Trung Quốc sống vào đời Vãn Đường.

Ông là một nhà thơ nổi tiếng với trường phái lãng mạn, giá trị văn học cực cao, cùng Đỗ Mục được gọi là Tiểu Lý Đỗ (小李杜), so sánh với cặp Lý Bạch - Đỗ Phủ trước đó. Ngoài ra, ông cùng Ôn Đình Quân được gọi là Ôn Lý (溫李); cùng Ôn Đình Quân, Đoạn Thành Thức có phong cách thơ văn tương cận, hợp xưng Tam thập lục thể (三十六體).

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Thương Ẩn người tỉnh Hoài Châu (nay là tỉnh Hà Nam, Trung Quốc). Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ sa sút. Cha ông là Lý Tự (李嗣), từng làm huyện lệnhHoạch Gia (nay là Thân Hương, Hà Nam). Khi ông lên ba, cha ông được điều đến vùng Trấn Giang, Thiệu Hưng làm một chức quan nhỏ. Lý Thương Ẩn theo cha sống ở vùng Giang Tô, Chiết Giang.

Năm 9 tuổi, cha ông mất. Lý Thương Ẩn theo mẹ về Huỳnh Dương, sau lại chuyển nhà sang Lạc Dương sống ở đó. Từ đó, gia cảnh vô cùng khốn khó. Thuở thiếu thời của ông sống trong gian truân, cơ nhỡ. Cuộc sống bần cùng khiến Lý Thương Ẩn siêng năng học tập, mong thành công trên đường khoa cử, gầy dựng lại gia cảnh. Lúc đó, ông có người chú họ tài hoa nhưng sống ẩn cư không chịu ra làm quan. Lý Thương Ẩn theo chú học tập, tuy còn nhỏ những đã sớm bộc lộ tài năng.

Nhờ tài năng, Lý Thương Ẩn được Thiên Bình quân tiết độ sứ Lệnh Hồ Sở trọng dụng, cho làm Tuần quan năm 17 tuổi. Lệnh Hồ Sở mến tài ông, nhận làm môn hạ, cho cùng học với các con của mình. Trong đó ông giao du thân nhất với Lệnh Hồ Đào.

Tuy học giỏi, có tài nhưng Lý Thương Ẩn lận đận trên đường khoa cử. Năm 21 tuổi, ông đến kinh thành dự thi Tiến sĩ lần đầu tiên nhưng không đỗ. Năm 23 tuổi, ông lại đến kinh thành ứng thí, vẫn không đỗ, đành về phụng dưỡng mẹ ở Tế Nguyên. Năm 25 tuổi, ông ra ứng thí lần thứ ba, nhờ Lệnh Hồ Đào hết sức tiến cử, nâng đỡ ông mới đỗ tiến sĩ niên hiệu Khai Thành đời Đường Văn Tông (tức năm 837). Từ đó ông làm ở phủ Tiết độ sứ Lệnh Hồ Sở. Tháng 11 năm đó, Lệnh Hồ Sở mất. Năm sau, Lý Thương Ẩn dự khoa thi Bác học hoành từ, nhưng bị đánh rớt. Không đỗ kỳ thi ấy, Thương Ẩn sang làm thuộc quan cho Tiết độ sứ Vương Mậu NguyênKinh Nguyên (nay ở phía bắc huyện Kinh, tỉnh Cam Túc). Vương Mậu Nguyên vì mến tài, đem con gái gả cho Lý Thương Ẩn, nàng ta tên Vương Yến Mỹ (王晏媄).

Họa dung Lý Thương Ẩn.

Bấy giờ, trong triều có hai phe đối nghịch nhau, tranh quyền đoạt lợi, một phe là Ngưu Tăng Nhụ, phe kia là Lý Đức Dụ, sử gọi đây là Ngưu Lý đảng tranh nổi tiếng thời Vãn Đường. Hầu hết quan lại đều bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp ấy. Cha con Lệnh Hồ Sở theo phe Ngưu Tăng Nhụ, còn Vương Mậu Nguyên lại thuộc phe Lý Đức Dụ. Chính vì vậy mà ông bị Lệnh Hồ Đào căm ghét, xem ông là kẻ tiểu nhân bỉ ổi, vong ân bội nghĩa. Nhưng thật ra, ông hoàn toàn không có ý đồ kết phe kết phái cũng như lấy chuyện hôn nhân để mưu cầu danh lợi, mà chỉ vì hoàn cảnh khó khăn đưa đẩy. Rồi cuối cùng ông trở thành vật hy sinh của các thế lực tranh giành nhau dưới thời Tàn Đường.

