Leonardo DiCaprio

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Leonardo DiCaprio
Leonardo DiCaprio 2014.jpg
DiCaprio tại lễ công chiếu The Wolf of Wall Street
ở Luân Đôn vào năm 2014
Sinh Leonardo Wilhelm DiCaprio
11 tháng 11, 1974 (43 tuổi)
Hollywood, California, Hoa Kỳ
Nơi cư trú
  • Thành phố Battery Park, New York, U.S.
  • Los Angeles, California, U.S.
  • Suối Palm, California, U.S.
Nghề nghiệp
  • Diễn viên, nhà sản xuất
Năm hoạt động 1989–nay
Đảng phái chính trị Democratic[1]
Cha mẹ
Website

Leonardo Wilhelm DiCaprio[2] ( /dɪˈkæpri./; sinh ngày 11 tháng 11 năm 1974) là một diễn viên, nhà sản xuất phim, nhà hoạt động môi trường người Mỹ.[3] DiCaprio khởi nghiệp bằng cách xuất hiện trong các quảng cáo truyền hình vào cuối những năm 1980, sau đó anh có những vai diễn cố định trong loạt chương trình truyền hình như bộ phim dài tập Santa Barbara và sitcom Growing Pains. Anh bắt đầu sự nghiệp điện ảnh với vai Josh trong Critters 3 (1991). Anh đóng vai chính trong bộ phim chuyển thể của cuốn hồi ký This Boy's Life (1993), và được khen ngợi với vai diễn phụ trong What's Eating Gilbert Grape (1993). Anh nhận được sự công nhận của công chúng với những vai diễn hàng đầu trong The Basketball Diaries (1995) và bộ phim tình cảm Romeo + Juliet (1996), trước khi đạt được danh tiếng quốc tế với bộ phim sử thi tình cảm Titanic (1997) của đạo diễn James Cameron, phim đã trở thành bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại đến khi bộ phim khoa học giả tưởng Avatar (2009) của đạo diễn Cameron đã phá vỡ kỷ lục đó.

Kể từ thập niên 2000, DiCaprio nhận được nhiều khen ngợi trong sự nghiệp của mình trong một loạt tác phẩm điện ảnh. Những bộ phim sau này của anh bao gồm The Man in the Iron Mask (1998), phim chính kịch tiểu sử Catch Me If You Can (2002) và phim chính kịch sử thi Gangs of New York (2002), đánh dấu sự hợp tác đầu tiên của anh cùng đạo diễn Martin Scorsese. Anh nhận được hoan nghênh với các vai diễn được đánh giá cao trong phim chiến tranh chính trị giật gân Kim cương máu (2006), phim hình sự kịch tính Điệp vụ Boston (2006), phim gián điệp giật gân Body of Lies (2008), phim tình cảm lãng mạn Revolutionary Road (2008), phim tâm lý kinh dị Shutter Island (2010), phim khoa học viễn tưởng Inception (2010), phim tiểu sử J. Edgar (2011), phim miền tây Django Unchained (2012) và phim chính kịch Đại gia Gatsby (2013).

Vai diễn khắc họa chân thật Howard Hughes của DiCaprio trong Phi công tỷ phú (2004) và Hugh Glass trong Người về từ cõi chết (2015) giúp anh giành giải Quả cầu vàng cho "Nam diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất" và vai Jordan Belfort trong Sói Già Phố Wall (2013) đoạt giải Quả cầu vàng cho "Nam diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất". Anh lần đầu giành giải BAFTAgiải Oscar cho "Nam diễn viên chính xuất sắc nhất" với vai diễn trong Người về từ cõi chết.[4] Ngoài sự nghiệp diễn xuất, DiCaprio còn là nhà sáng lập công ty sản xuất Appian Way Productions.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Leonardo Wilhelm DiCaprio sinh ngày 11 tháng 11 năm 1974 tại Los Angeles.[5] Anh là con một của bà Irmelin (née Indenbirken), một thư ký pháp luật, và ông George DiCaprio, một nghệ sĩ Underground comix và là nhà sản xuất và phân phối truyện tranh.[6] Cha của DiCaprio thuộc dòng dõi người Ý (từ Napoli) và người Đức (từ Bayern).[7][8][9] Ông ngoại của DiCaprio, Wilhelm Indenbirken, là người Đức.[10] Bà ngoại của ông, Helene Indenbirken (sinh ra ở Yelena Smirnova, 1915-2008),[11] là một người Nga gốc Đức.[12][13] Trong một cuộc phỏng vấn ở Nga, DiCaprio gọi mình là "một nửa Nga" và nói rằng hai ông bà của anh là người Nga.[14] Cha mẹ của DiCaprio đã gặp gỡ khi đang học đại học và sau đó chuyển đến Los Angeles, California.[7]

DiCaprio được đặt tên là Leonardo bởi vì khi là thai nhi, lần đầu tiên anh đá bụng mẹ trong lúc bà đang nhìn bức tranh sơn dầu Leonardo da Vinci tại một viện bảo tàng ở Ý.[15] Cha mẹ anh ly thân khi anh mới 1 tuổi, và anh hầu như sống với mẹ.[16] Hai người sống tại một số vùng lân cận ở Los Angeles, như Echo Park và Los Feliz (nơi cư trú của ông ở Los Feliz sau đó được chuyển thành thư viện công cộng), trong khi mẹ anh làm nhiều công việc.[7] DiCaprio đã theo học tại trường tiểu học Seeds Elementary School (nay là trường tiểu học UCLA Lab School) và trường trung học John Marshall High School cách đó vài dãy nhà, sau khi theo học ở Los Angeles Center for Enriched Studies trong bốn năm.[17] Tuy nhiên, anh đã bỏ học trung học sau năm thứ ba, cuối cùng đạt được bằng tương đương với bằng tốt nghiệp phổ thông trung học (GED).[18][19] DiCaprio đã trải qua thời thơ ấu của mình ở Đức cùng với ông bà Wilhelm và Helene. Anh thông thạo tiếng Đứctiếng Ý[20][21][22]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Anh đoạt giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Giải Oscar lần thứ 88 (năm 2016) sau năm lần được đề cử (một trên cương vị nhà sản xuất) vào các năm 1994, 2005, 2007, 2014 nhưng đều ra về trắng tay.

