Taylor Swift

Trang hạn chế sửa đổi (bán khóa)
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Taylor Swift
Swift tại giải Quả cầu vàng năm 2024
SinhTaylor Alison Swift
13 tháng 12, 1989 (34 tuổi)
West Reading, Pennsylvania, Hoa Kỳ
Nghề nghiệp
Năm hoạt động2004–nay
Tác phẩm nổi bật
Cha mẹ
  • Scott Kingsley Swift (cha)
  • Andrea Swift (mẹ)
Người thân
Giải thưởngDanh sách
Trang webtaylorswift.com
Sự nghiệp âm nhạc
Nguyên quánNashville, Tennessee, Hoa Kỳ
Thể loại
Nhạc cụ
Hãng đĩa
Chữ ký

Taylor Alison Swift (/ˈtlər swɪft/; sinh ngày 13 tháng 12 năm 1989) là một nữ ca sĩ kiêm nhạc sĩ sáng tác bài hát người Mỹ. Cô nhận được nhiều sự quan tâm rộng rãi đến từ truyền thông và công chúng cũng như được nhiều ấn phẩm vinh danh là một trong những gương mặt tiêu biểu trong các danh sách hàng đầu. Bên cạnh phong cách nghệ thuật đa dạng, khả năng sáng tác nhạc và tư duy kinh doanh của cô có sức ảnh hưởng lớn đến ngành công nghiệp âm nhạc và văn hóa đại chúng, Swift còn là một người tích cực tham gia các hoạt động xã hội và chính trị nhằm trao từ thiện, ủng hộ quyền nghệ sĩ và nữ quyền.

Swift bắt đầu theo đuổi con đường sáng tác âm nhạc chuyên nghiệp ngay từ khi mới 14 tuổi. Cô đã ký hợp đồng với hãng thu âm Big Machine Records vào 2005, trở thành một nghệ sĩ nhạc đồng quê và cô thường được mệnh danh là "công chúa nhạc đồng quê" kể từ đó. Tại Big Machine Records, Swift đã phát hành sáu album phòng thu và hết bốn album phòng thu đầu đã từng được gửi đến trạm phát thanh nhạc đồng quê, khởi đầu là album đầu tay Taylor Swift (2006). Tiếp đến, cô cho ra mắt Fearless (2008) nhằm khám phá chất liệu pop pha trộn với đồng quê, cùng với hai đĩa đơn "Love Story" và "You Belong with Me" đã giúp tên tuổi của cô đến gần với công chúng. Sau đó, Swift tiếp tục phát hành album phòng thu thứ ba, Speak Now (2010) mang đậm ảnh hưởng phong cách rock cùng với album phòng thu thứ tư Red (2012) pha trộn thêm các yếu tố nhạc điện tử, giúp cô gặt hái được ca khúc đạt vị trí quán quân đầu tiên trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 là "We Are Never Ever Getting Back Together". Sau đó, Swift đã từ bỏ hình tượng "công chúa nhạc đồng quê" và cho ra mắt khán giả album thứ năm 1989 (2014) lấy cảm hứng từ âm hưởng synth-pop của thập niên 1980 cùng với các bài hát leo lên ngôi đầu bảng như "Shake It Off", "Blank Space" và "Bad Blood". Sự soi mói của giới truyền thông đã truyền cảm hứng cho cô trình làng album phòng thu thứ sáu Reputation (2017) mang ảnh hưởng của dòng nhạc hip hop cùng với đĩa đơn số một "Look What You Made Me Do".

Năm 2018, Swift chuyển sang ký hợp đồng với Republic Records. Cô phát hành album Lover (2019) kết hợp nhiều thể loại nhạc pop với nhau cùng bộ phim tài liệu tiểu sử Miss Americana (2020), và liên tiếp cho ra mắt các album thuộc thể loại indie folkalternative rock lần lượt là FolkloreEvermore. Swift chinh phục phong cách nhạc electropop có phần trầm lắng, u ám thông qua album Midnights (2022) và trở lại synth-pop với album kép The Tortured Poets Department (2024). Cô đã tái thu âm và phát hành lại các album cũ dưới tên gọi Taylor's Version sau một cuộc tranh chấp quyền sở hữu tác phẩm với Big Machine. Các album vừa kể đã mang về cho Swift những bài hát quán quân như "Cruel Summer", "Cardigan", "Willow", "Anti-Hero", "All Too Well" và "Is It Over Now?". Swift đã làm đạo diễn cho các video âm nhạc và phim ảnh chẳng hạn như All Too Well: The Short Film (2021), và chuyến lưu diễn The Eras Tour (2023–2024) của cô đã trở thành chuyến lưu diễn đạt doanh thu cao nhất mọi thời đại.

Swift trở thành một trong số những người nghệ sĩ bán đĩa nhạc chạy nhất với 200 triệu bản thuần được tiêu thụ. Cô đã ghi 117 kỷ lục trong Sách Kỷ lục Guinness và 4 lần nhận giải thưởng Nghệ sĩ thu âm toàn cầu của năm từ phía Liên đoàn Công nghiệp ghi âm Quốc tế. Swift là nữ ca sĩ có doanh thu chuyến lưu diễn cao nhất, nữ ca sĩ được phát trực tuyến nhiều nhất trên SpotifyApple Music, và là tỷ phú đầu tiên có nguồn thu nhập chính đến từ biểu diễn âm nhạc. Cô được xướng tên vào danh sách Nhân vật của năm của tạp chí Time vào năm 2023, 100 nhạc sĩ sáng tác bài hát vĩ đại nhất mọi thời đại của Rolling Stone, nghệ sĩ âm nhạc xuất sắc nhất mọi thời đại của Billboard100 phụ nữ quyền lực nhất trên thế giới theo Forbes. Các giải thưởng trong sự nghiệp của Swift có thể kể đến gồm có 14 giải Grammy (trong đó cô thắng 4 giải Album của năm), 1 giải Primetime Emmy, 40 giải thưởng Âm nhạc Mỹ (gồm nghệ sĩ của thập niên 2010), 40 Giải thưởng Âm nhạc Billboard và 23 giải Video âm nhạc của MTV.

Cuộc đời và sự nghiệp

Thời niên thiếu

Ngôi nhà thời thơ ấu của Swift ở Wyomissing, Pennsylvania

Taylor Alison Swift sinh ngày 13 tháng 12 năm 1989, tại West Reading, Pennsylvania.[1] Tên của cô được đặt theo ca-nhạc sĩ James Taylor.[2] Cha cô là ông Scott Kingsley Swift, trước kia làm nghề người môi giới chứng khoán cho bộ phận ngân hàng quản lý đầu tư Merrill Lynch.[3] Mẹ cô là bà Andrea Gardner Swift (ngũ danh Finlay), từng là giám đốc tài chính cho quỹ hỗ trợ và đã nghỉ vào năm Taylor 4 tuổi để làm nội trợ.[4] Taylor có một người em trai là diễn viên Austin Swift.[5][6] Cô là người gốc Scotland,[7] Đức[8] và Ý.[9] Tổ tiên bên nội của Swift, ông Charles C. A. Baldi, là một nhà lãnh đạo cộng đồng người Ý kiêm doanh nhân đã khai trương một số doanh nghiệp tại Philadelphia sau khi di cư sang Mỹ vào thế kỷ 19.[10] Bà ngoại Marjorie Finlay của cô là một ca sĩ hát opera ở nước ngoài.[5]

Khi còn bé, Swift đã có một khoảng thời gian sinh sống tại một đồn điền trồng cây thông Giáng sinh mà cha cô đã mua lại từ một vị khách hàng.[11][12] Cô là một người theo Thiên Chúa giáo.[13] Ban đầu, Swift học mầm non tại trường Alvernia Montessori do những nữ tu sĩ dòng Phan Sinh quản lý,[14] nhưng rồi sau đó cô chuyển sang học trường Wyndcroft, vốn nổi tiếng là trường điểm ở Pottstown.[15] Cả gia đình cô sau đó chuyển đến một căn nhà cho thuê tại khu ngoại ô Wyomissing, Pennsylvania,[16] tại đây Swift theo học trường trung học cơ sở/phổ thông vùng Wyomissing lúc lên tuổi thiếu niên.[17] Cô đã dành cả mùa hè tại Stone Harbor, New Jersey đến năm 14 tuổi, và biểu diễn ca nhạc cho một quán cafe địa phương.[18][19][20]

Năm lên 9 tuổi, Swift bắt đầu có niềm đam mê với sân khấu ca nhạc và tham gia biểu diễn trong bốn chương trình đào tạo của Học viện sân khấu Berks Youth.[21] Cô cũng thường xuyên đến thành phố New York để tham gia lớp luyện giọng và diễn xuất.[22] Sau đó, Swift chuyển sang tập trung vào ca hát nhạc đồng quê vì những bài hát của Shania Twain đã khiến cô "muốn chạy quanh dãy nhà bốn lần và mơ tưởng giữa ban ngày về mọi thứ".[23] Những ngày cuối tuần, cô đi hát hội chợ tại các khu lễ hội, cuộc thi karaoke và sự kiện tại địa phương.[18][24][25] Sau khi xem bộ phim tài liệu nói về Faith Hill, Swift cảm thấy muốn đến Nashville, Tennessee để theo đuổi sự nghiệp âm nhạc.[18][26] Cô đến đó cùng mẹ vào năm 11 tuổi để gửi các bản thu thử hát karaoke lại của các nghệ sĩ Dolly PartonDixie Chicks đến các hãng thu âm.[27] Tuy nhiên, cô đã bị từ chối bởi vì "mọi người ở thị trấn đó đều muốn làm điều mà tôi cũng đang muốn làm. Cho nên, tôi đã luôn tự hỏi chính mình, tôi cần phải tìm ra một hướng đi khác biệt."[28]

Khi Swift lên 12 tuổi, một người thợ sửa máy tính kiêm nhạc sĩ địa phương Ronnie Cremer đã dạy cô cách chơi đàn guitar và giúp cô lần đầu tiên sáng tác bài hát đơn giản chỉ gồm ba hợp âm mang tựa đề "Lucky You".[29][30] Năm 2003, Swift và cha mẹ cô bắt đầu hợp tác cùng nhà quản lý tài năng âm nhạc ở New York tên Dan Dymtrow. Dưới sự giúp đỡ của Dymtrow, Swift làm người mẫu cho hãng Abercrombie & Fitch thuộc một phần chiến dịch của "Rising Stars" và cho ra mắt một ca khúc gốc tự sáng tác nằm trong đĩa CD tổng hợp Maybelline, và tham gia nhiều cuộc họp cùng với các hãng thu âm lớn.[31][32] Sau khi Swift trình diễn nhiều bài hát tự viết tại sân khấu RCA Records, cô được hãng giao cho một bản hợp đồng phát triển nghệ sĩ ngay từ năm 13 tuổi và bắt đầu thường xuyên ra vào lui tới Nashville cùng mẹ cô hơn.[33][34][35] Nhằm giúp Swift thâm nhập sâu hơn vào làng nhạc đồng quê, cha của cô chuyển sang văn phòng Merrill Lynch tại Nashville lúc cô 14 tuổi và gia đình dọn về định cư tại một căn nhà bên hồ ở Hendersonville, Tennessee.[36][37] Swift theo học trường trung học Hendersonville[38] trong hai năm đầu rồi chuyển sang học viện tư thục theo đạo Kitô giáo Aaron để phù hợp với lịch trình đi lưu diễn cũng như đáp ứng nhu cầu học tại nhà của cô.[39][40] Cô đạt điểm trung bình 4,0 và hoàn tất cả hai năm học cuối cấp trong vòng 12 tháng.[41]

2004–2008: Khởi đầu sự nghiệp và album đầu tay

Tại Nashville, Swift làm việc cùng với các nhạc sĩ sáng tác ca khúc nhiều kinh nghiệm đến từ Music Row chẳng hạn như Troy Verges, Brett Beavers, Brett James, Mac McAnallythe Warren Brothers.[42][43] Sau cùng, cô đã bắt tay hợp tác và làm việc lâu dài cùng với Liz Rose.[44] Mỗi buổi chiều thứ Ba sau giờ tan trường, họ đều gặp nhau để tiến hành sáng tác bài hát trong vòng hai tiếng đồng hồ.[45][46] Rose luôn tôn trọng quan điểm của Swift và giúp cô viết theo sở thích, gọi những buổi làm việc cùng cô là "một trong số những buổi làm việc dễ nhất tôi đã từng làm. Căn bản, tôi chỉ là người biên tập lại cho con bé. Con bé luôn viết về những chuyện xảy ra trong trường vào ngày hôm đó. Con bé quả thực có tầm nhìn rõ ràng khi định nói gì. Và rồi, con bé đã nghĩ ra ngay những đoạn hook đáng kinh ngạc nhất."[47] Swift trở thành nghệ sĩ nhỏ tuổi nhất ký hợp đồng với nhà xuất bản Sony/ATV Tree,[48] nhưng sau đó rời khỏi RCA Records vào năm 14 tuổi do hãng đĩa không đủ quan tâm và muốn cô "dựa vào thành quả của người khác".[49] Cô bày tỏ quan ngại rằng chính các bản hợp đồng phát triển lại có thể khiến nghệ sĩ bị bỏ rơi[35][25] và nhớ lại rằng: "Tôi thật lòng cảm thấy bản thân đã sắp sửa hết thời gian rồi. Tôi muốn lưu lại dấu ấn ba năm cuộc đời bằng album, và ngần năm đó vẫn phải thể hiện những gì tôi đã từng trải qua."[50]

Swift đang hát mở màn cho Brad Paisley vào năm 2007. Để quảng bá album đầu tay thì cô đã chọn cách biểu diễn mở màn lưu diễn cho những nhạc sĩ đồng quê khác vào hai năm 2007 và 2008.[51]

Trong buổi giới thiệu ngành công nghiệp âm nhạc ở Bluebird Cafe tại Nashville vào năm 2005, Swift đã gây ấn tượng với Scott Borchetta. Khi này, ông Borchetta vẫn còn là giám đốc của hãng DreamWorks Records đang chuẩn bị thành lập một hãng thu độc lập mang tên Big Machine Records.[49][52] Swift lần đầu gặp ông Borchetta vào năm 2004.[53] Cô đã ký hợp đồng với Big Machine ngay từ lúc hãng còn chưa được thành lập,[35] và cha của cô đã mua lại 3% cổ phần công ty còn non trẻ này với giá tiền ước tính 120.000 đô la Mỹ.[54][55] Swift bắt đầu thực hiện album cùng tên tuổi đầu tay không lâu sau khi ký hợp đồng. Cô đã thuyết phục hãng Big Machine thuê nhà sản xuất các bản thu thử của cô, Nathan Chapman, vì cô cảm thấy hai người có thể làm việc "ăn ý" với nhau.[25][56] Swift đã tự sáng tác ba bài hát nằm trong album và đồng sáng tác tám bài còn lại cùng với Rose, Robert Ellis Orrall, Brian Maher và Angelo Petraglia.[57] Taylor Swift được phát hành vào ngày 24 tháng 10 năm 2006.[58] Album đạt hạng cao nhất ở vị trí thứ năm trên bảng xếp hạng Billboard 200 Hoa Kỳ, và dành ra tổng cộng 157 tuần trụ hạng, lâu nhất so với bất cứ album nào được phát hành tại Mỹ trong thập niên 2000.[59] Swift trở thành nữ nghệ sĩ âm nhạc đồng quê đầu tiên tự viết hoặc đồng sáng tác mọi ca khúc ở album đầu tay đạt chứng nhận bạch kim.[60]

