Ariana Grande

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ariana Grande
Ariana Grande during The Honeymoon Tour in Jakarta 2015.jpg
Ariana Grande đi tour năm 2015
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Ariana Grande-Butera
Sinh 26 tháng 6, 1993 (23 tuổi)
Boca Raton, Florida, Mỹ
Thể loại Pop, R&B[1]
Nghề nghiệp Ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên
Nhạc cụ Piano
Năm hoạt động 2008–nay
Hãng đĩa Republic
Website arianagrande.com

Ariana Grande-Butera[2][3] (sinh ngày 26 tháng 6 năm 1993),[4][5] nghệ danh Ariana Grande, là ca sĩ, nhạc sĩ và diễn viên người Mỹ. Ariana lớn lên ở Boca Raton, Florida. Cô xuất hiện lần đầu tiên trên sân khấu Broadway vào năm 2008 với vai Charlotte trong vở nhạc kịch 13. Từ năm 2010 đến năm 2013, cô thủ vai Cat Valentine trong các phim hài kịch tình huống Victorious, iCarlySam & Cat của Nickelodeon.[6]

Tháng 3 năm 2013, Grande đạt được thành công khi đĩa đơn "The Way" từ album đầu tay Yours Truly lọt vào top 10 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và được RIAA chứng nhận đĩa bạch kim đôi.[7][8][9] Album cũng được đánh giá rất cao và lọt vào vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Billboard 200. Sau đó Grande đã nhận được giải thưởng nghệ đột phá của năm từ Music Business Association cho những thành tựu của mình trong suốt năm 2013.[10]

Album thứ hai của Grande, My Everything (2014), đạt hạng nhất tại Mỹ và đạt top 10 tại nhiều quốc gia khác. Với các đĩa đơn "Problem", "Break Free", "Bang Bang" và "Love Me Harder" từ album đó, cô xuất hiện 34 tuần liên tiếp trong top 10 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và trở thành nghệ sỹ có nhiều đĩa đơn đạt top 10 nhất năm 2014. Trong năm 2015, Grande đi quảng bá My Everything thông qua tour diễn vòng quanh thế giới đầu tiên của cô, The Honeymoon Tour, và xuất hiện với vai trò khách mời trong bộ phim kinh dị của hãng Fox, Sream Queens. Cũng trong năm đó, cô ra mắt đĩa đơn "Focus", đạt hạng 7 tại Mỹ và một đĩa mở rộng nhạc giáng sinh, Christmas & Chill. Đồng thời, cô cũng xuất hiện trong một vài dự án hợp tác khác. Trong năm 2016, Grande tung ra album phòng thu thứ ba, Dangerous Woman. Bài hát cùng tên với album ra mắt tại hạng 10 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, giúp cho cô trở thành người đầu tiên trong lịch sử bảng xếp hạng này có đĩa đơn mở đường của cả ba album đầu tiên ra mắt trong top 10. Dangerous Woman đạt hạng 2 trên Billboard 200. Tính tới tháng 1 năm 2017, tất cả các video âm nhạc của cô đã được xem tổng cộng là gần 7 tỉ lần trực tuyến.[11]

Kho giải thưởng của Grande bao gồm ba giải American Music Awards,  Music Business Association's Breakthrough Artist of the Year, an MTV Video Music Award, ba giải MTV Europe Music Awards và bốn đề cử Giải Grammy. Tất cả ba album đầu tay của cô đều đã đạt chứng nhận bạch kim hoặc hơn bởi RIAA. Trong năm 2016, Grande xuất hiện trong danh sách 100 người ảnh hưởng nhất thế giới của tạp chí Time. Grande có lượng lớn người theo dõi trên các phương tiện thông tin đại chúng, cô là người có số lượng theo dõi cao thứ 4 trên Instagram. Trong năm 2017, Grande đi tour tại Bắc Mỹ và Châu Âu.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Grande sinh ra và lớn lên tại Boca Raton, Florida; là con gái của nhà thiết kế đồ họa Joan Grande và CEO của Hose-McCann Communications Edward Butera. Anh trai cùng mẹ khác cha của cô, Frankie Grande, là một diễn viên, vũ công và nhà sản xuất âm nhạc.[12][13] Cô là người gốc Ý.[14]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2008–12: Khởi đầu sự nghiệp và Victorious[sửa | sửa mã nguồn]

Grande biểu diễn cùng dàn diễn viên của Victorious.