Năm Khai Thành thứ 4 (839), ông trúng tuyển kỳ thi Thích hạt, kỳ thi của các tân tiến sĩ được mở sau khi qua kỳ thi đình của bộ Lại, được trao chức Bí thư tỉnh Hiệu thư lang (秘书省校书郎). Nhưng Lý Thương Ẩn sau đó bị phái Ngưu bài xích, lại đắt tôi nhiều quan lại cao cấp nên đường công danh trắc trở, có lúc sắp bị bãi chức, giáng làm Huyện úy huyện Hoằng Nông.

Năm Hội Xương thứ 2 (842), Lý Thương Ẩn 29 tuổi. Ông dự thi và trúng tuyển kỳ thi Thư phán bạt tụy của bộ Lại, được trao chức Bí thư tỉnh chính tự (秘書省正字), chức quan giữ việc văn thư trong cung cấm, hàm Chính cửu phẩm, hạ giai. Ông rất muốn thực hiện hoài bão tạo dựng tiếng tăm của mình. Năm thứ 3 (843), cha vợ ông là Vương Mậu Nguyên mất.

Năm Hội Xương thứ 6, Đại Trung nguyên niên (846), Đường Tuyên Tông lên ngôi, trọng dụng phái Ngưu, bài trừ phái Lý. Lý Đức Dụ thất thế. Lý Thương Ẩn đến kinh thành nhưng không được làm gì cả. Sau ông theo Trịnh Á, làm chức quan Sát phán quan (thư ký). Bắt đầu từ đó, ông một thân lưu lạc, sống cuộc sống đau buồn khổ sở vì bất đắc chí lại thêm nỗi nhớ quê hương da diết. Trịnh Á bị đổi ra Lĩnh Biểu, ông cũng đi theo. Ba năm sau ông trở về, làm truyện tào tại Kinh Triệu. Ông nhiều lần đưa thư, dâng thơ cho Lệnh Hồ Đào để phân trần và xin tiến dẫn, nhưng vẫn bị lạnh nhạt.

Năm Đại Trung thứ 5 (851), vợ ông là Vương thị mất vì bệnh nặng, ông bị đả kích rất lớn. Tiết độ sứ Đông ThụcLiễu Trọng Sính dùng ông làm Phán quan, kiểm hiệu Công bộ Viên ngoại lang. Do lận đận trong chốn quan trường, bất đắc chí lại thêm nỗi đau mất vợ, ông chuyển hướng sang Phật giáo. Nhưng thực tế, ông hoàn toàn không tách khỏi hiện thực mà còn viết rất nhiều thơ văn dâng lên nhắc nhở triều đình quan tâm đến chính sự.

Năm thứ 11 (857), Liễu Trọng Sính bị bãi quan, ông cũng mất chức. Như thế là ông mắc kẹt giữa hai phái Ngưu Lý, chưa hề được đắc chí trên hoạn lộ, bôn ba khắp nơi: Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Từ Châu nương nhờ hết người này đến người khác. Suốt cả đời long đong khốn khổ. Cuối cùng ông về đất Trịnh Châu, rồi bệnh chết trong niềm cô đơn, uất ức, đau khổ khi chỉ mới 46 tuổi.

Sự nghiệp văn chương[sửa | sửa mã nguồn]

Con đường công danh của Lý Thương Ẩn vô cùng gập ghềnh nhưng trong nền thơ Đường, Lý Thương Ẩn có một vị trí không nhỏ bên cạnh các thi nhân nổi tiếng khác như Đỗ Phủ, Lý BạchBạch Cư Dị.

Tác phẩm của ông gồm có "Phàn nam giáp tập" (20 quyển), "Ất tập" (20 quyển), "Ngọc khê sinh thi" (3 quyển); ngoài ra còn một quyển phú và một quyển văn. Thơ Lý Thương Ẩn hiện còn khoảng 600 bài, bao gồm ba nội dung chính. Một là thơ phản ánh những vấn đề chính trị, hai là thơ vịnh vật trữ tình, ba là thơ tình yêu (chủ yếu là viết cho người vợ quá cố Vương Thị). Những vấn đề chính trị phản ánh trong thơ ông chỉ chiếm một phần nhỏ trong số đó. Đây là hiện tượng đặc biệt so với các thi nhân trong thời Tàn Đường.