Hãng Big Machine Records vẫn còn đang trong giai đoạn hình thành lúc phát hành đĩa đơn chủ đạo đầu tay "Tim McGraw" của Swift vào tháng 6 năm 2006. Swift cùng mẹ cô phụ giúp hãng quảng bá bằng cách đóng phong bì thủ công và gửi các bản đĩa CD đến nhiều trạm phát thanh nhạc đồng quê. Mặc dù Big Machine vẫn chưa đủ trang thiết bị nhưng họ vẫn sẵn sàng ngồi xuống sàn để làm tất tần tật.[61] Swift đã dành trọn năm 2006 để quảng bá album Taylor Swift bằng cách đi biểu diễn trên trạm phát thanh và sóng truyền hình. Cô đã mở màn cho Rascal Flatts ở vài buổi nhất định trong chuyến lưu diễn năm 2006 của họ,[62] thay thế cho Eric Church.[63] Borchetta nói rằng mặc dù các đồng nghiệp trong ngành thu âm ban đầu không tán thành việc ông ký hợp đồng với một ca sĩ kiêm nhạc sĩ sáng tác bài hát mới 15 tuổi, nhưng Swift đã khơi dậy được một kiểu thị trường chưa từng được biết đến trước đây, đó chính là những cô gái tuổi teen nghe nhạc đồng quê.[61][64]

Tiếp nối "Tim McGraw", bốn đĩa đơn khác được phát hành trong các năm 2007 và 2008 lần lượt là "Teardrops on My Guitar", "Our Song", "Picture to Burn" và "Should've Said No".[65] Toàn bộ đều lọt bảng Hot Country Songs của Billboard với hai bài hát "Our Song" và "Should've Said No" leo lên vị trí số một. Nhờ "Our Song" mà Swift trở thành nghệ sĩ tự viết nhạc trẻ nhất có bài hát đạt vị trí quán quân ở bảng xếp hạng đó.[66] "Teardrops on My Guitar" đạt vị trí 13 trên bảng Billboard Hot 100 Hoa Kỳ.[67] Swift cũng đã từng phát hành hai đĩa mở rộng, The Taylor Swift Holiday Collection vào tháng 10 năm 2007 và Beautiful Eyes vào tháng 7 năm 2008.[68][69] Cô đã quảng bá rộng rãi album đầu tay bằng cách biểu diễn ở tiết mục mở màn cho các chuyến lưu diễn của các nhạc sĩ đồng quê khác vào năm 2006 và 2007, bao gồm cả những chuyến lưu diễn của George Strait,[70] Brad Paisley,[71] Tim McGraw và Faith Hill.[72]

Swift đã gặt hái được nhiều giải thưởng cho album đầu tay Taylor Swift. Cô là một trong những người nhận được giải Nhạc sĩ sáng tác bài hát/Nghệ sĩ của năm do Hiệp hội Nhạc sĩ sáng tác bài hát Quốc tế Nashville trao tặng vào năm 2007, trở thành người trẻ tuổi nhất được vinh dự nhận danh hiệu này.[73] Cô cũng giành giải Kinh nghiệm cho Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất của Hiệp hội Âm nhạc đồng quê,[74] giải Ca sĩ nữ mới hàng đầu của Viện hàn lâm Giải thưởng Âm nhạc đồng quê,[75] và giải Nữ ca sĩ đồng quê được yêu thích tại giải thưởng Âm nhạc Mỹ.[76] Swift còn được đề cử giải Grammy cho Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất tại lễ trao giải Grammy lần thứ 50.[77] Năm 2008, cô tiếp tục biểu diễn mở màn cho Rascal Flatts,[78] và hẹn hò với nam ca sĩ teen Joe Jonas nhưng bị đối phương chủ động chia tay thông qua cuộc gọi kéo dài chỉ 27 giây.[79]

2008–2010: Fearless

Swift tại buổi công chiếu phim năm 2009 Hannah Montana: The Movie. Cô cũng góp mặt trong bộ phim với vai trò quần chúng và viết hai ca khúc nhạc phim.[80][81]

Album phòng thu thứ hai Fearless của Swift được phát hành vào ngày 11 tháng 11 năm 2008 ở Bắc Mỹ,[82] và vào tháng 3 năm 2009 tại những thị trường khác.[83] Năm đĩa đơn của Fearless được phát hành trong hai năm 2008 và 2009 bao gồm: "Love Story", "White Horse", "You Belong with Me", "Fifteen" và "Fearless".[65] "Love Story" là đĩa đơn thứ nhất vươn lên đến ở hạng 4 trên Billboard Hot 100, hạng 1 ở Úc,[67][84] và là ca khúc nhạc đồng quê đầu tiên leo lên vị trí đầu bảng Pop Songs của Billboard.[85] "You Belong with Me" là đĩa đơn có thứ hạng cao nhất của album trên Billboard Hot 100, chạm đến vị trí thứ hai,[86] và là bài hát đồng quê đầu tiên giành ngôi vương ở bảng xếp hạng Radio Songs toàn thể loại của Billboard.[87] Toàn bộ năm đĩa đơn của "Fearless" đều lọt vào top 10 Hot Country Songs, trong đó "Love Story" và "You Belong with Me" đạt vị trí số một.[88] Fearless trở thành album quán quân đầu tiên của Swift trên bảng xếp hạng Billboard 200 và là album bán chạy nhất năm 2009 tại Hoa Kỳ.[67][89] Để quảng bá cho album, Swift thực hiện chuyến lưu diễn đầu tiên mang tên Fearless Tour thu về 63 triệu đô la Mỹ,[90] và cho ra mắt bộ phim tài liệu lưu diễn Journey to Fearless.[91] Ngoài ra, Swift cũng trình diễn hỗ trợ ở chuyến lưu diễn Escape Together World Tour năm 2009 của Keith Urban.[92]

Tại lễ Video âm nhạc của MTV năm 2009, MV của "You Belong with Me" được trao giải Video xuất sắc nhất của nữ ca sĩ.[93] Trong lúc Swift đang phát biểu, cô bị rapper Kanye West giật mic ngắt ngang.[94] Vụ việc đã biến thành chủ đề tranh cãi, làm dậy sóng truyền thông và trở thành trò đùa trên mạng Internet.[95][96] Cùng năm, Swift đã giành được 5 giải thưởng Âm nhạc Mỹ, gồm có Nghệ sĩ của năm và Album nhạc đồng quê được yêu thích nhất.[97] Billboard xướng danh cô là nghệ sĩ của năm 2009.[98] Cô giành được giải Video của năm và Video của năm đối với nữ nghệ sĩ cho bài hát "Love Story" tại giải thưởng Âm nhạc CMT năm 2009.[99] Tại giải Grammy lần thứ 52, Fearless đoạt giải Album của nămAlbum đồng quê xuất sắc nhất, và "White Horse" thắng giải Bài hát đồng quê xuất sắc nhấtTrình diễn giọng nữ nhạc đồng quê xuất sắc nhất. Swift là nghệ sĩ trẻ tuổi nhất giành được giải Album của năm.[100][chú thích 1] Tại giải thưởng Hiệp hội Âm nhạc đồng quê năm 2009, Swift đoạt giải Album của năm cho Fearless và được vinh danh là Nghệ sĩ giải trí của năm cũng như người trẻ nhất giành được vinh dự này.[102]

Swift góp giọng trong đĩa đơn "Half of My Heart" của John Mayer (kiêm bạn trai mà cô hẹn hò vào cuối năm 2009 đến đầu năm 2010) và đồng sáng tác lẫn góp mặt trong "Two Is Better Than One" của Boys Like Girls.[103][104][105] Cô ghi âm "Best Days of Your Life" và cùng sáng tác bài hát này với Kellie Pickler.[106] Swift viết hai ca khúc "You'll Always Find Your Way Back Home" và "Crazier" cho nhạc phim Hannah Montana: The Movie.[81] Cô tham gia sáng tác hai bài cho nhạc phim Ẩn số tình yêu, trong đó đĩa đơn "Today Was a Fairytale" ra mắt ở vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Canadian Hot 100 và hạng 2 ở bảng Hot 100 Hoa Kỳ.[107][108] Trong quá trình ghi hình bộ phim Ẩn số tình yêu vào tháng 10 năm 2009, Swift đã hẹn hò với bạn diễn Taylor Lautner nhưng họ đã chia tay vào tháng 12 cùng năm.[109][110] Năm 2009, cô xuất hiện lần đầu trên truyền hình và thủ vai một thiếu niên nổi loạn trong một tập phim CSI: Crime Scene Investigation.[111] Swift dẫn chương trình và biểu diễn với tư cách khách mời âm nhạc trên Saturday Night Live, cũng như là người dẫn chương trình đầu tiên viết đoạn độc thoại mở đầu của riêng mình.[112][113]

2010–2014: Speak NowRed

Swift đang hát cùng cây đàn guitar tại Speak Now World Tour (2011)

Vào tháng 8 năm 2010, Swift cho ra mắt đĩa đơn chủ đạo "Mine" nằm trong album phòng thu thứ ba Speak Now.[114] "Mine" ra mắt trên bảng Hot 100 tại vị trí thứ ba và cũng là vị trí cao nhất của bài hát này.[115] Swift đã tự mình sáng tác và đồng sản xuất toàn bộ bài hát trong Speak Now,[116] được phát hành vào ngày 25 tháng 10 năm 2010.[117] Speak Now ra mắt ở vị trí số một Billboard 200 nhờ vào trên một triệu bản được tẩu tán ngay tuần lễ đầu tiên,[118] đồng thời phá kỷ lục Guinness thế giới trở thành album nhạc số bán chạy nhất ở nghệ sĩ nữ, lên đến 278.000 lượt tải về trong một tuần.[119] Swift cho phát hành các đĩa đơn "Back to December", "Mean", "The Story of Us", "Sparks Fly" và "Ours".[65] Trong đó, "Sparks Fly" và "Ours" đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng Hot Country Songs,[88] còn "Back to December" và "Mean" thì vươn lên được top 10 ở Canada.[108] Swift đã từng hẹn hò và chia tay với Jake Gyllenhaal vào năm 2010.[114][120]

Tại giải Grammy lần thứ 54 năm 2012, Mean đã mang về cho Swift hai giải Bài hát đồng quê xuất sắc nhất và Trình diễn đơn ca đồng quê xuất sắc nhất, và cũng là ca khúc Swift biểu diễn tại nhân dịp đó.[121] Bên cạnh đấy, Swift gặt được hai thành tích khác cho Speak Now gồm có Nhạc sĩ sáng tác bài hát/Nghệ sĩ của năm do Hiệp hội Nhạc sĩ sáng tác bài hát Nashville trao tặng (2010 và 2011),[122][123] Phụ nữ của năm từ phía Billboard (2011),[124] và Nghệ sĩ giải trí của năm tại Viện hàn lâm Âm nhạc đồng quê (2011 và 2012)[125] và Hiệp hội Âm nhạc đồng quê năm 2011.[126] Tại giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2011, Swift đoạt giải Nghệ sĩ của năm và Album nhạc đồng quê được yêu thích nhất.[127] Rolling Stone xướng tên Speak Now trong danh sách "50 album nữ nghệ sĩ xuất sắc nhất mọi thời đại" (2012) và viết rằng: "Tuy cô ấy chỉ có thể được phát trên đài đồng quê, nhưng cô ấy vẫn là một trong số ít những ngôi sao nhạc rock đích thực mà chúng ta có ngày nay, nhờ vào đôi tai hoàn hảo để tạo nên một bài hát ấn tượng."[128]

Swift đi lưu diễn trong Speak Now World Tour từ tháng 2 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012 và thu về 123 triệu đô la Mỹ,[129] và cô cho phát hành album trực tiếp, Speak Now World Tour: Live.[130] Cô tham gia sáng tác hai bài hát gốc cho album nhạc phim The Hunger Games: "Safe & Sound", đồng sáng tác và thu âm cùng The Civil WarsT-Bone Burnett, với "Eyes Open". "Safe & Sound" giúp Swift đoạt giải Grammy cho Ca khúc nhạc phim hay nhất và nhận một đề cử giải Quả cầu vàng cho ca khúc trong phim hay nhất.[131][132] Swift góp giọng trong đĩa đơn "Both of Us" của B.o.B, phát hành vào tháng 5 năm 2012.[133] Cô hẹn hò với Conor Kennedy và chia tay cùng năm.[134][135]

Swift biểu diễn ở The Red Tour (2013)

Tháng 8 năm 2012, Swift tung đĩa đơn chủ đạo "We Are Never Ever Getting Back Together" đến từ album phòng thu thứ tư Red của cô. Bài hát này trở thành ca khúc quán quân đầu tiên của Swift tại Hoa Kỳ và New Zealand,[136][137] và là đĩa đơn bán chạy nhất trong lịch sử nhạc số.[138] Tiếp đến, Swift cho phát hành các đĩa đơn khác trong album lần lượt theo trình tự thời gian là "Begin Again", "I Knew You Were Trouble", "22", "Everything Has Changed", "The Last Time" và "Red".[65] "I Knew You Were Trouble" lọt vào top 5 trên các bảng xếp hạng tiêu biểu như Úc, Anh Quốc và Hoa Kỳ.[139] "Begin Again", "22" và "Red" leo lên được top 20 ở Hoa Kỳ.[67] Album Red được trình làng vào ngày 22 tháng 10 năm 2012,[140] trong đó Swift hợp tác cùng Chapman, Rose và các nhà sản xuất nhạc mới Max MartinShellback[141] và cô đã sáp nhập nhiều phong cách thể loại pop rock như heartland rock, dubstep, dance-pop và thậm chí brit-rock lại với nhau.[142][143] Red ra mắt ở vị trí đầu bảng Billboard 200 nhờ vào 1,21 triệu bản tiêu thụ, đưa Swift trở thành nữ ca sĩ đầu tiên có hai triệu bản bán ra trong tuần đầu tiên.[144][145] Album này còn là album quán quân đầu tiên của Swift ở Anh.[146]

Nhằm quảng bá cho Red, Swift thực hiện chuyến lưu diễn The Red Tour kéo dài tháng 3 năm 2013 cho đến tháng 6 năm 2014 và thu về hơn 150 triệu đô la Mỹ, trở thành chuyến lưu diễn đồng quê có doanh thu cao nhất từ trước đến nay.[147] Kỷ nguyên Red đã đem về cho Swift nhiều giải thưởng, và bốn đề cử tại giải Grammy lần thứ 56 (2014).[148] Swift nhận được Giải thưởng Âm nhạc Mỹ ở hạng mục Nữ nghệ sĩ nhạc đồng quê xuất sắc nhất vào năm 2012Nghệ sĩ của năm vào năm 2013.[149][150] Cô được trao tặng Giải thưởng Nhạc sĩ sáng tác bài hát/Nghệ sĩ của Hiệp hội Nhạc sĩ sáng tác bài hát Nashville lần thứ 5 và thứ 6 liên tiếp.[151] Swift còn được vinh danh Giải thưởng Pinnacle, giúp cô trở thành người thứ hai nhận được giải thưởng này sau Garth Brooks.[152] Trong thời gian này, cô đã hẹn hò được một thời gian ngắn ngủi với ca sĩ người Anh Harry Styles.[134][105]