Năm 2008, Grande thủ vai Charlotte trong vở nhạc kịch Broadway 13 và nhận được một giải thưởng National Youth Theatre Association Award. Để tham gia vở nhạc kịch này, Grande đã không thể đến trường nhưng cô vẫn tiếp tục theo học cùng gia sư.[15][16] Năm 2010, cô thủ vai Miriam trong vở nhạc kịch Cuba Libre do Desmond Child sản xuất.[15] Trong bộ phim truyền hình Victorious, khởi chiếu từ tháng 3 năm 2010, Grande vào vai Cat Valentine, một cô gái ngây thơ và nhí nhảnh với m

ái tóc đỏ được nhuộm theo màu của loại bánh ưa thích. Phim kết thúc vào ngày 2 tháng 2 năm 2013. Grande trở thành gương mặt trang bìa trên số tháng 8 năm 2011 của tạp chí Dream.[17] Năm 2011, Grande lồng tiếng cho nhân vật công chúa Diaspro trong bộ phim hoạt hình Winx Club của Nickelodeon đồng thời thủ vai chính Bạch Tuyết trong vở nhạc kịch A Snow White Christmas của Pasadena Playhouse từ ngày 13 đến ngày 23 tháng 12.[18]

Grande vào tháng 7 năm 2011

Ngày 3 tháng 8 năm 2012, Nickelodeon cho biết Grande sẽ xuất hiện cùng Jennette McCurdy trong Sam & Cat, vẫn trong các vai Cat Valentine và Sam Puckett từ VictoriousiCarly.[19]

Grande đã hát solo trong nhiều dàn nhạc giao hưởng ở Nam Florida như Philharmonic, Pops và Symphonia.[4] Cô cũng biểu diễn nhiều lần tại câu lạc bộ nhạc jazz Birdlandthành phố New York.[4]

Victorious 3.0, album nhạc phim thứ ba của Victorious được phát hành vào ngày 6 tháng 11 năm 2012. Trước đó, "LA Boyz", đĩa đơn đầu tiên từ album này do Grande và Justice biểu diễn được phát hành vào ngày 18 tháng 10 năm 2012. Grande cũng đã song ca cùng với MIKA trong phiên bản đĩa đơn của bài hát "Popular Song".[20]

2013: Album phòng thu đầu tay Yours TrulySam & Cat[sửa | sửa mã nguồn]

Grande hoàn thành album phòng thu đầu tay của mình, Yours Truly, vào tháng 6 năm 2013.[21] Album được phát hành vào ngày 2 tháng 9 năm 2013 tại Anh và một ngày sau tại Mỹ.[22] Yours Truly được gợi cảm hứng từ những nghệ sĩ như Amy Winehouse, Mariah Carey, Whitney Houston, Alicia Keys, Christina Aguilera, Katy Perry, Madonna, Sky Blue của LMFAO, 3OH!3, Kool KojakPebe Sebert.[23][24][25] Đĩa đơn đầu tiên từ album này, "The Way", với sự tham gia của rapper Mac Miller, được phát hành vào ngày 26 tháng 3 năm 2013[26][27][28] và sau đó lọt vào Top 40[7][8] đồng thời được chứng nhận đĩa bạch kim tại Mỹ[29] và đĩa vàng tại Australia.[30] Đĩa đơn thứ hai của album, "Baby I", được phát hành vào ngày 22 tháng 7 năm 2013.[31] Yours Truly xuất hiện lần đầu tiên trên bảng xếp hạng US Billboard 100 tại vị trí thứ nhất sau khi bán được 2,500,000 triệu bản trong tuần đầu tiên.[32] Grande là nghệ sĩ nữ đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng này với album đầu tay của mình sau Ke$ha với album Animal (2010) và là nghệ sĩ nữ thứ 15 làm được điều này.[32][33] Album cũng đã lọt vào top 10 tại Úc,[34] Anh,[35] Ireland[36] và Hà Lan.[37]

Grande thủ vai Amanda Benson trong Swindle, bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên, của Gordon Korman cùng với bạn diễn Sam & Cat Jennette McCurdy.[38][39] Ngày 25 tháng 8 năm 2013, Grande xuất hiện lần đầu tiên tại một lễ trao giải Video âm nhạc của MTV đồng thời biểu diễn hai đĩa đơn "Baby I" và "The Way." Tại lễ trao giải Giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2013, cô đã biểu diễn bài hát "Tattooed Heart" và nhận được giải thưởng nghệ sĩ mới của năm.[40] Màn biểu diễn của cô đã nhận được sự khen ngợi từ một số người nổi tiếng như Kelly ClarksonLady Gaga cũng như sự chú ý của báo giới.[41]

Tháng 12 năm 2013, Grande phát hành EP nhạc Giáng sinh Christmas Kisses.