Thơ Lý Thương Ẩn có nhiều nét rất đặc sắc so với truyền thống thơ Đường. Ông tiếp thu ảnh hưởng cổ thi, nhạc phủ Hán - Ngụy và cả cung thể Lương - Trần. Ông cũng học tập phong cách hiện thực của Đỗ Phủ, phong cách lãng mạn của Lý Hạ. Vì vậy thơ ông khá phức tạp cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật. Đặc sắc nhất trong thơ Lý Thương Ẩn là thơ tình. Ông có những bài thơ tình đặc sắc, nhiều bài thể hiện khát vọng, mang tâm trạng ẩn ức về hôn nhân - vấn đề mà lễ giáo phong kiến không cho phép tự do.

Vương An Thạch đời Tống khen rằng người đời Đường học tập Đỗ Phủ mà đạt được mức "phiên ly" (rào dậu, xấp xỉ) như ông thì chỉ có một mình Lý Thương Ẩn. Dương ỨcLư Tử Nghi bắt chước phong cách thơ ông, làm ra tập "Tây Côn thù xướng" nên có tên "Tây Côn thể".

Một nhà thơ chung tình[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Thương Ẩn là nhà thơ giàu tình cảm và rất yêu vợ. Ông có tình cảm sâu nặng với người vợ Vương Thị của mình. Khi vợ qua đời, Lý Thương Ẩn vô cùng đau khổ. Ông đã làm nhiều bài thơ khóc vợ, trong số đó có những bài "Vô đề" rất nổi tiếng. Lý Thương Ẩn có thể nói là một trong số rất ít những nhà thơ viết về người vợ của mình.

Những bài thơ "Vô đề" của ông âm điệu nhịp nhàng uyển chuyển, tình điệu thê lương ai oán, niêm luật nghiêm túc chỉnh tề, ngôn từ gọt dũa bay bướm, tạo nên những hình tượng tươi đẹp, sinh động, cảm xúc sâu sắc chân thành. Tuy nhiên do cuộc đời nếm trải quá nhiều đau khổ, Lý Thương Ẩn trở nên bi quan tiêu cực, bám lấy hư vô chủ nghĩa, kết hợp với sự suy tàn của thời đại.

Dưới đây là một số bài thơ tiêu biểu, thể hiện tình yêu cao đẹp, sâu nặng của ông đối với người vợ quá cố:

无题
...
相見時難別亦難,
東風無力百花殘;
春蠶到死絲方盡,
蠟炬成灰淚始乾。
曉鏡但愁雲鬢改,
夜吟應覺月光寒;
蓬萊此去無多路,
青鳥殷勤為探看。
Vô Đề
...
Tương kiến thì nan biệt diệc nan,
Đông phong vô lực bách hoa tàn.
Xuân tàm đáo tử ti phương tận,
Lạp chúc thành hôi lệ thủy can.
Hiểu kính đãn sầu vân mấn cải,
Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn.
Bồng Lai thử khứ vô đa lộ,
Thanh điểu ân cần vị thám khan.
嫦娥
...
雲母屏風燭影深,
長河漸落曉星沉;
嫦娥應悔偷靈藥,
碧海青天夜夜心。
Thường Nga
...
Vân mẫu bình phong chúc ảnh thâm,
Trường hà tiệm lạc hiểu tinh trầm.
Thường Nga ưng hối thâu linh dược,
Bích hải thanh thiên dạ dạ tâm.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Truyện ký/ Lịch sử tiểu thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cựu Đường thư卷二○○列傳第一百四十文苑下
  • Tân Đường thư卷二○三列傳第一百二十八文藝下
  • 唐才子传卷七,[元]辛文房
  • 《李商隐评传》,刘维崇,台北·黎明文化事业公司,1978
  • 《李商隐》,刘学锴 余恕诚,北京·中华书局,1980
  • 《李商隐评传》,杨柳,南京·江苏人民出版社,1981
  • 《李商隐诗传》,钟铭钧,郑州·中州书画社,1982
  • 《李商隐传》,董明钧,台北·国际文化出版社,1985
  • 《李商隐传》,董乃斌,西安·陕西师范大学出版社,1985
  • 《李商隐全传》,李庆皋 王桂芝,长春出版社,1995
  • 《李商隐哀传》,梁锡华,北京·华夏出版社,1996
  • 《李商隐传》,毕宝魁,沈阳·辽海出版社,1998
  • 《凤尾香罗》,高阳,北京·新星出版社,2005