Năm 2013, Swift thu âm bài hát mà cô đồng sáng tác với Jack Antonoff cho nhạc phim One Chance mang tựa đề "Sweeter than Fiction".[153] Bài hát này nhận được đề cử ca khúc trong phim hay nhất tại lễ trao giải Quả cầu vàng lần thứ 71.[154] Cô góp giọng trong bài hát "Highway Don't Care" của Tim McGraw cùng với Keith Urban.[155] Swift biểu diễn "As Tears Go By" cùng với The Rolling Stones tại Chicago, Illinois, nằm trong chuyến lưu diễn 50 & Counting của ban nhạc.[156] Cô còn tham gia cùng Florida Georgia Line tại Hội thảo Đài phát thanh đồng quê năm 2013 để trình diễn ca khúc "Cruise".[157] Bên cạnh âm nhạc, Swift lồng tiếng cho nhân vật Audrey trong bộ phim hoạt hình Thần Lorax (2012),[158] đóng vai quần chúng trong loạt phim hài kịch tình huống New Girl (2013)[159] và vai phụ trong bộ phim phản địa đàng Người truyền ký ức (2014).[160]

2014–2018: 1989Reputation

Swift trình diễn "New Romantics" tại The 1989 World Tour, và đây là chuyến lưu diễn có doanh thu cao nhất năm 2015

Vào tháng 3 năm 2014, Swift chuyển đến sinh sống và làm việc tại thành phố New York.[161][chú thích 2] Cô đã ký hợp đồng thuê chuyên gia PR Tree Paine làm người quảng bá âm nhạc cho cô[163][164] và bắt tay vào sản xuất album phòng thu thứ năm 1989 cùng với các nhà sản xuất Jack Antonoff, Max Martin, Shellback, Imogen Heap, Ryan TedderAli Payami.[165][166] Cô thẳng thắn tuyên bố 1989 chính là "album mang tư liệu pop chính thức đầu tiên" và đánh dấu cho cuộc lột xác hoàn toàn so với những gì cô từng làm trước đây.[167] 1989 được phát hành vào ngày 27 tháng 10 năm 2014 và ra mắt ở vị trí số một trên Billboard 200 nhờ vào doanh số 1,28 triệu bản được bán ra.[168] Các đĩa đơn của album "Shake It Off", "Blank Space" và "Bad Blood" vươn lên vị trí số một ở Úc, Canada và Hoa Kỳ.[169] Trong đó, hai đĩa đơn đầu đã giúp Swift trở thành phụ nữ đầu tiên tự thay thế chính mình ở vị trí quán quân Billboard Hot 100.[170] Ngoài ra, Swift cho phát hành các đĩa đơn khác trong 1989 gồm có "Style", "Wildest Dreams", "Out of the Woods" và "New Romantics".[171] Từ tháng 5 đến tháng 12 năm 2015, cô thực hiện chuyến lưu diễn The 1989 World Tour và thu về 250 triệu đô la Mỹ, trở thành chuyến lưu diễn có doanh thu cao nhất của năm 2015. Sau khi kết thúc lưu diễn, Swift cho phát hành phim hòa nhạc The 1989 World Tour Live trên nền tảng Apple Music vào ngày 20 tháng 12 năm 2015.[172][173]

Trước lúc 1989 lên kệ, Swift đã nhấn mạnh tầm quan trọng của album đối với người nghệ sĩ lẫn người hâm mộ.[174] Vào tháng 11 năm 2014, cô quyết định rút toàn bộ danh sách đĩa hát của mình ra khỏi Spotify và cho rằng dịch vụ trả công không xứng đáng cho các tác giả tạo nên âm nhạc.[175] Trong một lá thư viết vào tháng 6 năm 2015, Swift đã chỉ trích Apple Music vì không trả tiền phát nhạc cho nghệ sĩ nếu như người dùng đang trong thời gian dùng thử dịch vụ ba tháng và bảo rằng cô sẽ rút 1989 ra khỏi dịch vụ nhạc.[176] Sang ngày hôm sau, Apple Inc. lập tức đổi chính sách và hứa sẽ trả tiền cho nghệ sĩ ngay cả khi đang trong thời gian dùng thử, và Swift đã đồng ý đưa 1989 lên dịch vụ phát trực tuyến.[177][178] Tháng 6 năm 2017, cô quyết định đưa toàn bộ đĩa hát của mình bao gồm cả 1989 quay trở lại nhiều dịch vụ phát nhạc số, bao gồm cả Spotify.[179] Swift được Billboard xướng tên là Phụ nữ của năm 2014 và trở thành nghệ sĩ đầu tiên được giải thưởng này hai lần.[180] Tại lễ trao giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2014, Swift được vinh danh giải thành tựu xuất sắc Dick Clark.[181] Nhân ngày sinh nhật 25 tuổi của cô vào năm 2014, bảo tàng Grammy tại L.A. Live đã mở một cuộc triển lãm để vinh danh cô ở Los Angeles kéo dài đến ngày 4 tháng 10 năm 2015 và phá kỷ lục số người tham dự bảo tàng.[182][183] Năm 2015, Swift thắng giải Brit dành cho nữ nghệ sĩ solo quốc tế.[184] Video âm nhạc "Bad Blood" thắng giải Video của nămHợp tác xuất sắc nhất tại Giải thưởng Video âm nhạc MTV năm 2015.[185] Tại giải Grammy lần thứ 58 (2016), 1989 giành được giải Album của năm và Album giọng pop xuất sắc nhất, đưa Swift trở thành người phụ nữ đầu tiên và nghệ sĩ thứ năm (nếu xét tổng thể) hai lần giành được Album của năm.[186]

Swift trình diễn ở chuyến lưu diễn Reputation Stadium Tour (2018), đây là chuyến lưu diễn có doanh thu cao nhất ở Bắc Mỹ tại thời điểm đó

Swift đã hẹn hò với DJ người Scotland Calvin Harris từ tháng 3 năm 2015 cho đến tháng 6 năm 2016.[187] Họ cùng nhau sáng tác ca khúc "This Is What You Came For" cùng với sự góp giọng của ca sĩ người Barbados Rihanna. Swift lúc đầu được ghi công với mật danh Nils Sjöberg.[188] Vào tháng 4 năm 2016, Swift chỉ trích ca từ "Tao đã khiến con chó cái đó nổi tiếng" (khơi gợi scandal giật mic ở lễ trao giải Video âm nhạc của MTV năm 2009) trong đĩa đơn "Famous" của Kanye West. West lên tiếng bảo rằng anh ta đã được Swift cho phép và người vợ Kim Kardashian đã tung những đoạn clip trong đó Swift và West bàn bạc về đĩa đơn qua điện thoại.[189] Đến năm 2020, toàn bộ đoạn ghi âm cuộc gọi bị rò rỉ và chứng minh được rằng West không hề khai báo trước cho Swift biết trong ca từ sẽ có câu rap gọi cô là "con chó cái".[190]

Ít lâu sau khi hẹn hò và chia tay Tom Hiddleston,[191] Swift chuyển sang hẹn hò sáu năm với diễn viên người Anh Joe Alwyn vào tháng 9 năm 2016.[192][193] Cô đã sáng tác ca khúc "Better Man" cho ban nhạc đồng quê Little Big Town, giúp cô giành được giải Ca khúc của năm tại lễ trao giải thưởng CMA lần thứ 51.[194] Swift và ca sĩ người Anh Zayn Malik phát hành đĩa đơn chung "I Don't Wanna Live Forever" cho nhạc phim Năm mươi sắc thái đen (2017). Bài hát đạt vị trí thứ hai tại Mỹ.[195] Tháng 8 năm 2017, Swift đã thắng kiện sự việc cựu nhân viên phát thanh của KYGO-FM là David Mueller đòi cô bồi thường thiệt hại do anh ta bị mất việc làm, yêu cầu người đâm đơn kiện bồi thường ngược cho cô 1 đô la Mỹ. Bốn năm trước đó, Swift đã tố giác với các ông chủ của Mueller rằng anh ta đã tấn công tình dục cô bằng cách dùng tay sờ soạng ngay vùng mông của cô tại một sự kiện, khiến anh ta bị đuổi việc.[196]

Sau một năm vắng mặt khỏi ánh hào quang sân khấu, Swift đã tẩy sạch bài đăng trên tài khoản mạng xã hội và tung đĩa đơn chủ đạo "Look What You Made Me Do" cho album phòng thu thứ sáu của cô, Reputation.[197][198] Đây chính là bài hát số một đầu tiên của Swift ở Anh Quốc.[199] "Look What You Made Me Do" đứng đầu bảng xếp hạng ở Úc, Ireland, New Zealand và Hoa Kỳ.[200] Reputation được trình làng vào ngày 10 tháng 11 năm 2017,[201] mang nặng chất liệu electropop, hip hop, R&BEDM.[202][203] Reputation mở đầu ở vị trí đầu bảng Billboard 200 nhờ vào doanh số 1,21 triệu bản tiêu thụ giúp cho Swift trở thành nghệ sĩ duy nhất có bốn album liên tiếp bán được triệu bản trong tuần tại Hoa Kỳ.[204] Album này còn soán ngôi đầu bảng ở Anh Quốc, Úc và Canada,[205] và bán được 4,5 triệu bản thuần trên toàn cầu tính đến năm 2018.[206] Swift tiếp tục cho phát hành ba đĩa đơn: "...Ready for It?",[207] "End Game" (hợp tác cùng Ed Sheeran và rapper Future) và "Delicate".[171] Reputation nhận được đề cử Album giọng pop xuất sắc nhất tại giải Grammy lần thứ 61 năm 2019.[208] Tại giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2018, Swift đã giành được bốn giải thưởng, bao gồm Nghệ sĩ của năm và Nữ nghệ sĩ Pop/Rock được yêu thích nhất. Swift đã thu thập được tổng cộng 23 chiếc cúp AMA xuyên suốt sự nghiệp, trở thành nữ nhạc sĩ được trao nhiều giải nhất trong chương trình, vượt qua Whitney Houston.[209] Tháng 4 năm 2018, Swift góp giọng trong ca khúc "Babe" của nhóm nhạc đồng quê hai người Sugarland.[210] Swift đã tổ chức chuyến lưu diễn Reputation Stadium Tour trong năm 2018.[211] Chuyến lưu diễn này đã phá nhiều kỷ lục, gồm có kỷ lục chuyến lưu diễn hòa nhạc Bắc Mỹ có doanh thu cao nhất trong lịch sử với tổng doanh thu 345,7 triệu đô la Mỹ trên toàn thế giới.[212] Sau đó, Reputation Stadium Tour được ghi hình và phát hành làm phim hòa nhạc trên nền tảng Netflix trong vòng 5 năm.[213][214]

2018–2021: Lover, FolkloreEvermore

Reputation chính là album cuối cùng của Swift theo bản hợp đồng hơn 12 năm của cô với Big Machine Records.[215] Tháng 11 năm 2018, cô chuyển sang ký hợp đồng mới với nhà phân phối Universal Music Group và quá trình quảng bá sản phẩm ca nhạc của cô là do Republic Records đích thân đảm nhiệm. Swift cho biết, bản hợp đồng trong đó có chứa điều khoản bắt buộc rằng cô sẽ phải là người nắm giữ toàn bộ quyền sở hữu bản thu âm hoàn chỉnh. Bên cạnh đấy, trong trường hợp Universal bán bất kỳ phần cổ phần nào của công ty trong Spotify, thì công ty sẽ phải đồng ý chia sẻ một phần doanh thu không thể thu lại được cho các nghệ sĩ của mình.[216][217]

Swift được xướng tên Nghệ sĩ của thập kỷ tại buổi lễ trao giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2019.[218]

Swift tung ra album phòng thu thứ bảy Lover vào ngày 23 tháng 8 năm 2019.[219] Bên cạnh Jack Antonoff, Swift làm việc với các nhà sản xuất nhạc mới Louis Bell, Frank DukesJoel Little.[220][221] Lover giúp Swift trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên có album thứ sáu liên tiếp bán được hơn 500.000 bản trong một tuần ở Hoa Kỳ.[222] Các cây viết đánh giá khen ngợi tâm hồn vô tư tự do và cảm xúc gần gũi của album.[223][224] Đĩa đơn chủ đạo "Me!" ra mắt ở vị trí thứ 100 và nhảy lên vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 vào tuần kế tiếp, phá kỷ lục bước nhảy vọt lớn nhất tại bảng xếp hạng này.[225] Các đĩa đơn khác nằm trong album Lover đều là những ca khúc top 10 với "You Need to Calm Down" và "Lover", top 40 với "The Man" tại Hoa Kỳ của Swift.[67] Đến năm 2023, "Cruel Summer" trở nên viral nhờ hiệu ứng của chuyến lưu diễn The Eras Tour, đem về cho Lover đĩa đơn quán quân đầu tiên trên Hot 100 sau hơn 4 năm kể từ ngày phát hành.[226] Lover của Swift trở thành album bán chạy nhất thế giới của nghệ sĩ solo vào năm 2019, bán được tổng cộng 3,2 triệu bản,[227] cùng với các đĩa đơn giành được đề cử tại giải Grammy lần thứ 62 năm 2020.[228] Tại giải Video âm nhạc của MTV năm 2019, "Me!" giành được giải Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất, và "You Need to Calm Down" thắng giải Video của năm và Video mang ý nghĩa nhất. Swift là nữ nghệ sĩ đầu tiên và nghệ sĩ thứ hai giành giải Video của năm cho video do cô đạo diễn.[229] Liên đoàn Công nghiệp thu âm quốc tế (IFPI) vinh danh Swift là nghệ sĩ bán chạy nhất thế giới năm 2019, khiến cô trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên hai lần giành được vinh dự này (trước đó là vào năm 2014).[230]

Trong quá trình quảng bá album phòng thu Lover, Swift đã vướng phải một cuộc tranh chấp công khai với người quản lý tài năng Scooter Braun và hãng đĩa cũ Big Machine liên quan tới việc mua lại quyền sở hữu bản gốc các tác phẩm trước đó của cô.[231] Swift phát biểu trên blog Tumblr của mình rằng cô đã luôn cố gắng mua lại các bản gốc này trong suốt nhiều năm liền, nhưng mà Big Machine chỉ cho phép cô làm như vậy nếu như cô đổi một album mới để lấy một album cũ, và đây là bản hợp đồng mà cô đã từ chối ký kết.[231][232] Swift chọn phương án tái thu âm toàn bộ công trình cũ vào tháng 11 năm 2020.[233] Ngoài chuyện âm nhạc, cô còn đóng vai Bombalurina trong phiên bản chuyển thể thành phim từ tác phẩm nhạc kịch Cats (2019) của Andrew Lloyd Webber, trong đó cô đồng sáng tác và thu âm bài hát gốc được đề cử Quả cầu vàng "Beautiful Ghosts".[234][235] Mặc dù giới phê bình chê bai chỉ trích bộ phim thậm tệ nhưng họ vẫn khen ngợi diễn xuất của Swift.[236] Bộ phim tài liệu tiểu sử Miss Americana nói về những khía cạnh cuộc đời và sự nghiệp của Swift, được công chiếu tại Liên hoan phim Sundance 2020 và phát hành lên nền tảng Netflix vào tháng 1 năm 2020.[237][238] Trong phim tài liệu có bài hát "Only the Young" mà Swift đã sáng tác sau cuộc bầu cử năm 2018 của Hoa Kỳ.[239] Swift đã ký hợp đồng phát hành toàn cầu với Universal Music Publishing Group vào tháng 2 năm 2020 sau khi bản hợp đồng 16 năm của cô với Sony/ATV đã hết hạn.[240]