2014: My Everything[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 2014, Grande xác nhận rằng đã bắt đầu thu âm cho album phòng thu thứ hai của mình[42][43] và cho biết đang cộng tác với Ryan TedderBenny Blanco.[44] Ngày 4 tháng 3, Tổng thống Barack Obama và Đệ nhất Phu nhân Michelle Obama đã mời Grande biểu diễn tại buổi hòa nhạc "Women of Soul: In Performance at the White House" (tâm hồn của người phụ nữ: trong buổi biểu diễn ở Nhà Trắng), diễn ra vào ngày 6 tháng 3.[45][46] Sau đó cô tiếp tục biểu diễn tại Nhà Trắng trong sự kiện Easter Egg Roll vào ngày 21 tháng 4.[47] Grande nhận được giải thưởng nghệ sĩ đột phá của năm từ Music Business Association cho những thành tựu của mình như album đầu tay đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Yours Truly và đĩa đơn được chứng nhận bạch kim đôi "The Way".

Cuối tháng 3 năm 2014, Grande xác nhận rằng đã hoàn tất album phòng thu thứ hai của mình.[48] Đĩa đơn đầu tiên từ album này là "Problem" với sự góp mặt của rapper người Australia Iggy Azalea.[49] Bài hát được ra mắt tại lễ trao giải 2014 Radio Disney Music Awards vào ngày 27 tháng 4[50] và đạt 1,200,000 triệu lượt tải về, giúp Grande trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên bán được hơn 7,000,000 triệu bản trong tuần đầu tiên.[51] Trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, bài hát xuất hiện lần đầu tiên ở vị trí thứ 3, sau đó vươn lên vị trí thứ 2, và trở thành đĩa đơn thứ hai của Grande lọt vào top 10 sau "The Way". Ngoài ra, "Problem" còn đạt vị trí khởi đầu cao nhất đối với một bài hát có sự cộng tác của hai nghệ sĩ nữ.[52] Ngày 6 tháng 7, "Problem" đứng đầu bảng xếp hạng đĩa đơn tại Anh và trở thành đĩa đơn đầu tiên của cô lọt vào top 40.[53][54] Đĩa đơn thứ hai, "Break Free", với sự tham gia của nhà sản xuất Zedd, được ra mắt vào ngày 2 tháng 7 trên chương trình Total Ariana Live.[55]

Ngày 28 tháng 6 năm 2014, Grande công bố tên album phòng thu thứ hai của mình là My Everything. Album đã được phát hành vào ngày 25 tháng 8.[56][57]

2015 - 2016: Honeymoon Tour và Dangerous Woman[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2015, Ariana khởi động tour diễn vòng quanh thế giới đầu tiên của cô, The Honeymoon Tour, tại Mỹ và sau đó tới Châu Âu cùng một vài điểm tại Châu Á và Nam Mỹ. The Honeymoon Tour đạt $14 triệu đô trong 25 đêm diễn đầu tiên với 290,699 vé bán ra. Sau các thành công ban đầu của tour diễn, nhiều điểm đến mới được bổ sung, và tour diễn kết thúc vào tháng 10 năm 2015 với 90 đêm diễn.

Ariana Grande quay lại diễn xuất với vai Chanel #2 trong Scream Queens chiếu trên đài Fox.

Grande cũng cho ra mắt hiệu nước hoa riêng của mình mang tên "Ari by Ariana Grande".

Cũng trong năm 2015, cô bắt đầu thu âm album phòng thu thứ 3, Dangerous Woman, với cái tên dự định ban đầu là Moonlight. Grande tung đĩa đơn "Focus" với ý định làm đĩa đơn mở đường cho album vào tháng 10 năm 2015. "Focus" đạt hạng 7 trên Billboard Hot 100 với video âm nhạc đạt hơn 600,000,000 lượt xem trên Youtube. Đồng thời trong năm đó, cô cũng góp mặt trong một vài sản phẩm âm nhạc hợp tác khác. Điển hình là "E Più Ti Penso" với Andrea Bocelli trong album Cinema của ông.