Trước khi Giải Oscar lần thứ 88 (năm 2016) diễn ra, Tatiana Yegorova - một giảng viên tại Viện văn hóa và nghệ thuật phương bắc nước Nga đề ra kế hoạch tự làm lấy tượng vàng trao tặng anh bất kể có thắng giải hay không và được nhiều người ủng hộ. Bức tượng sẽ khá giống với phiên bản Oscar truyền thống, chỉ có điều là tượng sẽ cầm trên tay chiếc cốc Choron - cốc ba chân biểu tượng cho hòa bình, thay vì thanh gươm. Điều đáng nói là bức tượng còn mang một ý nghĩa tinh thần khác, đó là trong việc gây quỹ có một số phụ nữ góp nữ trang của họ, tuy nhiên phía ban tổ chức khuyến khích những người nào đóng góp bằng nữ trang thì nên giữ lại phân nửa món trang sức ấy, để “một nửa sẽ ở bên Leonardo DiCaprio trong khi nửa kia còn lại với họ”.[23]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Anh từng qua lại với siêu mẫu Brazil Gisele Bündchen trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm 2005, và còn hẹn hò với Kristen Zang. Từ năm 2005, anh có quan hệ tình cảm với người mẫu Israel Bar Refaeli[24]. Anh là bạn thân của Tobey Maguire và một trong những diễn viên chính của bộ phim Titanic, Kate Winslet. Anh cũng là bạn từ thuở thơ ấu với Christopher Pettiet[25].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Celebrities' Political Affiliations”. Us Weekly. 23 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017. 
  2. ^ “Leonardo DiCaprio”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2015. 
  3. ^ Goldenberg, Suzanne (29 tháng 2 năm 2016). “How Leonardo DiCaprio became one of the world's top climate change champions”. The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2017. 
  4. ^ “Live: Leonardo DiCaprio wins Best Actor, Spotlight is Best Picture at Oscars 2016”. The Hindu (bằng tiếng en-IN). Ngày 29 tháng 2 năm 2016. ISSN 0971-751X. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  5. ^ “Leonardo DiCaprio”. Encyclopædia Britannica. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2015. 
  6. ^ Letran, Vivan (19 tháng 8 năm 2000). “DiCaprio Boosts Artist's Show”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2015. 
  7. ^ a ă â Catalano, Grace (tháng 2 năm 1997). Leonardo DiCaprio: Modern-Day Romeo. New York City: Dell Publishing Group. tr. 7–15. ISBN 0-440-22701-1. 
  8. ^ “Leonardo DiCaprio; Scumsville superstar; His Parents Were Hippies and He Grew Up in the Poorest Part of Town – The People (London, England) – HighBeam Research”. HighBeam Research. 19 tháng 4 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2009. 
  9. ^ “Poverty and family split spurred Leo to pounds 3m a film Titanic stardom; Gran tells of screen idol's battle”. HighBeam Research. 28 tháng 1 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2009. 
  10. ^ Slavicek, Louise Chipley (2012). Leonardo DiCaprio. Infobase Learning. tr. 78. ISBN 978-1-4381-4133-6. 
  11. ^ Nickel Anhalt, Karen (6 tháng 8 năm 2008). “Leonardo DiCaprio's Grandmother Dies”. People. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2015. 
  12. ^ Silverman, Stephen M. (22 tháng 4 năm 2003). “Russians Lift Vodka Glasses to DiCaprio”. People. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2015. 
  13. ^ “Vladimir Putin: Leonardo DiCaprio is a 'real man'. The Daily Telegraph. 24 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2011. 
  14. ^ “Vladimir Putin: Leonardo DiCaprio is a 'real man'. The Daily Telegraph. 24 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2015. 
  15. ^ “Leonardo Dicaprio”. E!. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2009. 
  16. ^ Green, Jesse (12 tháng 2 năm 1995). “FRESH BLOOD; LEONARDO DiCAPRIO”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2016. 
  17. ^ “Los Angeles Center For Enriched Studies: Facts about LACES”. Los Angeles Center for Enriched Studies. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2013. 
  18. ^ Slavicek, Louise Chipley (2012). Leonardo DiCaprio. New York: InfoBase Learning. ISBN 9781438141336. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2014. 
  19. ^ “Leonardo DiCaprio from High School Dropouts”. E!. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2014. 
  20. ^ Makarenko, Denis, Leonardo DiCaprio: I would love to read books in Spanish as it is an amazing culture, America Reads Spanish, Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2016, truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2016 
  21. ^ Leonardo iCaprio, The German way & more, Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2016, truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2016 
  22. ^ Leonardo DiCaprio meets Pope Francis to talk about climate change | EW.com Lưu trữ January 30, 2016, tại Wayback Machine.
  23. ^ “Người Nga làm riêng tượng Oscar tặng Leonardo DiCaprio”. 
  24. ^ “Leo and Bar. What's going on?”. Ynetnews.com. Ngày 20 tháng 6 năm 1995. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2009. 
  25. ^ “DiCaprio, Winslet reunite on 'Road'. Digital Spy. Ngày 23 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]