Giữa đại dịch COVID-19, Swift đã bất ngờ phát hành hai album: Folklore vào ngày 24 tháng 7 và Evermore vào ngày 11 tháng 12 năm 2020.[241][242] Đây là hai album sử dụng chất liệu indie folkalternative rock cùng với khâu sản xuất nhạc khí lẫn ca từ trầm lặng hơn so với các bài hát nhạc pop lạc quan trước đây của cô.[243][244] Swift đã sáng tác và thu âm hai album cùng với hai nhà sản xuất Jack Antonoff và Aaron Dessner đến từ ban nhạc The National.[245] Alwyn đồng sáng tác và đồng sản xuất ở một số ca khúc bằng mật danh William Bowery.[246] Các album đã nhận được sự hoan nghênh rộng rãi của giới phê bình. The GuardianVox cho rằng FolkloreEvermore đã tôn lên tác phong làm việc của Swift và nâng cao uy tín nghệ thuật của cô.[247][248][249] Quá trình thực hiện album Folklore được phát hành dưới dạng bộ phim tài liệu hòa nhạc Folklore: The Long Pond Studio Sessions vào ngày 25 tháng 11 năm 2020, do Swift làm đạo diễn.[250]

Swift cho phát hành ba đĩa đơn ở mỗi album lên các trạm phát thanh nhạc đại chúng, nhạc đồng quêtriple A tại Hoa Kỳ. Xếp theo thứ tự thời gian phát hành là gồm có "Cardigan", "Betty" và "Exile" đến từ Folklore, và "Willow", "No Body, No Crime" cùng với "Coney Island" đến từ Evermore.[251] Swift trở thành nghệ sĩ đầu tiên cho ra mắt cả album lẫn bài hát ở vị trí quán quân tại Mỹ trong cùng một tuần lễ hai lần liên tiếp, với "Cardigan" bên Folklore và "Willow" bên Evermore.[252] Folklore là album bán chạy nhất năm 2020 tại Hoa Kỳ nhờ vào doanh số 1,2 triệu bản,[253] và gặt hái được danh hiệu Album của năm tại giải Grammy lần thứ 63, đưa Swift trở thành người phụ nữ đầu tiên ba lần giành được giải thưởng này.[254] Tại giải thưởng âm nhạc Mỹ năm 2020, Swift thắng ba giải gồm có Nghệ sĩ của năm lần thứ ba liên tiếp.[255] Theo Billboard, cô là nhạc sĩ được trả thù lao cao nhất ở Hoa Kỳ và là nhạc sĩ solo được trả thù lao cao nhất thế giới trong năm 2020.[256][257]

2021–2023: Các bản tái thu âm và Midnights

Swift biểu diễn cùng với ban nhạc pop rock Mỹ Haim vào năm 2022

Sau những tranh chấp về bản quyền tác phẩm, Swift đã quyết định tái thu âm sáu album đầu tiên, mở đầu là cô cho ra mắt hai album Fearless (Taylor's Version)Red (Taylor's Version) lần lượt vào tháng 4 và tháng 11 năm 2021.[258][259] Cả hai album tái thu âm vừa kể ra mắt ngay vị trí đầu bảng Billboard 200,[260] và trở thành các album tái thu âm đầu tiên làm được điều đó.[261] Swift quảng bá album Fearless (Taylor's Version) bằng ca khúc "Love Story (Taylor's Version)", đưa cô trở thành nghệ sĩ thứ hai sau Dolly Parton có cả phiên bản gốc và phiên bản thu âm lại của một bài hát đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng Hot Country Songs.[262] Tiếp đến với Red (Taylor's Version), cô phát hành "All Too Well (10 Minute Version)" làm đĩa đơn và trở thành bài hát có thời lượng dài nhất leo lên ngôi vị quán quân Hot 100.[263] Bộ phim ngắn của "All Too Well" được phát hành và giành được giải Grammy cho Video âm nhạc xuất sắc nhất[264] và kéo giãn kỷ lục ba lần đoạt giải Video âm nhạc của MTV cho Video của năm của Swift.[265]

Album phòng thu thứ mười Midnights của Swift được phát hành vào ngày 21 tháng 10 năm 2022.[266] Đây là một album mang chất nhạc điện tử nhẹ nhàng[267][268] cùng với âm thanh synth-pop,[269] và được các cây viết đánh giá bên Rolling Stone tán dương hết mực và dán nhãn "kinh điển tức thì".[270][271] Midnights trở thành album thứ năm của cô mở màn ở vị trí đầu bảng Billboard 200 nhờ vào doanh số tuần đầu tiêu thụ đạt 1 triệu bản và phá rất nhiều kỷ lục doanh số bán hàng và phát trực tuyến,[272] gồm có cả kỷ lục trên Spotify số lượt stream trong một ngày và trong một tuần nhiều nhất.[273][274] Đĩa đơn chủ đạo "Anti-Hero" đứng nhất Hot 100 trong tuần đầu tiên, cùng với tất cả bài hát của Midnights độc chiếm toàn bộ top 10 của Hot 100, đưa Swift trở thành nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử bảng xếp hạng làm được điều này.[275] Hai đĩa đơn khác của album là "Lavender Haze" và "Karma", dừng chân ở vị trí thứ 2 tại Hot 100.[276] Swift thắng được 9 giải Video âm nhạc của MTV năm 2023 gồm có Video của năm với "Anti-Hero", tiếp tục kéo giãn khoảng cách kỷ lục lên đến lần thứ 4.[277] Midnights đã gặt hái 2 giải thưởng Album giọng pop xuất sắc nhấtAlbum của năm tại lễ trao giải Grammy lần thứ 66, giúp Swift trở thành nghệ sĩ đầu tiên thắng giải Album của năm 4 lần.[278]

Speak Now (Taylor's Version) được phát hành vào ngày 7 tháng 7 năm 2023, đưa Swift trở thành nữ nghệ sĩ có nhiều album quán quân nhất (12) trong lịch sử Billboard 200, vượt qua Barbra Streisand.[279] 1989 (Taylor's Version) lên kệ vào ngày 27 tháng 10 năm 2023, cơi nới kỷ lục trở thành album thứ sáu của Swift bán được triệu bản trong tuần đầu tại Hoa Kỳ và là album bán chạy nhất năm 2023.[280] Thậm chí, 1989 (Taylor's Version) còn phá kỷ lục trước đó của Midnights trở thành album bán chạy nhất trong một tuần suốt sự nghiệp của Swift.[280] Đĩa đơn "Is It Over Now?" của 1989 (Taylor's Version) ra mắt ở vị trí quán quân trên Billboard Hot 100.[281] Swift là nghệ sĩ được phát trực tuyến nhiều nhất năm 2023 trên Spotify[282] và Apple Music[283] Cô trở thành nghệ sĩ đầu tiên được Billboard xướng tên vào đầu danh sách nghệ sĩ cuối năm ở ba thập kỷ liên tiếp (2009, 2015 và 2023),[284] và là nghệ sĩ còn sống đầu tiên có 5 album lọt vào top 10 của bảng xếp hạng Billboard 200 cùng lúc.[285] Cô là người nắm giữ kỷ lục lọt 5 album vào top 10 album bán chạy nhất của năm 2023 tại Hoa Kỳ tính từ thời điểm Luminate bắt đầu theo dõi số liệu bán lẻ âm nhạc tại Hoa Kỳ vào năm 1991.[286][281]

Ngoài các album, Swift còn hợp tác trong 5 bài hát từ năm 2021 đến 2023: "Renegade" và "Birch" của Big Red Machine,[287] bản remix "Gasoline" của Haim,[288] "The Joker and the Queen" cùng Ed Sheeran,[289] và "The Alcott" với The National.[290] Năm 2022, cô phát hành "Carolina" làm nhạc phim cho bộ phim chuyển thể tiểu thuyết Xa ngoài kia nơi loài tôm hát, và nhận được đề cử ca khúc trong phim hay nhất ở giải Quả cầu vàng và giải Grammy.[291] Ngoài âm nhạc, Swift còn vào vai phụ trong phim hài lịch sử – trinh thám Amsterdam – Vụ án mạng kỳ bí ra mắt vào năm 2022 và đã ký hợp đồng làm đạo diễn một bộ phim sắp ra mắt cho Searchlight Pictures.[292][293]

2023–nay: The Eras Tour và The Tortured Poets Department

Swift trình diễn tại The Eras Tour vào năm 2023

Vào tháng 3 năm 2023, Swift tổ chức chuyến lưu diễn The Eras Tour có danh sách tiết mục trải rộng lên toàn bộ 10 album phòng thu đầu tiên của cô.[294] Các phương tiện truyền thông đưa tin rộng rãi tầm những ảnh hưởng văn hóa và kinh tế của chuyến lưu diễn,[295] cũng như chuyến lưu diễn phá kỷ lục số vé bán ra trong một ngày ở khu vực Hoa Kỳ.[275] Ticketmaster vấp phải tranh cãi chỉ trích từ phía của công chúng và chính trị do quản lý yếu kém đợt mở bán vé trước.[296] The Eras Tour trở thành chuyến lưu diễn có doanh thu cao nhất trong lịch sử âm nhạc, lên đến hơn 1 tỷ đô la Mỹ.[297] Bộ phim hòa nhạc Những kỷ nguyên của Taylor Swift được phát hành tại các rạp chiếu phim toàn thế giới vào ngày 13 tháng 10 năm 2023, trở thành phim hòa nhạc có doanh thu cao nhất từ trước tới nay nhờ vào tổng doanh thu 250 triệu đô la Mỹ trên toàn thế giới, và nhận được đề cử giải Quả cầu vàng cho thành tích điện ảnh và phòng vé.[298][299][300] Quá trình phát hành cùng quảng bá âm nhạc, lưu diễn và các hoạt động liên quan của Swift đã đạt đến đỉnh cao chưa từng có sau đại dịch.[301] Music Business Worldwide nhận xét rằng cô đã bước vào "một tầng bình lưu mới cho sự nghiệp thành công trên toàn cầu" vào năm 2023.[302]

Năm 2023, Swift bắt đầu hẹn hò với cầu thủ bóng bầu dục người Mỹ Travis Kelce.[303] Tháng 1 năm 2024, hàng loạt ảnh deepfake khiêu dâm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo dựng trong đó có sử dụng hình ảnh của Swift được đăng tải tràn ngập trên Twitter lẫn nhiều nền tảng mạng xã hội khác, dẫn đến làn sóng chỉ trích AI cùng với yêu cầu cải cách pháp luật.[304][305] Album phòng thu thứ mười một The Tortured Poets Department được phát hành dưới dạng album kép vào ngày 19 tháng 4 năm 2024, gồm phiên bản tiêu chuẩn có 16 bài hát và phiên bản The Anthology bổ sung thêm 15 bài hát.[306]

Phong cách nghệ thuật

Ảnh hưởng

Shania Twain (trái) và Dolly Parton (phải) là những nghệ sĩ đã ảnh hưởng đến phong cách âm nhạc của Swift.

Một trong những khoảnh khắc tiếp xúc âm nhạc sớm nhất của Swift đó chính là cô đã từng lắng nghe bà ngoại Marjorie Finlay của cô hát vang ở khắp ngóc ngách trong nhà và tại nhà thờ vào mỗi Chủ Nhật.[4] Ngay từ khi còn nhỏ, Swift đã say mê trước các bài hát nhạc phim của Disney đến mức luôn luôn hát mỗi khi đang ngồi trên xe về nhà: "Bố mẹ tôi để ý rằng, mỗi lần cạn lời không biết nên nói gì thì tôi lại tự nghĩ ra thêm nhiều câu nói cho mình."[307] Mẹ của Swift chính là người đã khơi dậy trí tưởng tượng của Swift và kể cho cô nghe những câu chuyện lúc nhỏ.[308] Swift cho biết, cô có được sự tự tin là nhờ người mẹ đã giúp cô chuẩn bị cho các bài thuyết trình trước khi đến lớp.[309]

Ở những năm tháng đầu sự nghiệp, chính lối kể chuyện trong dòng nhạc đồng quê đã làm Swift cảm thấy cuốn hút.[310] Cô khơi dậy cảm hứng từ những nghệ sĩ nữ nhạc đồng quê thập niên 1990 như Shania Twain, Faith Hill, LeAnn Rimes và Dixie Chicks.[311][312] Trong đó, nhạc sĩ viết lời và biểu diễn Twain chính là người ảnh hưởng âm nhạc của Swift nhất,[313][314] Hill là hình mẫu thời thơ ấu của cô để cho cô bắt chước theo,[315][316] và Swift luôn cảm thấy ngưỡng mộ trước tâm trạng đầy thách thức và khả năng chơi nhạc cụ của Chicks.[317] Ngoài ra, cô đã chịu ảnh hưởng từ các ngôi sao đồng quê lớn tuổi như Patsy Cline, Loretta Lynn, Tammy Wynette và Dolly Parton.[315][24] Parton là người mà cô cho là mẫu mực đối với các nhạc sĩ nữ.[124] Sau khi trở thành một nhạc sĩ sáng tác bài hát, chính lời bài hát đong đầy cảm xúc và tự truyện của Joni Mitchell đã ảnh hưởng đến Swift. Cô đã bày tỏ niềm yêu thích với album Blue của Mitchell vì những ca khúc trong đó "khám phá sâu sắc tâm hồn của con người".[318] Cô cũng kể thêm rằng bản thân còn chịu ảnh hưởng từ các nhạc sĩ những năm 1990 như Melissa Etheridge, Sarah McLachlanAlanis Morissette,[319][320] cùng với các nghệ sĩ đồng quê alternative như Patty Griffin[321]Lori McKenna.[322]

Trước độ tuổi thiếu niên, Swift luôn yêu thích các nghệ sĩ bubblegum pop như HansonBritney Spears. Trong đó, Spears là người mà cô "sùng kính không lay chuyển".[323][324] Ở trường trung học, Swift thường nghe những ban nhạc rock như Dashboard Confessional,[325] Fall Out Boy,[326]Jimmy Eat World.[327] Cô cũng là người hâm mộ của những ca sĩ tự sáng tác đương đại như Michelle Branch,[327] Fefe Dobson[327]Justin Timberlake,[328] cũng như những nghệ sĩ thập niên 1960 như The Shirelles, Doris TroyThe Beach Boys.[329] Nhiều nghệ sĩ nhạc pop và rock cũng đã ảnh hưởng đến Swift, gồm có Paul McCartney, Bruce Springsteen, Emmylou Harris và cô chọn Kris Kristofferson để làm hình mẫu trong sự nghiệp của cô.[322][330] Phong cách sáng tác album 1989 của Swift chịu ảnh hưởng từ một số nghệ sĩ nhạc pop những năm 1980 yêu thích của cô như Peter Gabriel, Annie Lennox, Phil CollinsMadonna.[331][332] Cô cũng cho biết phong cách âm nhạc của Keith Urban và biên soạn ca từ của Fall Out Boy chính là cảm hứng sâu sắc nhất của cô.[333][334]

Thể loại âm nhạc

"Nếu có một điều mà Swift đã chứng tỏ được trong suốt sự nghiệp của mình, thì đó là việc cô ấy luôn khước từ việc để bản thân mình bị bó buộc vào một chiếc hộp. Thứ âm nhạc không ngừng tiến bộ đã biến cô từ một nàng thơ nhạc đồng quê sang một hiện tượng nhạc pop và rồi trở thành một tân binh của dòng nhạc folk."

Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia, 2021[335]

Swift nổi tiếng là người đi đầu trong việc mạo hiểm khai quật, kết hợp nhiều thể loại âm nhạc khác nhau và thực hiện nhiều kiểu sáng tạo nghệ thuật, đổi mới không ngừng.[336][293] Cô được ví là "tắc kè hoa âm nhạc".[337][338] Trước kia, cô được cho là một nhạc sĩ đồng quê cho đến khi cô phát hành album phòng thu thứ tư Red vào năm 2012.[339][340] Mặc dù các album của cô vẫn được quảng bá trên các đài phát thanh đồng quê nhưng nhiều nhà phê bình âm nhạc nhận thấy nền nhạc của cô xen lẫn rất nhiều phong cách của thể loại pop và rock.[341][342] Rolling Stone cho rằng Swift "có thể được phát trên các trạm phát thanh nhạc đồng quê, nhưng cô ấy là một trong những ngôi sao nhạc rock thực thụ hiếm hoi hiện nay".[343] Sau năm 2010, giới phê bình âm nhạc đã dần để ý giai điệu của Swift có cốt lõi ở dòng nhạc pop, nhưng vẫn còn được gắn mác nhạc đồng quê là do phần nhạc cụ sử dụng xuyên suốt các bài hát như banjo, mandolinvĩ cầm du dương, đi kèm với chất giọng twang nhàn nhạt của cô.[344][345] Một số cây viết cho rằng mục đích Swift thoạt đầu chọn theo đuổi nhạc đồng quê là vì cô muốn truyền tải ca từ đậm chất tự sự của cô, hơn là vì phong cách âm nhạc đặc trưng của thể loại đó.[346][347] Mặc dù ngành công nghiệp âm nhạc Nashville có chấp nhận vị thế của Swift là một nhạc sĩ đồng quê, nhưng giới phê bình vẫn chỉ trích cô từ bỏ cội nguồn của mình để gặt hái thành công sang thị trường nhạc pop đại chúng.[348][349] Phong cách nhạc điện tử, pop chiết trung và rock của album Red tiếp tục trở thành chủ đề để cho giới phê bình tranh cãi mổ xẻ gay gắt. Swift đã lên tiếng rằng, "Tôi để cho người ta mặc sức gắn thể loại."[350][351]

Người viết báo âm nhạc Jody Rosen nhận xét rằng từ lúc bắt đầu sự nghiệp âm nhạc ở Nashville, Swift đã thực hiện "mồi nhử-và-chuyển đổi, cắm rễ vào vùng đất đồng quê nhiều mùn, sau đó quay ngoắt 180 độ sang nhạc pop".[352] Cô từ bỏ bản sắc nhạc đồng quê của mình vào năm 2014 bằng cách phát hành album phòng thu thứ năm 1989 thuộc thể loại synth-pop.[353][354] Những album tiếp theo của cô Reputation (2017) và Lover (2019) là những tác phẩm nhạc pop sôi động, đặc biệt Reputation đánh liều kết hợp một chùm đặc trưng của dòng nhạc hip hop, trap, dubstepEDM.[355][356][357] Mặt khác, Midnights (2022) lại khác biệt rõ hơn bởi tính thử nghiệm thể loại trong album đó: âm thanh pop nhẹ nhàng và vô định hình.[358][359] Mặc dù các album nhạc pop của Swift nhận về những đánh giá nhìn chung là tích cực, thế nhưng, một số cây bút vẫn lên tiếng chỉ trích cho rằng chính quá trình sản xuất nhạc pop đã cho thấy sự theo đuổi thành công ở thị trường đại chúng của Swift. Điều đó đã làm bào mòn đi danh nghĩa một nhạc sĩ sáng tác bài hát được nuôi dưỡng từ dòng nhạc đồng quê của cô, và lời chỉ trích được cho là tương đồng với chủ nghĩa nhạc rock.[360][361] Nhà âm nhạc học Nate Sloan nhận xét rằng việc chuyển đổi sang nhạc pop của Swift nhiều phần cũng là do nhu cầu mở rộng khả năng nghệ thuật của cô.[362] Không những thế, Swift còn sẵn sàng gác lại nhạc pop đại chúng để chuyển sang phong cách thể loại hoàn toàn là alternative, dân gian đương đạiindie rock trong hai album bất ngờ năm 2020 FolkloreEvermore, và cô được công chúng đón nhận rộng rãi.[363][364][365] Clash cho biết sự nghiệp của cô "luôn siêu việt và vượt qua mọi ranh giới bí mật" đến mức "Taylor Swift chỉ là Taylor Swift", và âm nhạc của cô không thể xác định ở duy nhất bất kỳ một thể loại nào.[366]

Giọng hát

Theo đánh giá tổng quát, Swift sở hữu chất giọng nữ trung[370] cùng âm sắc tuy nhẹ nhàng nhưng linh hoạt.[371][372] Ở những giai đoạn đầu tiên trong sự nghiệp, Sophie Schillaci từ The Hollywood Reporter miêu tả giọng hát của Swift "ngọt ngào, dịu êm".[373] Trong phòng thu, Los Angeles Times chỉ ra đặc điểm nổi bật trong giọng hát của Swift là chú ý đến từng chi tiết trong việc truyền tải chất trữ tình, nằm ở "câu hát xuống tông như một tiếng thở dài mãn nguyện hay vút cao một cách bất ngờ như lúc nhướng mày, giúp cô giữ sự nữ tính đáng yêu trong không gian thân mật".[374] Rolling Stone, trong bài đánh giá Speak Now, có ghi nhận: "Giọng hát của Taylor đủ chân thật để cho thấy sự lão luyện của cô trong vai trò ca sĩ; cô hạ thấp giọng ở những đoạn quan trọng, trong tâm trạng của một cô gái e ấp đang cố gắng nắm lấy uy quyền."[367]

Dẫu thế, khi còn là một ca sĩ hát nhạc đồng quê, giọng ca của cô bị một số người chỉ trích là yếu và gắng sức so với những người cùng thời với cô.[375] Một số nhà phê bình vào năm 2009 mô tả giọng của Swift "nhàm chán, mỏng manh và đôi khi yếu ớt như một con ngựa mới sinh".[376][377] Swift thừa nhận chính khả năng thanh nhạc thường khiến cô lo lắng trong thời gian đầu khởi nghiệp, nên cô đã cải thiện bằng cách luyện giọng chăm chỉ.[378][379] Giọng hát của cô vẫn gặp phải những đánh giá trái chiều sau khi cô chuyển sang nhạc pop hoàn toàn với album 1989. Mặc dù các nhà phê bình chỉ trích rằng Swift vẫn còn thiếu kỹ thuật thanh nhạc phù hợp nhưng họ vẫn đánh giá cao cách cô sử dụng giọng ca để truyền đạt cảm xúc của mình đến khán giả và ưu tiên giọng "gần gũi hơn nội lực và đầy sắc thái".[380] Swift cũng được khen ngợi vì không sử dụng Auto-Tune để khắc phục cao độ khi trình diễn.[381]

Giọng hát của Swift càng về sau càng được nhiều cây bút lên bài nhận xét album cùng với màn trình diễn đánh giá rất cao. Các nhà phê bình nhận thấy Swift ít giọng mũi hơn, ca hát phong phú hơn, vang dội hơn và mạnh mẽ hơn.[345][382][383] Với album Reputation, các nhà phê bình nhận thấy cô đang "học cách hô biến giọng hát của mình trở thành nhạc cụ gõ riêng",[384] biến chuyển chất giọng biểu cảm "đặc trưng" của cô để có nhịp điệu và giai điệu "hấp dẫn, đối thoại, tách biệt" tương tự như phong cách hip hop và R&B.[385][203][386] Alternative Press cho rằng phong cách giọng ca "gợi cảm" của Swift nhiều phần làm gợi nhớ thể loại metalcore, pop punkemo cho người nghe.[387] Chỉ với FolkloreEvermore trong tay, Swift nhận được rất nhiều lời khen ngợi từ công chúng lẫn giới chuyên môn nhờ giọng hát dù sắc sảo nhanh nhẹn nhưng trong trẻo và được cô điều khiển tốt.[388][389][390] Pitchfork cho rằng giọng hát của Swift "linh hoạt và tràn đầy cảm xúc".[391]

Sang đến các album tái thu âm năm 2021, các nhà phê bình bắt đầu khen ngợi tiếng hát trưởng thành, trầm hơn và "đầy đặn hơn" của Swift.[392][393][394] Một bài đánh giá bên trang i đã tán dương rằng chất giọng mới của Swift giờ đã "tốt hơn rất nhiều".[395] The Guardian nhấn mạnh "tiếng hét yo-yoing" và những đoạn cao trào cuồng nhiệt là đặc trưng thanh nhạc của Swift,[396] và giọng mũi của cô đã tiêu biến.[397] Album Midnights đã nhận được sự hoan nghênh vì phong cách ca hát "dịu nhẹ một cách trang nhã" của Swift.[398] Cô được xếp ở hàng thứ 102 trong danh sách 200 ca sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại theo Rolling Stone.[372] Trong bài nhận xét về chuyến lưu diễn The Eras Tour, nhà phê bình viết cho The New Yorker, Amanda Petrusich đã tôn vinh giọng hát live trong trẻo với giai điệu lôi cuốn của Swift, ngày càng dày dặn và mạnh mẽ hơn trong những năm qua.[399] Nhà âm nhạc học Alyssa Barna bảo rằng âm sắc của Swift "dễ thở tươi sáng" ở quãng âm vực cao và "đầy đặn tăm tối" ở âm vực thấp.[244]

Sáng tác

"Đối với một người phụ nữ viết về xúc cảm của bản thân, nhưng lại bị cho là một cô bạn gái đeo bám, điên rồ, tuyệt vọng, cầu xin bạn để được kết hôn và có con với cô ta, thì tôi nghĩ đây là điều có thể đáng được tôn vinh. Tội rằng khi một người phụ nữ kể về cảm xúc của mình bằng lời thật lòng thì lại bị xuyên tạc, bóp méo thành một thứ khá là phân biệt giới tính."

— Swift đáp trả trước sự chỉ trích về tác phẩm của mình.[400]

Swift được nhiều thông cáo báo chí lẫn giới chuyên môn xướng tên là một trong những nhạc sĩ sáng tác bài hát vĩ đại.[401][402][403] Các học giả Anh ngữ như Jonathan BateStephanie Burt cho biết, khả năng cảm thụ văn chương và giai điệu cũng như phong cách soạn ca từ bằng lời ăn tiếng nói của Swift ngày nay rất hiếm khi được chứng kiến, so với các đồng nghiệp cùng thời với cô.[404][405] Các đoạn bridge chuyển tiếp ở cuối bài hát của Swift được nhiều cây viết đánh giá là phân đoạn hay nhất,[406][407]Time đã phong tặng cho cô danh hiệu "Nữ hoàng viết Bridge" từ ấy.[408] Mojo gọi cô là "một người kể chuyện sắc sảo chuyên đi kèm với tài ẩn dụ mở rộng".[409]

Swift cho hay trong bài đăng của The New Yorker vào năm 2011 rằng, đầu tiên cô sẽ phải xác định chính bản thân cô là một nhạc sĩ trước, "Tôi viết bài hát và giọng hát của tôi chỉ là một phương thức để truyền tải những dòng lời đó".[410] Những trải nghiệm cá nhân của cô đã trở thành nguồn cảm hứng chung cho những bài hát đầu tiên của cô, giúp cô định hướng cuộc sống.[411][412][413] Kỹ thuật "ghi chép" của cô gồm hai bước: xác định cảm xúc, rồi tìm giai điệu tương ứng cho cảm xúc đó.[414][415] Những chủ đề nổi bật xoay quanh trong ba album phòng thu đầu tiên của cô đó chính là tình yêu, đau khổ và bất an, góc nhìn của tuổi mới lớn.[416][417] Riêng trong Fearless, Swift sử dụng hình ảnh cổ tích và khám phá sự trái ngược "giữa những câu chuyện cổ tích và thực tế của tình yêu".[417] Các album sau này của cô chứa đựng nhiều quan điểm trưởng thành hơn.[330] Ở album Red, Swift đào sâu vào chủ đề mối quan hệ tình cảm toxic hỗn loạn.[418] Tiếp đến, cô đi theo phong cách hoài cổ và tình yêu tích cực sau mối lãng mạn ở 1989.[331] Reputation chủ yếu lấy tâm trạng từ danh tiếng méo mó của Swift vào năm 2016,[419]Lover thể hiện rõ rệt quan điểm hiểu biết về "mọi sắc màu của tình yêu" trong cô.[420] Các chủ đề khác trong âm nhạc của Swift có thể nhắc đến gồm có động lực gia đình, tình bạn,[421][422] cô lập, tự nhận thức và bàn những chuyện cay nghiệt, nhất là phân biệt giới tính.[308][401]

Phong cách thổ lộ tình yêu trong ca từ của Swift nhận được nhiều lời tán tụng của giới chuyên môn.[423][424][425] Họ đã tích cực ca ngợi những chi tiết sống động và mối gắn kết đầy cảm xúc trong bài hát của Swift, một thứ mà hiếm khi được thấy trong dòng nhạc pop.[426][427][428] Bên cạnh đó, họ cũng khen ngợi những sáng tác du dương của cô. Rolling Stone mô tả Swift là "một nhạc sĩ uyên bác có tài năng xử lý cấu trúc lời chính-điệp khúc-bridge chuyển tiếp cuối bài nhạy bén".[429][430] NPR mệnh danh Swift là "bậc thầy về ngôn ngữ bản địa trong lời bài hát"[203] và nhận xét rằng các bài hát của cô đã gắn kết về mặt cảm xúc bởi "cách sắp xếp đầy khôn khéo rõ ràng của cô ấy đã biến [cảm xúc] từ chuyện cơm bữa trở thành những lời thổ lộ tình yêu chân thành".[430] Tuy nhiên The New Yorker cho biết, Swift vẫn chỉ là "một kỹ thuật viên lành nghề hơn là một người có tầm nhìn xa trông rộng theo phong cách Dylanesque".[424] Các phương tiện truyền thông lá cải thường xuyên đem bài hát của cô gán chủ đề với những người yêu cũ, và động thái này đã bị nhiều người bình luận và chính Swift lên án là đặt thành kiến về chuyện giới tính.[431][432][400] Ngoài những manh mối trong phần bìa ghi chú album thì Swift luôn luôn từ chối tiết lộ chủ thể mà cô viết trong các bài hát là ai, "vì đây là những người có thật. Bạn phải cố gắng truyền đạt suy nghĩ của mình một cách tế nhị mà không chà đạp người khác".[433]

Ở các album năm 2020 FolkloreEvermore, Swift đã lấy cảm hứng từ chủ nghĩa thoát lychủ nghĩa lãng mạn để bộc lộ những câu chuyện hư cấu.[434] Cô hoàn toàn không sử dụng đời tư của mình trong hai album đó, mà thay vào đấy, cô đã áp đặt cảm xúc lên các nhân vật và mạch truyện trong trí tưởng tượng riêng mình. Vì lẽ đó, báo lá cải cũng dần bớt chú ý về phía Swift hơn, và mở rộng thêm những con đường mới cho nghệ thuật của cô.[414] Swift giải thích rằng cô đã muốn đi theo hướng sáng tác mới, sau khi không còn lo toan về vấn đề thành công thương mại nữa.[434] Theo tờ Spin, Swift đã khám phá những cảm xúc phức tạp đến "chính xác và tàn khốc" qua sản phẩm Evermore.[435] Consequence cho biết các album năm 2020 của Swift đã thuyết phục được những người hoài nghi phải tin tưởng khả năng sáng tác của cô, đồng thời tòa soạn đành phải công nhận cái hay của Swift trong quá trình chuyển đổi từ "thần đồng tuổi teen để trở thành một người trưởng thành tự tin và chu đáo".[407]