Vào tháng 3 năm 2016, Grande tung ra "Dangerous Woman" với tư cách là đĩa đơn mở đường mới cho album cùng tên.

2017 - nay:[sửa | sửa mã nguồn]

Grande khởi động Dangerous Woman Tour vào mùng 3 tháng 2 năm 2017. Theo lịch trình dự kiến, tour diễn sẽ trải dài khắp nước Mỹ rồi sau đó đến Châu Âu vào tháng 5 năm 2017.

Giọng hát và phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Giọng của Grande là giọng soprano với âm vực gồm 4 quãng tám và nửa cung E♭3-E7.[58] Cô được xem là một ca sĩ linh hoạt với giọng hát cao và âm vang[58] được so sánh với Mariah CareyWhitney Houston.[59][60] Âm nhạc của Grande chủ yếu thuộc thể loại popR&B với những yếu tố của funk, dancehip hop.[1][61]

Grande chủ yếu chịu ảnh hưởng từ Mariah Carey, India.ArieWhitney Houston,[15][62][63] cũng như ca sĩ, nhạc sĩ người Anh Imogen Heap.[63]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 2012 đến mùa hè năm 2013, Grande đã hẹn hò với Jai Brooks, thành viên nhóm The Janoskians.[64][65][66]

Hoạt động từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc 10 tuổi, Grande đồng sáng lập nhóm Kids Who Care tại Nam Florida để biểu diễn ở các sự kiện gây quỹ từ thiện. Nhóm đã quyên góp được 500,000 đô la Mỹ chỉ tính riêng trong năm 2007.[15] Mùa hè năm 2009, với tư cách là thành viên của tổ chức từ thiện Broadway in South Africa, Grande biểu diễn và dạy nhạc cho trẻ em ở Gugulethu, Nam Phi cùng với anh mình.[5][67][68] Grande cũng đang hợp tác với Kleenex trong chiến dịch "Shield Sneeze Swish".[69]

Các phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh và truyền hình
Năm Tên phim Vai diễn Ghi chú
2009 The Battery's Down Bat Mitzvah Riffer Tập: "Bad Bad News"
2010–13 Victorious Cat Valentine Vai chính
2011 iCarly Cat Valentine Tập: "iParty with Victorious"
2011 Winx Club Diaspro Lồng tiếng; 4 tập
2013–2014 Sam & Cat Cat Valentine Vai chính
2013 Swindle Amanda Benson Vai chính
2014 Family Guy Cô con gái người Ý Tập: "Mom's the Word"; lồng tiếng

Sân khấu kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên vở kịch Vai diễn
2008 13 Charlotte
2012 Cuba Libre[15] Miriam
2012 A Snow White Christmas[70] Bạch Tuyết

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Đề cử và giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Hoạt động Kết quả
2008 National Youth Theatre Association Awards Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất 13 Đoạt giải[72]
2010 Hollywood Teen TV Awards Nữ diễn viên hài được yêu thích nhất Victorious Đề cử[73]
2012 Nữ diễn viên phim truyền hình được yêu thích nhất Đoạt giải[74]
2013 Billboard Mid-Year Music Awards Nghệ sĩ mới xuất nhắc nhất
Đoạt giải[75]
Teen Choice Awards Bài hát về tình yêu xuất sắc nhất "The Way" Đề cử
Nghệ sĩ đột phá
Đề cử
Candies' Style Icon
Đề cử
Ngôi sao nữ của mùa hè
Đề cử
MTV Europe Music Awards[76] Nghệ sĩ đang lên
Đề cử
American Music Awards[40] Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất
Đoạt giải
Music Choice Awards[77][78] Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất
Đoạt giải
Capricho Awards[79] Nghệ sĩ quốc tế mới xuất sắc nhất
Đoạt giải
Bài hát song ca được yêu thích nhất "The Way" Đoạt giải
2014 People's Choice Awards[80] Nghệ sĩ đột phá được yêu thích nhất
Đoạt giải
NAACP Image Award[81] Nghệ sĩ mới xuất sắc
Đề cử
World Music Awards[82] Bài hát xuất sắc nhất "Baby I" & "The Way" Đề cử
Video xuất sắc nhất "Baby I" & "The Way" Đề cử
Nghệ sĩ nữ xuất sắc nhất
Đề cử
World's Best Live Act
Đề cử
World's Best Entertainer
Đề cử
Kids' Choice Awards[83][84][85] Diễn viên truyền hình được yêu thích nhất
Đoạt giải
UK Favorite Fan Family – Arianators
Đề cử
Aussie's Favorite Hottie
Đề cử
Radio Disney Music Awards[86] Nghệ sĩ đột phá của năm
Đề cử
Chart Topper
Đoạt giải
Most Talked About Artist
Đề cử
MTV Video Music Awards Japan[87] Video của nghệ sĩ mới xuất sắc nhất "Baby I" Đoạt giải
Billboard Music Awards[88] Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất
Đề cử
IHeartRadio Music Awards[89] Best Fan Army – Arianators
Đề cử
Young Influencer
Đoạt giải
NAARM-Music Business Association Nghệ sĩ đột phá của năm
Đoạt giải
BET Awards[90] Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất
Đề cử
Teen Choice Awards[91] Choice Female Artist
Chưa quyết định
Choice Female Hottie
Chưa quyết định