Nghiên cứu chuyện trứ[sửa | sửa mã nguồn]

  • 《玉谿生年谱会笺(外一种)》,[清]冯浩 谱,张采田 笺,北京·中华书局,1963
  • 平野顯照著,張桐生譯:《唐代的文學與佛教》(台北:業強出版社,1987),〈李商隱的佛教與文學〉,頁325-356。
  • 《晚唐:九世紀中葉的中國詩歌(827-860)》, Stephen Owen宇文所安)著,賈晉華等譯,北京:三聯書店,2011)。
  • 《考证新解李商隐爱情诗选》,曾大宾,复文书局,1971
  • 《李义山诗析论》,张淑香,台北·艺文印书馆,1974
  • 《李商隱詩論稿》,藍于,香港·中華書局,1975
  • 《沧海明月珠有泪——李商隐诗赏析》,颜崑阳,台北·伟文图书公司,1978
  • 《李商隐》,刘学锴 余恕诚,北京·中华书局,1980
  • 《李商隐诗研究论文集》,中山大学中文学会,台北·天工书局,1984
  • 《李商隐研究(增订本)》,吴调公,上海·上海古籍出版社,1986
  • 《李义山诗研究》,黄盛雄,台北·文史哲出版社,1987
  • 《玉谿诗迷正续合编》,苏雪林,台北·商务印书馆,1988
  • 《李商隐诗抒情艺术透视》,刘静生,北京·中国华侨出版社,1990
  • 《李商隐诗笺释方法论》,颜崑阳,台北·学生书局,1991
  • 《李商隐艳情诗之谜》,白冠云,台北·明文书局,1991
  • 《李商隐的心灵世界》,董乃斌,上海·上海古籍出版社,1992
  • 《想象的边疆:论李商隐诗中的否定词》,林美清,台北·文史哲出版社,1997
  • 《李商隱诗歌研究》,刘学锴,合肥·安徽大学出版社,1998
  • 《李商隐资料汇编》,刘学锴 余恕诚,北京·中华书局,2001
  • 《中国诗学研究第2辑·李商隐研究专辑》,安徽师范大学中国诗学研究中心编,上海·上海古籍出版社,2003

Tác phẩm tập[sửa | sửa mã nguồn]

  • 《李义山诗集》,[清]朱鹤龄,成都·四川人民出版社,1958
  • 《李商隐诗选》,安徽师大中文系古典文学教研组,北京·人民文学出版社,1978
  • 《玉谿生诗集笺注》,[清]冯浩,上海·上海古籍出版社,1979
  • 《李商隐诗选译》,陈永正,成都·巴蜀书社,1979
  • 《李商隐诗选》,陈永正,台北·木铎出版社,1980
  • 《李商隐诗选注》,陈伯海,上海·上海古籍出版社,1982
  • 《李商隐诗选译》,许祖性,西宁·青海人民出版社,1984
  • 《李商隐诗选》,周锡馥,广州·广东人民出版社,1984
  • 《李商隐诗集疏注》,叶葱奇,北京·人民文学出版社,1985
  • 《李商隐选集》,周振甫,上海·上海古籍出版社,1986
  • 《玉谿生诗醇》,王汝弼 聂石樵,济南·齐鲁书社,1987
  • 《李商隐无题诗校注笺评》,黄世中,南昌·江西人民出版社,1987
  • 《李商隱诗歌集解》,刘学锴 余恕诚,北京·中華書局,1988
  • 《李商隐诗选》,刘学锴 余恕诚,北京·人民文学出版社,1993
  • 《李商隐诗歌赏析集》,周振甫 等,成都·巴蜀书社,1993
  • 《李商隐诗歌精选》,顾之京 范宏杰 姚守梅,石家庄·花山文艺出版社,1996
  • 《李商隐及其作品》,郁贤皓 朱易安 陈伯海,上海·上海古籍出版社,1999
  • 《李商隐诗译注》,邓中龙,长沙·岳麓书社,2000
  • 《李商隱文编年校注》,刘学锴 余恕诚,北京·中華書局,2002
  • 《汇评本李商隐诗》,刘学锴,上海·上海社会科学院出版社,2002
  • 《李商隐集》,张强 刘海宁,太原·山西古籍出版社,2004