Swift đã từng phân chia các sáng tác của cô thành ba dạng ca từ chính: "bút lông" là những ca khúc lấy cảm hứng từ thơ ca cổ xưa; "bút máy" là những bài dựa trên cốt truyện hiện đại và sống động; và "bút nhũ kim tuyến" dành cho những bản ca sống động và phù phiếm.[436] Các nhà phê bình đánh giá ca khúc thứ năm trong mỗi album của Swift là bài hát "dễ bị tổn thương về mặt cảm xúc" nhất trong album.[437] Lúc trao cho Swift giải thưởng Biểu tượng nhạc sĩ năm 2021, Hiệp hội Nhà xuất bản Âm nhạc Quốc gia nhận xét rằng "không còn ai có ảnh hưởng hơn Swift trong việc viết nhạc ngày nay".[438] The Week đã xem cô là nữ nhạc sĩ hàng đầu của thời hiện đại,[439] và Hiệp hội Nhạc sĩ sáng tác bài hát Quốc tế Nashville nêu tên cô là Nhạc sĩ sáng tác bài hát-Nghệ sĩ của thập kỷ vào năm 2022.[275] Swift cũng đã cho xuất bản hai bài thơ tự viết, bao gồm "Why She Disappeared" và "If You're Anything Like Me".[440]

Biểu diễn trực tiếp

Swift biểu diễn ở chuyến lưu diễn Reputation Stadium Tour tại Seattle vào tháng 5 năm 2018

Nhiều nhà báo đã cho rằng Swift chính là một trong những nghệ sĩ biểu diễn trực tiếp xuất sắc nhất mọi thời đại. Họ đều ca tụng kỹ năng trình diễn cũng như phong cách hiện diện trên sân khấu của cô luôn khiến cho người thưởng thức phải "hát theo, la hét, khóc nấc" và nhún nhảy không ngừng.[441] Bên cạnh đó, Swift nổi tiếng trong việc lôi kéo mọi ánh nhìn từ phía khán giả đông đúc ngay trong sân vận động rộng lớn,[442][443][444] mà không cần phải dựa vào kỹ năng khiêu vũ cao siêu quá nhiều như những đồng nghiệp cùng thời với cô.[445] Theo Greg Krelenstein bên tạp chí V, Swift đang nắm trong tay "năng khiếu hiếm có là biến quang cảnh sân vận động thành một khung cảnh thân mật", bất kể cô đang "gảy đàn hay phải dẫn dắt một đội vũ công".[446]

Trong bài đánh giá năm 2008 về những màn trình diễn đầu tiên của Swift, Sasha Frere-Jones bên The New Yorker gọi Swift là nghệ sĩ giải trí "có năng lực phi thường" trong việc xuất hiện sôi động trên sân khấu và cho biết thêm rằng, "cô ấy đã đáp lại niềm phấn khích của đám đông bằng tác phong chuyên nghiệp mà cô ấy đã luôn thể hiện tính từ năm 14 tuổi."[347] Năm 2023, Adrian Horton viết cho The Guardian đã phải công nhận "sức chịu đựng dường như vô tận" của cô trong chuyến lưu diễn The Eras Tour,[447] và cây viết phê bình bên trang i là Ilana Kaplan gọi khả năng trình diễn của cô là "vô song".[448]

Các nhà phê bình đã đánh giá cao tính linh hoạt trong nghề nghệ sĩ giải trí của Swift. Họ tán tụng khả năng thay đổi hình tượng trên sân khấu lẫn phong cách biểu diễn của cô theo chủ đề và tính thẩm mỹ khác nhau ở từng album của cô (hay được gọi là "những kỷ nguyên").[449][450] Những buổi hòa nhạc của cô được thiết kế theo phong cách trình chiếu sân khấu Broadway đầy công phu và sử dụng công nghệ vô cùng tân tiến,[451] và hỗ trợ các buổi biểu diễn là một ban nhạc biểu diễn trực tiếp đã cùng cô lưu diễn từ năm 2007.[452] Xuyên suốt những tiết mục trên sân khấu, Swift luôn trang bị sẵn cho mình những nhạc cụ biểu diễn như guitar điện,[453] vĩ cầm acoustic và dương cầm,[454] và đôi lúc là đàn 12 dây,[455][456] banjo,[457] hoặc ukulele.[458] Ngoài ra, ở các màn trình diễn acoustic solo, cô cũng thường xuyên tương tác với khán giả. Đây được coi là cách Swift tạo dựng cảm giác gần gũi thân thiện và gây được tiếng vang về mặt cảm xúc, làm tôn lên những ca từ đầy tính tự sự và duy trì kết nối với người hâm mộ của cô bền chặt hơn nữa.[399][459] Lydia Burgham bên The Spinoff viết rằng niềm thân mật này vẫn luôn "gắn liền với nghề ca-nhạc sĩ của cô".[460][454] Chris Willman bên Variety gọi Swift là "siêu sao dễ được yêu mến nhất làng nhạc pop"[461] và nghệ sĩ biểu diễn nổi tiếng nhất thế kỷ 21.[462]

Video và phim ảnh

Swift nhấn mạnh phim ảnh là thành phần sáng tạo quan trọng trong quá trình sáng tác âm nhạc,[463] và cô lừng danh trong việc ẩn giấu những mạch câu chuyện phức tạp và các easter egg trong nhiều tác phẩm của mình.[464][465] Ngay từ thuở đầu, cô đã hợp tác với nhiều đạo diễn khác nhau để sản xuất các video âm nhạc của mình. Trải qua một thời gian dài, cô đã từ từ dấn thân vào công việc tự viết kịch bản và tự làm đạo diễn.[466] Swift đã đồng đạo diễn video âm nhạc cho "Mine" cùng với Roman White,[467] và cô chính là người đã phát triển ý tưởng và lên đề cương kịch bản cho "Mean" với đạo diễn Declan Whitebloom.[468] Trong một cuộc phỏng vấn, Whitebloom nói rằng Swift "rất tích cực tham gia vào việc viết đề cương kịch bản, tuyển diễn viên và xây dựng kho trang phục. Cô ấy đã ở lại phim trường trong cả hai ngày quay kéo dài 15 giờ, ngay cả khi cô ấy không trực tiếp tham gia vào cảnh quay."[469] Vì ăn ý, Swift đã lên ý tưởng cho video âm nhạc "Ours" và tiếp tục mời Whitebloom đảm nhiệm vai trò đạo diễn.[470][471]

Từ năm 2014 đến năm 2018, Swift bắt tay hợp tác với đạo diễn Joseph Kahn trong 8 video âm nhạc: 4 video đến từ album 1989 và 4 video đến từ album Reputation.[472] Kahn đã ca tụng sự nhiệt tình của cô trong quá trình quay phim.[473] Năm 2014, Swift làm việc với American Express trong video âm nhạc "Blank Space" của cô (do Kahn làm đạo diễn) và phát hành ứng dụng tương tác AMEX Unstaged: Taylor Swift Experience. Cô đảm nhận vai trò điều hành sản xuất và thủ vai chính, giành giải Primetime Emmy cho Chương trình tương tác xuất sắc nhất vào năm 2015.[474] Swift đã sản xuất video âm nhạc cho "Bad Blood" và giành được giải Grammy cho Video âm nhạc xuất sắc nhất năm 2016.[475]

Swift sở hữu công ty sản xuất của riêng mình mang tên Taylor Swift Productions để sản xuất tất cả các phương tiện truyền thông video, với tác phẩm đầu tiên chính là bộ phim tài liệu hòa nhạc năm 2018 Reputation Stadium Tour.[476] Cô tiếp tục đồng đạo diễn các video âm nhạc đĩa đơn nằm trong album Lover: "Me!" cùng với Dave Meyers và "You Need to Calm Down" (tự chính cô đồng điều hành sản xuất) và "Lover" cùng với Drew Kirsch.[477] Đến phiên "The Man" thì Swift hoàn toàn đạo diễn toàn bộ, và video âm nhạc đã giúp cô giành giải Video âm nhạc của MTV cho Đạo diễn xuất sắc nhất vào năm 2020.[478][479] Swift nhận được hai đề cử cho "Cardigan" và "Willow" ở hạng mục Đạo diễn xuất sắc nhất tại giải Video âm nhạc của MTV năm 2021.[480][481] Sau khi phát hành Folklore: The Long Pond Studio Sessions, Swift bắt tay vào nghề nhà làm phim với bộ phim ca nhạc All Too Well: The Short Film,[275] đưa cô trở thành nghệ sĩ đầu tiên giành được giải Grammy cho Video âm nhạc hay nhất với tư cách là đạo diễn duy nhất.[482] Ngoài ra, Swift còn ghi công Chloé Zhao, Greta Gerwig, Nora Ephron, Guillermo del Toro, John CassavetesNoah Baumbach là niềm cảm hứng làm phim của mình.[463]

Giải thưởng và thành tựu

Năm 2009, Swift trở thành ca sĩ nhạc đồng quê đầu tiên trong lịch sử giành giải Video âm nhạc của MTV.

Danh sách đĩa nhạc của Swift chính là một "cuốn sách hát được giới phê bình tán dương" theo lời Sam Lansky của tờ Time.[483] Cô đã thắng 14 giải Grammy (gồm 4 giải Grammy cho Album của năm và là nghệ sĩ đoạt được giải này nhiều nhất),[484] 1 giải Emmy,[474] 40 Giải thưởng Âm nhạc Mỹ (hiện là nghệ sĩ thắng được nhiều nhất),[485] 39 giải thưởng Âm nhạc Billboard (nghệ sĩ thắng được nhiều giải nhất, đồng hạng với Drake),[486] 117 kỷ lục trong Sách Kỷ lục Guinness,[487] 23 giải Video âm nhạc của MTV (gồm 4 lần đoạt giải Video của năm, và là nghệ sĩ giành được nhiều nhất),[277] 12 giải thưởng Hiệp hội Âm nhạc Đồng quê (gồm giải Pinnacle),[488][489] 8 giải thưởng Viện hàn lâm Âm nhạc Đồng quê,[490] và 2 giải Brit.[491] Swift được Hiệp hội Nhạc sĩ sáng tác bài hát Nashville,[73][492] Đại sảnh Danh vọng Nhạc sĩ sáng tác bài hát và Hiệp hội các nhà xuất bản âm nhạc quốc gia vinh danh với tư cách là một người viết ca khúc của các năm, đồng thời cũng là người trẻ nhất lọt vào danh sách 100 nhạc sĩ sáng tác bài hát vĩ đại nhất mọi thời đại của Rolling Stone vào năm 2015.[493][494][495] Tại giải BMI lần thứ 64 vào năm 2016, Swift là người phụ nữ đầu tiên được vinh danh với giải thưởng mang tên chính người nhận là cô.[496]

Về mặt thương mại, căn cứ vào số liệu thống kê có được, Swift đã tích lũy được tổng cộng 50 triệu lượt tiêu thụ album và 150 triệu lượt mua đĩa đơn tính đến năm 2019,[497][498][499] và tẩu tán 114 triệu bản trên toàn cầu, gồm trong đó 78 tỷ lượt phát trực tuyến tính đến năm 2021.[500][501] Liên đoàn Công nghiệp ghi âm Quốc tế (IFPI) đã xếp cô đứng đầu nghệ sĩ thu âm toàn cầu của năm với kỷ lục 4 lần (2014, 2019, 2022 và 2023).[502] Swift là nữ nghệ sĩ có nhiều album quán quân nhất ở Anh Quốc và Ireland trong thiên niên kỷ này,[503][504] kiếm được thu nhập cao nhất đối với một nghệ sĩ trên nền tảng nhạc số Trung Quốc (159.000.000CN¥ tính đến năm 2021),[505] và là nghệ sĩ đầu tiên tự soán ngôi đầu bảng chính bản thân và độc chiếm năm vị trí đầu tiên trên bảng xếp hạng album Úc.[506][507] Swift hiện đang nắm giữ kỷ lục nghệ sĩ lưu diễn trên thế giới có doanh thu cao nhất mọi thời đại, với tổng doanh thu bán vé tích lũy lên đến 1,96 tỷ đô la Mỹ tính đến tháng 11 năm 2023 theo trang Pollstar.[508] The Eras Tour chính là chuyến lưu diễn có doanh thu cao nhất từ trước đến nay của một nữ nghệ sĩ tính đến tháng 8 năm 2023.[509] Kể từ Fearless, mỗi album phòng thu của cô đều mở màn với hơn một triệu bản đã được tẩu tán trên toàn cầu.[510][511] Swift là nghệ sĩ nữ được phát trực tuyến nhiều nhất trên Spotify và Apple Music.[512][513] Trên Spotify, cô là nghệ sĩ nữ đầu tiên và duy nhất đạt được 100 triệu lượt nghe hàng tháng.[263] Swift là nghệ sĩ có nhiều bài hát lọt vào và trụ hạng tại cùng một thời điểm nhất trên Billboard Global 200, với 143 bài hát đã xuất hiện và 31 bài hát trụ hạng cùng lúc, tính cả bài hát hợp tác.[514][515]

Tại Hoa Kỳ, Swift đã bán được trên 37,3 triệu album tính đến năm 2019,[499]Billboard xếp cô ở vị trí thứ 8 trên Bảng xếp hạng nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại.[516] Tổng cộng có 11 bài hát của cô đã leo lên vị trí số một trên bảng Billboard Hot 100.[281] Cô là nghệ sĩ trụ hạng Billboard Artist 100 lâu nhất;[517] nghệ sĩ solo có nhiều tuần tích lũy ở vị trí đầu bảng Billboard 200 nhất;[518] phụ nữ có nhiều album quán quân trên Billboard 200 nhất,[263] bài hát lọt vào Hot 100 nhất,[263][171] nhiều bài top 10 nhất[281] và số tuần trụ hạng Top Country Albums nhiều nhất.[519] Swift là nghệ sĩ có số bài hát quán quân ở Pop AirplayDigital Songs nhiều nhất.[520][521] Cô là người phụ nữ đầu tiên cùng lúc lọt 5 album vào trong top 10 và 11 album trên bảng xếp hạng Billboard 200;[522][523] và là nghệ sĩ đầu tiên độc chiếm 4 vị trí đầu bảng và cùng lúc đưa 7 album vào top 10[chú thích 3] bảng xếp hạng Top Album Sales.[525][526] Cô là nữ nghệ sĩ đĩa đơn kỹ thuật số được chứng nhận cao thứ hai (và thứ năm tổng thể) ở Mỹ, nhờ vào 137,5 triệu đơn vị tổng được Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) chứng nhận,[527] và là nữ ca sĩ đầu tiên có cả album (Fearless) lẫn bài hát ("Shake It Off") đạt chứng nhận Kim cương.[528] Swift là nghệ sĩ duy nhất ở trong lịch sử Luminate Data có sáu album bán được một triệu bản trong vòng một tuần lễ.[529][530]