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Ariana Grande - Overview”. Allmusic. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2013. 
  2. ^ “Twitter: Ariana Grande (verified account)”. Ngày 5 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2012. @pridelittlered Ariana Grande-Butera, everyone thinks Joan is my middle name but I don't actually have one! What's your middle name luv? 
  3. ^ “Twitter: Ariana Grande (verified account)”. Ngày 3 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2012. Oh my goodness. Look what I just found!.. This is my school ID from 8th grade. LOL. Had 2 share this with you guys. 
  4. ^ a ă â “Ariana Grande – about”. arianagrande.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  5. ^ a ă “Twitter: Ariana Grande (verified account)”. Ngày 26 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2010. I was born 17 years ago today. Woooop.:) 
  6. ^ Johnson, Zach (ngày 25 tháng 6 năm 2013). “Ariana Grande Opens Up About an "Unhappy" Work Experience”. US Weekly. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2013. 
  7. ^ a ă Lipschultz, Jason (ngày 16 tháng 6 năm 2013). “Ariana Grande Previews 'Baby I' Single, Announces Tour Dates”. BILLBOARD. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2013. 
  8. ^ a ă Johnson, Chandra (ngày 25 tháng 6 năm 2013). “Ariana Grande Was 'So Unhappy' With 'Victorious' Drama Sam & Cat star dishes to Seventeen about on-set troubles.”. MTV.com. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2013. 
  9. ^ “RIAA – Ariana Grande”. Recording Industry Association of America. Ngày 1 tháng 4 năm 2013. 
  10. ^ Ariana Grande to be Awarded 'Breakthrough Artist of the Year' by Music Business Association
  11. ^ “ArianaGrandeVevo”. 
  12. ^ Carroll, Timothy. “Frankie Grande - Interview”. 
  13. ^ Laracy, Noah. "Ariana Grande: A Back Stage Exclusive". Back Stage, ngày 6 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010; and "Frankie Grande's One-Man Show Living La Vida Grande Comes to New York", BroadwayWorld.com, ngày 13 tháng 9 năm 2013.
  14. ^ “Twitter: Ariana Grande (verified account)”. Ngày 22 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2011. I am Italian American, half Sicilian and half Abruzzese… 
  15. ^ a ă â b c “Ariana Grande - About Ariana”. OfficalArianaGrande. Truy cập 2012.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “AboutAriana” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “AboutAriana” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “AboutAriana” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “AboutAriana” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  16. ^ “Ariana Grande: From Boca To Broadway”. Girl2watch.com. Ngày 4 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010. 
  17. ^ August Cover: Ariana Grande.
  18. ^ “Ariana Grande, Charlene Tilton and Neil Patrick Harris Headline A Snow White Christmas at Pasadena Playhouse, 12/13-23 – BroadwayWorld.com « Pasadena Playhouse”. Pasadenaplayhouse.org. Ngày 7 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2012. 
  19. ^ “Nickelodeon greenlights an 'iCarly' spinoff and other new shows”. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012. 
  20. ^ “Ariana Grande Finishes Recording First Album”. Fanlala. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2013. 
  21. ^ “Scooter Braun Makes An Announcement About Ariana Grande’s "Yours Truly" Album”. Nickutopia. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2013. 
  22. ^ “Ariana Grande Writing W/ NICK JONAS!”. oceanUP.com. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2013. 
  23. ^ Log nu in om een reactie te plaatsen. (ngày 1 tháng 4 năm 2011). “Ariana Grande Talks Working With Nick Jonas”. YouTube. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2013. 
  24. ^ “Nick Jonas”. Nick J Online. Ngày 6 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2013. 
  25. ^ “Twitter / ArianaGrande: My new single "The Way" feat”. Twitter.com. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2013. 
  26. ^ “The Way: Ariana Grande: MP3 Downloads”. Amazon.com. Ngày 1 tháng 1 năm 1970. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2013. 
  27. ^ “iTunes - Music - The Way (feat. Mac Miller) - Single by Ariana Grande”. Itunes.apple.com. Ngày 26 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2013. 
  28. ^ “RIAA - Ariana Grande”. Recording Industry Association of America. Ngày 1 tháng 4 năm 2013. 
  29. ^ “ARIA Charts - Accreditations - 2013 Singles”. Australian Recording Industry Association. Ngày 1 tháng 4 năm 2013. 
  30. ^ Mon, ngày 15 tháng 7 năm 2013 2:00pm EDT by Avery Thompson (ngày 15 tháng 7 năm 2013). “Ariana Grande: ‘Baby I’ — Singer Reveals Name Of New Single”. Hollywood Life. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2013. 
  31. ^ a ă “Ariana Grande: ‘Yours Truly’ — debuts at number one”. Rap-Up. Ngày 11 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2013. 
  32. ^ “Ariana Grande: ‘Yours Truly’ — debuts at number one and becomes the fifteenth artist to do so”. Billboard. Ngày 11 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2013. 
  33. ^ “WEEK COMMENCING 9 SEPTEMBER, 2013”. ARIA Charts. 
  34. ^ Lane, Daniel. “The 1975 score debut Number 1 album”. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2013. 
  35. ^ “Top 100 Individual Artist Albums Week Ending 5th September 2013”. IRMA. 
  36. ^ “Yours Truly”. Dutch Charts. 
  37. ^ “News | New Deets on Swindle!”. Nick.com. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2013. 
  38. ^ Marechal, AJ (ngày 3 tháng 10 năm 2012). “Nick stars set to ‘Swindle’”. Variety. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2013. 
  39. ^ a ă “AMAs 2013: See the complete winners list”. ew.com. Ngày 25 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2013. 
  40. ^ Ariana Grande Smashed The American Music Awards, Just Ask Kelly Clarkson
  41. ^ Fox, Sarah (ngày 13 tháng 1 năm 2014). “Ariana Grande Back To Work In The Studio, Recording Second Album”. The Slanted. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2014. 
  42. ^ Menyes, Carolyn (ngày 13 tháng 1 năm 2014). “Ariana Grande Twitter announces she's working on second album in studio”. Music Times. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2014. 
  43. ^ @scooterbraun (ngày 22 tháng 1 năm 2014). “@ArianaGrande sounded incredible today with Ryan Tedder and @ItsBennyBlanco. #newmusic”. Twitter. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  44. ^ “Aretha Franklin, Ariana Grande Set for First Lady's 'Women of Soul' Concert”. Billboard. Ngày 4 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014. 
  45. ^ Adejobi, Alicia (ngày 7 tháng 3 năm 2014). “R-E-S-P-E-C-T! Ariana Grande Star-Struck After Meeting Aretha Franklin At White House”. Entertaimentwise. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2014. 
  46. ^ Singh, Sonalee (ngày 22 tháng 4 năm 2014). “Ariana Grande Sexy Legs On Display At Easter Egg Roll Event: Gushes About Jim Carrey”. International Business Times. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2014. 
  47. ^ 'Very Excited For These Next Few Months': Ariana Grande Confirms New Album Is Done!”. entertainmentwise.com. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2014. 
  48. ^ Bobb, Maurice (ngày 17 tháng 4 năm 2014). “Ariana Grande Teams With Iggy Azalea For 'Problems': See The Cover Art”. MTV News. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2014. 
  49. ^ Pambid, Diadem. “Ariana Grande's New Single 'Problem' Allegedly About Ex-boyfriend, Jai Brooks?”. International Business Times AU. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  50. ^ Problem, sales debut
  51. ^ John Legend's 'All Of Me' Tops Hot 100, Ariana Grande Debuts At No. 3
  52. ^ “Ariana Grande earns a place in Official Chart history with Problem”. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015. 
  53. ^ Lane, Daniel. “Ariana Grande earns a place in Official Chart history with Problem”. OfficialCharts.com. Official Charts Company. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2014. 
  54. ^ “Ariana Grande's 'Break Free': Watch Zedd Discuss The New Single”. Billboard. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015. 