Swift đã xuất hiện trong nhiều danh sách quyền lực khác nhau. Time xướng tên cô vào danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất vào các năm 2010, 2015 và 2019.[531] Cô là một trong những "người đập tan sự im lặng" (Silence Breakers) được tạp chí đưa vào danh sách Nhân vật của năm 2017 vì đã có tiếng nói trong vấn đề tấn công tình dục,[532] và tiếp tục nhận vinh dự này vào năm 2023 vì tầm thống trị về mặt văn hóa của cô vào năm đó.[483] Time đã gọi Swift là Nhân vật của năm lần đầu tiên được ghi danh vì "thành tích trong nghệ thuật", đồng thời là người phụ nữ đầu tiên được công nhận và xuất hiện trên trang bìa Nhân vật của năm nhiều lần.[533][483] Năm 2014, cô được Forbes xướng tên vào danh sách 30 Under 30 ở hạng mục âm nhạc[534] và vào năm 2017 ở hạng mục "All-Star Alumni".[535] Swift trở thành người phụ nữ trẻ tuổi nhất có mặt trong danh sách 100 phụ nữ quyền lực nhất thế giới theo Forbes vào năm 2015, ở vị trí thứ 64.[536] Năm 2023, cô được Forbes xếp ở vị trí thứ năm phụ nữ quyền lực nhất thế giới và là nghệ sĩ giải trí đầu tiên được liệt vào top 5.[537] Ngày 18 tháng 5 năm 2022, Swift đã được Đại học New York trao bằng danh dự Tiến sĩ ngành Mỹ thuật, và cô có một bài phát biểu truyền cảm hứng tại lễ tốt nghiệp.[275]

Vị thế trong văn hóa

Swift tại giải thưởng Âm nhạc iHeartRadio năm 2019

Swift là người có tác động to lớn đến ngành công nghiệp âm nhạc, văn hóa đại chúng và kinh tế toàn cầu.[538][539] Cô đã thống trị nhiều bộ mặt về văn hóa,[540][541] và các truyền thông xã hội đều gọi cô là người có "sức sống" văn hóa hoặc người theo chủ nghĩa tư tưởng.[274][542][543] Phong cách âm nhạc, đời tư và hình tượng công chúng của cô luôn luôn là tâm điểm thu hút mọi sự chú ý trong nền văn hóa người nổi tiếng trên toàn cầu.[336] Ngay từ thuở bắt đầu âm nhạc, Swift đã trở thành một thần tượng teen[544] và cô đã tiến lên thành biểu tượng nhạc pop,[355][545] kết thúc thập niên 2010 với cương vị là "người khổng lồ âm nhạc mọi thời đại" theo như CNN.[546]

Một số ấn phẩm đã từng công nhận tốc độ nổi tiếng và sức chạy đường dài của Swift là thuộc dạng "không biết mệt mỏi là gì" và "gây ảnh hưởng lên toàn cầu", và những nhận định ấy chưa bao giờ có thể được chứng kiến kể từ thế kỷ 20.[547][548] Vào năm 2013, Jody Rosen viết cho tạp chí New York đã gọi Swift là "ngôi sao nhạc pop lớn nhất thế giới" và cho rằng hành trình trở thành ngôi sao của cô đã thách thức các tiêu chuẩn ngành sẵn có. Rosen còn bổ sung thêm, Swift đã "va chạm với những thể loại âm nhạc, những kỷ nguyên, nhiều loại đối tượng khán giả, các mô phạm và đại đa số trào lưu", cùng với nghệ thuật sáng tác nhạc đình đám đến mức khiến cho những người đồng nghiệp cạnh tranh của cô phải "giành giật nhau ở hàng thứ hai".[352] Các nhà phê bình, đơn cử là Sam Sanders bên Vulture, đã coi Swift là "sự kết hợp thành công đáng ngạc nhiên giữa ngôi sao nhạc pop sáng chói tới hàng megawatt và ca sĩ kiêm nhạc sĩ sáng tác ca khúc trong phòng thu tại nhà tựa như phòng ngủ."[549]

Cộng đồng người hâm mộ của Swift có tên gọi là Swifties.[296] Billboard tuyên bố rằng rất ít nghệ sĩ nào có được ba thế mạnh của Swift là thành công trên bảng xếp hạng, được giới chuyên môn đánh giá cao và cả sự hỗ trợ nhiệt tình của người hâm mộ, và nhờ những nhân tố đó mà cô lại càng thêm lan tỏa và có ảnh hưởng mạnh mẽ với công chúng.[550] Nhiều ấn phẩm đã nhìn nhận các album bán được hàng triệu bản của Swift là một điều đặc thù trong ngành công nghiệp âm nhạc dưới triều đại streaming lên ngôi, bởi kỷ nguyên album đã đi đến hồi kết sau khi doanh số tiêu thụ album sụt giảm nặng nề trong khi ngược lại, các album của Swift vẫn luôn trong tình trạng "cháy hàng". Do đó Swift được gọi là "người bất thường".[551][552][553] Nhà kinh tế học Alan Krueger đã xem Swift là một "nhà thiên tài kinh tế".[554]

Swift được biết đến với biệt hiệu "Công chúa nhạc đồng quê" ở giai đoạn đầu sự nghiệp nhờ vào hình ảnh ngôi sao nhạc đồng quê mái tóc xoăn vàng óng dấn thân vào đại chúng, cho đến khi chuyển sang nhạc pop với 1989.[555] Mặc dù các phương tiện truyền thông phong tặng Swift danh hiệu "Cục cưng của nước Mỹ" nhờ vào hình tượng cô gái hàng xóm ở đầu sự nghiệp,[556][557] nhưng cô vẫn bị những người gièm pha cáo buộc là "có tính toán" và thao túng hình ảnh của cô để "đóng vai nạn nhân", sau cuộc tranh cãi năm 2016 của Swift với West về chuyện gọi cô là "con chó cái".[189][190] Các nhà phê bình cũng cho biết cuộc sống cá nhân và sự nghiệp của Swift đã phải chịu rất nhiều cảnh ngộ kỳ thị nữ giới và "slut-shaming",[558][559] cũng như cô là chủ đề bị truyền thông soi mói tràn lan và tung tin đồn đoán lá cải.[560] Phi cơ riêng của Swift cũng thường xuyên bị theo dõi và chụp mũ trong vấn đề thải khí nhà kính[561][562][563] và chính người phát ngôn của Swift cho biết, nữ ca sĩ đã phải bao gấp đôi mức tín dụng khí thải nhà kính được đặt ra để đảm bảo việc đi lại giữa các chuyến lưu diễn.[564] Cô là nạn nhân của nhiều vụ đột nhập chỗ ở, rình rập theo dõi, tấn công tình dục và một vài đối tượng trong đó có sở hữu súng đạn.[565][566]

Di sản

"Bạn có nhiều nghệ sĩ khác nhau thống trị các lĩnh vực khác nhau của ngành công nghiệp: Một số người mạnh về streaming, một số người thì có sức hút lớn trên thị trường. Tuy nhiên, ở thời điểm này thì chúng ta chẳng còn thấy có ai tốt hơn Taylor Swift ở mọi mảng: trên đài phát thanh, phát trực tuyến, bán vé hòa nhạc hay đơn giản hơn nữa là gây ảnh hưởng văn hóa."

– Giám đốc điều hành Billboard, Jason Lipshutz vào năm 2023[567]

Swift là người có công lớn trong việc tái định hình và hồi sinh lại bối cảnh dòng nhạc đồng quê,[568] lan tỏa thành công trên khắp vùng văn hóa tiếng Anh,[352][568] đi đầu trong việc tận dụng mạng Internet (Myspace) làm công cụ tiếp thị cho sản phẩm,[35][61] và giới thiệu thể loại nhạc đồng quê cho giới trẻ.[569][352] Sau khi Swift thành công vang dội, các hãng thu âm nhạc đồng quê bắt đầu đổ xô đi ký hợp đồng với những ca sĩ trẻ có khả năng sáng tác nhạc cho riêng bản thân.[570] Nhờ vào hình tượng của Swift là nữ nghệ sĩ cầm đàn guitar và đam mê với nhạc cụ đó trong các buổi biểu diễn của cô, mà doanh số bán đàn guitar cho phụ nữ tăng đột biến, trong khi phụ nữ lại là nhóm nhân khẩu học trước đây bị coi thường. Đây còn được gọi là "Hiệu ứng Taylor Swift".[571][572]

Theo như nhiều nguồn xuất bản, Swift đã vĩnh viễn thay đổi bối cảnh hòa nhạc bằng cách mạo hiểm khám phá nhiều thể loại khác nhau, thực hiện những đổi mới nghệ thuật, tung ra một loạt bản ghi âm "nghe độc đáo" thích ứng với những chuyến biến trong xu hướng âm nhạc và văn hóa,[573] cũng như bằng tài năng làm phổ biến bất cứ âm thanh nào trong nền nhạc đại chúng của cô.[574] Nhờ vào lời bài nhạc đầy cảm xúc cá nhân và dễ bị tổn thương, cây bút viết báo âm nhạc Nick Catucci cho rằng Swift đã tạo tiền đề giúp cho những ca sĩ thế hệ tiếp theo như Billie Eilish, Ariana Grande, and Halsey bắt chước theo phong cách đó.[575] Các học giả đã nhấn mạnh khả năng cảm thụ văn học và chủ nghĩa nhạc pop lạc quan của Swift trong thế kỷ 21.[404][576] Swift được ghi nhận là người đã hô biến hình thức "chu kỳ album hai năm" trở thành tiêu chuẩn chung của ngành công nghiệp âm nhạc.[569] Đồng thời, cô còn giúp phổ biến thuật ngữ và khái niệm "kỷ nguyên" trong bối cảnh truyền thông rộng hơn.[577][578] Swift là một chủ đề nghiên cứu học thuật và truyền thông sâu rộng.[336] Nhiều cơ sở giáo dục khác nhau cung cấp các khóa học giảng giải về Swift ở lĩnh vực văn học, văn hóa và chính trị xã hội.[579][336]

Swift đã có sức ảnh hưởng đến nhiều nghệ sĩ âm nhạc ở nhiều thể loại kể từ khi ra mắt cho đến nay, và album của cô đã truyền cảm hứng cho cả một thế hệ ca-nhạc sĩ.[569][364][580] Các nhà báo đã vô cùng tán dương công cuộc cải cách các hoạt động trong ngành của Swift, cách cô làm thay đổi chính sách phát nhạc trực tuyến như thế nào, đồng thời cô đã tiếp sức nâng cao nhận thức về quyền sở hữu trí tuệ ở các nhạc sĩ mới[581][582] và định hình lại mô hình bán vé hòa nhạc.[583] Nhiều nguồn khác nhau đã nhìn nhận âm nhạc của Swift là một mô hình đại diện cho thế hệ Millennials.[584] Vox gọi cô là "Bruce Springsteen của thiên niên kỷ",[585]The Times gọi cô là "Bob Dylan của thời đại chúng ta".[586] Swift đã giành được danh hiệu Người phụ nữ của thập kỷ (những năm 2010) từ Billboard,[587] Nghệ sĩ của thập kỷ (thập niên 2010) tại Giải thưởng Âm nhạc Mỹ,[588] và Biểu tượng toàn cầu tại giải Brit nhờ vào sức ảnh hưởng của cô.[501] Các nghệ sĩ huyền thoại như McCartney,[589] Mick Jagger,[590] Madonna,[591] và Parton đã khen ngợi khả năng âm nhạc của cô.[592] Carole King đã xem Swift là "cháu gái chuyên nghiệp" của mình và cảm ơn Swift vì đã "mang ngọn đuốc tiến về phía trước".[593] Springsteen gọi cô là nhà văn "to đến phát kinh",[594] còn Ringo StarrBilly Joel thì coi Swift là người kế vị của The Beatles.[595][596] Britney Spears đã tôn vinh Swift là "người phụ nữ nhạc pop mang tính biểu tượng nhất của thế hệ chúng ta".[597]

Kinh doanh

Các phương tiện truyền thông cho rằng Swift là một nữ doanh nhân thông thái.[598][599] Cô nổi tiếng nhờ vào phương thức tung album đậm tính truyền thống và vận dụng nhiều hoạt động quảng bá đến mức Rolling Stone phải gọi là "sự thịnh vượng về mặt truyền thông đa phương tiện" không thể tránh khỏi.[600][601] Chiến thuật tung easter egg (trứng phục sinh) cùng với những đoạn giới thiệu khó hiểu đã trở thành thông lệ trong dòng nhạc pop ngày nay cũng là nhờ ý tưởng của Swift.[602] Các ấn phẩm đã so sánh đĩa hát của cô giống như một "vũ trụ" âm nhạc để những người hâm mộ, các nhà phê bình và nhà báo mổ xẻ suy đoán.[603][604][605] Nhiều nhà báo cho rằng cũng nhờ Swift duy trì hiện diện tích cực trên mạng xã hội và thân thiết với người hâm mộ mà cô đã phần nào trở nên nổi tiếng.[606][539][607] Đội ngũ quản lý nội bộ của cô được gọi là 13 Management.[608]

Trong giai đoạn tiếp sức album đầu tay, Swift là gương mặt của chiến dịch Mobile Music do hãng Verizon Wireless tổ chức.[609] Trong kỷ nguyên Fearless, cô quảng cáo loại đầm dây cho hãng L.e.i. tại Walmart,[610] thiết kế thiệp American Greetings và búp bê Jakks Pacific.[611][612] Cô là đại sứ cho nhãn hàng Nashville Predators của NHL và máy chụp ảnh kỹ thuật số Sony Cyber-shot.[613][614] Cô trình diễn trong quảng cáo trò chơi điện tử Band Hero, cùng với Rivers Cuomo, Pete WentzTravis Barker làm ban nhạc hỗ trợ cô.[615][616] Trong kỷ nguyên Speak Now, cô phát hành một phiên bản đặc biệt của album này thông qua Target.[617] Swift trở thành đại sứ của nhãn hàng CoverGirl,[618] ra mắt hai nhãn hiệu nước hoa Elizabeth Arden, WonderstruckWonderstruck Enchanted.[619]

Đến album phòng thu thứ tư Red, Swift thực hiện quảng bá độc quyền thông qua Target,[620] Papa John's Pizza[621]Walgreens.[622] Cô từng là đại diện cho nhãn hàng Diet Coke và giày thể thao Keds.[623] Swift cho ra mắt dòng nước hoa Elizabeth Arden thứ 3 mang tên Taylor by Taylor Swift,[624] và tiếp tục hợp tác cùng Sony Electronics và American Greetings.[625][626] Swift cũng đã từng hợp tác với AirAsia[627]Qantas[628] trong vai trò hãng hàng không chính thức trong chặng lưu diễn Red Tour tại Úc và châu Á, còn Cornetto thì phụ trách quảng bá cô tại các chặng lưu diễn bên châu Á.[629] Sang album 1989, Swift xuất hiện trong nhiều quảng cáo của Subway, Keds, Target và Diet Coke.[630] Vào năm 2014, Swift phát hành nhãn hiệu nước hoa thứ 4 Incredible Things.[631] Năm 2016, cô làm việc với Apple Music để cho ra mắt ba đoạn quảng cáo.[632]

Swift ký hợp đồng dài hạn với tập đoàn AT&T vào năm 2016.[633] Cô cũng đã thực hiện một buổi hòa nhạc Super Saturday Night do DirecTV tổ chức trong đêm diễn Super Bowl năm 2017. Trong quá trình quảng bá album Reputation, Swift đã cho ra mắt những thước phim phía sau hậu trường về quá trình thu âm album qua DirecTV.[634] Năm 2018, Swift cho ra mắt hai đoạn quảng cáo cho AT&T.[635][636] Trong cùng năm, Swift hợp tác với công ty vận chuyển UPS nhằm quảng bá Reputation.[637]Fujifilm trong việc quảng cáo dòng máy ảnh Instax phiên bản đặc biệt, có kèm chức năng chụp ảnh tự sướng và đối mặt.[638][639] Năm 2019, Swift ký hợp đồng hợp tác dài hạn với công ty tài chính Capital One.[640] và cho ra dòng sản phẩm thời trang bền vững với Stella McCartney.[641] Cô trở thành đại sứ toàn cầu cho thành phố New York vào năm 2014 và Record Store Day vào năm 2022.[642][643]