  55. ^ “Ariana Grande Announces Exclusive Concert!”. Youtube. 
  56. ^ Grande, Ariana (ngày 25 tháng 6 năm 2014). “#7DaysUntilBreakFree #60DaysUntilMyNewAlbum”. Twitter. 
  57. ^ a ă “Vocal Profile: Ariana Grande”. Diva Devotee. Ngày 3 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2013. 
  58. ^ Posted: 04/24/2013 5:11 pm EDT (ngày 24 tháng 4 năm 2013). “Ariana Grande Covers Whitney Houston's 'I Believe In You And Me' In Studio (VIDEO)”. Huffingtonpost.com. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2013. 
  59. ^ “Ariana Grande Is Honored By Mariah Carey Comparisons”. Popcrush.com. Ngày 21 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2013. 
  60. ^ Lipshutz, Jason (ngày 28 tháng 3 năm 2013). “Ariana Grande Talks Breakout Hit 'The Way': Watch New Music Video”. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2013. 
  61. ^ “Limelight Spotlight Q&A: Ariana Grande”. Ngày 13 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2012. 
  62. ^ a ă Corner, Lewis (ngày 18 tháng 4 năm 2013). “Ariana Grande: 'Fergie's Clumsy always gives me inspiration'. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2013. 
  63. ^ Sources: that-kids-a-legend.tumblr.com, media.tumblr.com/tumblr_m3bw95Muz91qcpg4x.gif, weheartit.com (ngày 23 tháng 5 năm 2013). “Ariana Grande And Jai Brooks Are The Cutest Teen Celeb Couple Ever”. Huffington Post (Teen). Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2013. 
  64. ^ “Ariana Grande Dating Jai Brooks”. BSC Kids. 
  65. ^ “Ariana Grande Twitlonger”. Ariana Grande Verified Twitter. 
  66. ^ Nikutopia. “Ariana Grande's Brother Frankie To Play Cat's Brother In Upcoming "Victorious" Episode?”. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2013. 
  67. ^ Grande interview with WPIX TV, ngày 30 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010.
  68. ^ Lauren Joskowitz (ngày 8 tháng 8 năm 2012). “Ariana Grande on debut album: 'It used to be pages from my diary'. Sheknows.com. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2012. 
  69. ^ “A Snow White Christmas « The Pasadena Playhouse”. Pasadenaplayhouse.org. Ngày 30 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013. 
  70. ^ Collar, Matt. “Yours Truly – Ariana Grande”. Rovi Corporation. 
  71. ^ “Biografía de Ariana Grande”. Musica.com. 
  72. ^ “Hollywood Teen TV Awards”. 
  73. ^ “Hollywood Teen TV Awards - Favorite Television Actress”. 
  74. ^ “Billboard Mid-Year Music Awards Winners. Ariana won Best Newcomer award with 50% of votes.”. 
  75. ^ “Artist On The Rise MTV EMA 2013 Vote”. MTV. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014. 
  76. ^ “Miley Cyrus And Ariana Grande Win Music Choice Awards”. teeninfonet. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2013. 
  77. ^ “MC 100: Ariana Grande”. YouTube. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2013. 
  78. ^ Capricho Awards 2013
  79. ^ “People's Choice Awards 2014: The winners”. USA Today. Ngày 8 tháng 1 năm 2014. 
  80. ^ “NAACP Image Awards 2014”. On The Red Carpet. Ngày 9 tháng 1 năm 2014. 
  81. ^ World Music Awards
  82. ^ KCA 2014 NOM
  83. ^ “UK Favourite Fan Family”. 2014 Kids' Choice Awards. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014. 
  84. ^ “Aussies' Fave Hottie”. 2014 Kids' Choice Awards. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014. 
  85. ^ Rutherford, Kevin. “Nominees for 2014 Radio Disney Music Awards”. Billboard. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2014. 
  86. ^ “MTV VMA Japan”. MTV. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2014. 
  87. ^ “Billboard Music Awards:nominees”. Billboard Music Awards. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2014. 
  88. ^ iHeart Radio Music Awards: List winners
  89. ^ “Beyoncé, Jay Z, & Drake Lead BET Awards 2014 Nominations”. Rap-Up. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015. 
  90. ^ Jennifer Lawrence, Ariana Grande And More: See The Teen Choice Awards Nominees

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]