Hoạt động xã hội

Swift khẳng định mình là một người ủng hộ nữ quyền.[644] Trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2008, cô quảng bá cuộc vận động Every Woman Counts, nhằm thu hút phụ nữ làm việc trong quá trình chính trị. Cô là một trong những ngôi sao nhạc đồng quê bắt đầu thông báo công cộng cho cuộc vận hành Vote (For Your) Country.[645] Trong bài phát biểu chấp nhận danh hiệu "Woman of the Decade" (Phụ nữ thập kỉ) của cô ở hội nghị Billboard Women in Music năm 2019, cô thể hiện quan điểm của mình chống lại nạn kỳ thị nữ giớiphân biệt giới tính.[646] Cô là một trong những người ký kết sáng lập cuộc vận động Time's Up chống lại nạn quấy rối tình dục.[647]

Bên cạnh đó, Swift là nhân vật công chúng công khai ủng hộ quyền LGBT,[648] và cô đã kêu gọi thông qua Đạo luật Bình đẳng, cấm phân biệt đối xử dựa trên giới tính, xu hướng tính dục và bản dạng giới.[649][650] Sau vụ xả súng tại hộp đêm ở Orlando năm 2016, Swift viết một bức thư nhằm tưởng nhớ các nạn nhân.[651] Cô gửi thư tới thượng nghị sĩ Lamar Alexander và một lời thỉnh cầu trên trang Change.org về quyền LGBT, nhận về hàng trăm nghìn lượt ký cùng với lời phản hồi từ Nhà Trắng và nhiều nhà lập pháp của Đảng dân chủ.[649][652] Swift gọi quản lý chủ quyền của tổng thống Donald Trump để thông hành đạo luật bình đẳng ở giải thưởng Video Âm nhạc của MTV năm 2019.[653] Trong khi đang diễn ra sự kiện Pride Live của ngày Stonewall năm 2020, cô chỉ trích thống kế dân số Hoa Kỳ năm 2020 vì đã loại bỏ người chuyển giới và những người phi nhị nguyên giới.[650] Cô biểu diễn nhân dịp WorldPride NYC 2019 tại tượng đài người đồng tính Stonewall Inn, và quyên góp cho các tổ chức LGBT Dự án Bình đẳng TennesseeGLAAD.[654][655][656]

Swift tránh lên tiếng về chuyện chính trị lúc mới bắt đầu sự nghiệp,[657] nhưng cô trở nên bắt đầu hoạt động chính trị hơn từ cuộc bầu cử lãnh đạo Hoa Kỳ năm 2018.[658] Swift là người ủng hộ cuộc vận động March for Our Lives và kiểm soát quyền tự do súng đạn ở Hoa Kỳ,[659] và cô là người lên tiếng chê trách chủ nghĩa da trắng thượng đẳng, phân biệt chủng tộc và sự tàn bạo của cảnh sát.[660][644] Cô đã tán thành cho các ứng cử viên cho chức vụ công lần đầu tiên trước cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2018, tuyên bố ủng hộ hai ứng cử viên Đảng dân chủ đại diện cho Tennessee tại Hạ viện và Thượng viện.[661] Trong chứng thực của cô, Swift trải lòng mong muốn của cô về quyền lợi LGBT nhiều hơn và bình đẳng giới tính và sắc tộc, lên án phân biệt chủng tộc, và khuyến khích người hâm mộ đi bầu cử vì lợi ích của họ.[662]

Để tiếp sức cho cuộc biểu tình George Floyd, cô đã quyên góp cho Quỹ Giáo dục và Bảo vệ Pháp lý NAACP và cuộc vận động Black Lives Matter,[663] kêu gọi dỡ bỏ các tượng đài của Liên minh miền Nam ở Tennessee,[664] và chủ trương biến ngày 19 tháng 6 trở thành ngày lễ quốc gia.[665] Năm 2020, Swift đã kêu gọi người hâm mộ kiểm tra việc đăng ký cử tri của họ trước cuộc bầu cử, dẫn đến hơn 65.000 người đăng ký bỏ phiếu trung bình một ngày[666] và đồng loạt tán thành Joe BidenKamala Harris trong Bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào năm 2020 sau bài đăng của cô.[667] Cô đã công khai phê phán cựu tổng thống Donald Trump,[668] và cô đã cho phép bài hát "Only the Young" được sử dụng làm nhạc quảng bá tranh cử cho đảng Dân chủ để tăng lượt bình chọn.[669] Năm 2022, Swift chỉ trích quyết định chấm dứt quyền phá thai liên bang của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ.[670]

Tài sản

Vào tháng 10 năm 2023, ForbesBloomberg News ước tính khối tài sản ròng của Swift đạt 1,1 tỷ đô la Mỹ, đưa cô trở thành nhạc sĩ tỷ phú đầu tiên có nguồn thu nhập chính đến từ biểu diễn âm nhạc.[671][672] Forbes đã vinh danh cô là nữ ca sĩ kiếm tiền nhiều nhất bốn lần qua các năm 2016, 2019, 2021 và 2022.[673] Swift là người của công chúng được trả thù lao cao nhất năm 2016 với 170 triệu đô la Mỹ, và ghi vào Sách Kỷ lục Guinness nhờ vào số tiền thu nhập hàng năm cao nhất từ trước đến nay của một nữ nhạc sĩ.[674] Tiếp đến, cô đã tự phá kỷ lục của bản thân với thù lao 185 triệu đô la Mỹ vào năm 2019.[675] Khi xét trên tổng thể, Forbes xếp Swift là nữ nghệ sĩ có thu nhập cao nhất thập niên 2010, kiếm được 825 triệu đô la Mỹ.[676] Swift còn là người sở hữu danh mục đầu tư bất động sản trị giá 150 triệu đô la Mỹ tính đến năm 2023, gồm có bất động sản ở Nashville, Tribeca, Manhattan, Los Angeles (Samuel Goldwyn Estate), và Đảo Rhode (High Watch).[677]

Từ thiện

Swift là một trong những nghệ sĩ âm nhạc hàng đầu trong việc đi trao từ thiện.[678] DoSomething xếp cô đứng đầu danh sách "Gone Good" năm 2015,[679] cũng như cô được trao tặng Ngôi sao Nhân ái từ Dịch vụ Thiên tai Tennessee và Giải thưởng Trợ giúp Lớn từ Nickelodeon Kids' Choice Awards vì những "cống hiến giúp đỡ người khác" và "tạo cảm hứng cho mọi người thông qua hành động".[680][681] Năm 2008, cô ủng hộ 100.000 đô la Mỹ cho Hội chữ Thập Đỏ để giúp đỡ các nạn nhân trong trận lụt ở bang Iowa.[682] Vào năm 2009, Swift biểu diễn tại chương trình Children in Need của BBC để gây quỹ 13.000 euro.[683] Cô còn trình diễn ở nhiều chương trình gây quỹ từ thiện như buổi hòa nhạc Sound Relife tổ chức tại Sydney.[684] Cô đã từng thu âm một bài hát cho album Hope for Haiti Now.[685] Nhằm tiếp sức tinh thần sau trận lũ lụt ở Tennessee vào tháng 5 năm 2010, Swift đã quyên góp 500.000 đô la Mỹ trong cuộc thi telethon được WSMV tổ chức.[686] Năm 2011, Swift đã tận dụng ngày thử trang phục trong chuyến lưu diễn Speak Now của mình để làm buổi hòa nhạc gây quỹ cho các nạn nhân của cơn lốc xoáy ở Mỹ, sung quỹ được hơn 750.000 đô la Mỹ.[687] Năm 2012, cô hỗ trợ chương trình từ thiện Restore the Shore MTV do tổ chức Architecture for Humanity khởi xướng nhằm khắc phục những hậu quả do cơn bão Sandy gây ra.[688] Năm 2016, cô ủng hộ 1 triệu đô la Mỹ cho các nạn nhân bị ảnh hưởng bởi trận lụt ở bang Louisiana và đóng góp 100.000 đô la Mỹ vào Quỹ cứu hỏa Dolly Parton.[689][690] Swift đã góp kho lương thực sau cơn bão Harvey đổ bộ Houston vào năm 2017.[691] Tại mọi điểm dừng của The Eras Tour vào năm 2023,[692] cô đã trực tiếp tuyển dụng các doanh nghiệp địa phương trong suốt chuyến lưu diễn và trao tiền thưởng 55 triệu đô la Mỹ cho toàn bộ đoàn của mình.[693][694] Swift đã tặng 1 triệu đô la cho đợt cứu trợ cơn lốc xoáy ở Tennessee năm 2020 và đợt tiếp theo vào năm 2023.[695][696] Tháng 2 năm 2024, cô quyên góp 100.000 đô la Mỹ cho gia đình của cô gái thiệt mạng trong vụ xả súng tại cuộc diễu hành ăn mừng chiến thắng Super Bowl của đội Kansas City Chiefs.[697]

Swift còn là một người ủng hộ nghệ thuật. Cô là ân nhân của Đại sảnh Danh vọng Nhạc sĩ sáng tác bài hát Nashville[698] sẵn sàng trao 75.000 đô la Mỹ cho Trường Trung học Hendersonville ở Nashville để giúp tân trang lại khán phòng của trường,[699] 4 triệu đô la Mỹ để tài trợ xây dựng một trung tâm giáo dục mới tại Bảo tàng và Đại sảnh Danh vọng Âm nhạc Đồng quê ở Nashville,[700] hợp tác với công ty cho thuê sách giáo khoa Chegg nhằm ủng hộ 60.000 đô la Mỹ cho khoa âm nhạc của sáu trường đại học Hoa Kỳ,[701] và 100.000 đô la Mỹ cho Nashville Symphony.[702] Tiếp đến, Swift là một người tiếp sức nền giáo dục cho trẻ em. Cô đã cung cấp tiền và sách cho nhiều trường học trên khắp đất nước để cải thiện giáo dục.[703] Năm 2007, Swift hợp tác với Hiệp hội Cảnh sát trưởng Tennessee để phát động chiến dịch bảo vệ trẻ em khỏi tệ nạn trực tuyến.[704] Swift đã từng thu âm một thông báo cộng đồng của Sound Matters để giúp các thính giả nhận biết được tầm quan trọng của việc lắng nghe "có ý thức" nhằm hạn chế nguy cơ suy giảm thính giác.[705] Cô đã trao các đồ dùng vật phẩm cho một số tổ chức từ thiện để bán đấu giá, gồm Quỹ Elton John AIDS, Dự án nước sạch cho trẻ em của UNICEFMusiCares.[706] Swift đã sử dụng danh nghĩa là Nghệ sĩ giải trí của năm của Học viện Âm nhạc Đồng quê năm 2011 nhằm ủng hộ 25.000 đô la Mỹ cho Bệnh viện nghiên cứu trẻ em St. Jude ở Tennessee.[707] Năm 2012, Swift tham gia vào Stand Up to Cancer và biểu diễn đĩa đơn từ thiện "Ronan". Đây là bài hát cô viết nhằm tưởng nhớ cậu bé bốn tuổi đã qua đời vì chứng U nguyên bào thần kinh, được phát hành dưới dạng kĩ thuật số và toàn bộ số tiền thu về đã được gửi đến các tổ chức từ thiện chống ung thư.[708] Cô cũng đã quyên góp 100.000 đô la Mỹ cho Quỹ nghiên cứu ung thư V[709] và 50.000 đô la Mỹ cho Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia.[710] Swift đã khuyến khích những người trẻ tuổi tham gia tình nguyện tại cộng đồng địa phương của họ nhằm hưởng ứng Ngày Dịch vụ Thanh niên Toàn cầu.[711]

Swift đã gửi tiền ủng hộ cho ca-nhạc sĩ đồng nghiệp Kesha nhằm tiếp sức cô chiến đấu luật pháp với Dr. Luke, cũng như trao gửi đến tổ chức Quỹ Trái tim Vui vẻ của nữ diễn viên Mariska Hargitay.[678][712] Trong đại dịch COVID-19, Swift đã đóng góp cho Tổ chức Y tế Thế giới, Feeding America,[713] và hỗ trợ độc quyền các cửa hàng băng đĩa độc lập.[714][715] Swift đã trình diễn "Soon You'll Get Better" ở chương trình truyền hình đặc biệt One World: Together At Home. Đây là một buổi hòa nhạc đem lại lợi ích chung do Lady Gaga phụ trách dành cho Công dân Toàn cầu nhằm gây quỹ cho Quỹ đoàn kết ứng phó với đại dịch COVID-19 của Tổ chức Y tế Thế giới.[716] Trong năm 2018 và 2021, Swift đã quyên góp cho Mạng lưới quốc gia về hiếp dâm, lạm dụng & loạn luân để vinh danh Tháng phòng chống và nhận thức về tấn công tình dục.[678][717] Ngoài các hoạt động từ thiện, cô còn nhiều lần gửi tiền cho người hâm mộ để trang trải chi phí y tế hoặc học tập cho họ.[718]

Danh sách đĩa nhạc

Danh sách phim

Lưu diễn

Chú thích

Ghi chú

  1. ^ Swift giữ kỷ lục này đến Giải Grammy lần thứ 62 vào năm 2020.[101]
  2. ^ Mặc dù Swift sở hữu nhiều bất động sản trên khắp nước Mỹ nhưng cô vẫn xem Nashville là quê nhà của mình.[162]
  3. ^ Swift đã thực hiện điều này 2 lần trên bảng xếp hạng Top Album Sales, trong các số ngày 6 tháng 1 năm 2024 và ngày 20 tháng 1 năm 2024.[524]

Tham khảo

  1. ^ Sutherland, Mark (ngày 23 tháng 5 năm 2015). “Taylor Swift interview: 'A relationship? No one's going to sign up for this' [Phỏng vấn Taylor Swift: 'Một mối quan hệ? Sẽ không có ai đi thừa nhận cái này']. The Daily Telegraph (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  2. ^ Scott, Walter (ngày 11 tháng 6 năm 2015). “What Famous Pop Star Is Named After James Taylor?” [Ngôi sao nhạc pop nổi tiếng nào được đặt theo tên James Taylor?]. Parade (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  3. ^ Timberg, Scott (ngày 23 tháng 5 năm 2015). “Taylor Swift is not an "underdog": The real story about her 1 percent upbringing that the New York Times won't tell you” [Taylor Swift không phải là "kẻ yếu thế": Câu chuyện có thật về tuổi thơ 1% của cô ấy mà New York Times sẽ không kể cho bạn]. Salon.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  4. ^ a b Hansen 2010, tr. 8; Jepson 2013, tr. 1.
  5. ^ a b Hansen 2010, tr. 8.
  6. ^ Roth, Madeline (ngày 19 tháng 5 năm 2015). “Taylor Swift's Brother Had The Most Epic Graduation Weekend Ever” [Em trai Taylor Swift có buổi lễ tốt nghiệp hoành tráng nhất từ trước đến nay] (bằng tiếng Anh). MTV. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  7. ^ Eleftheriou-Smith, Loulla-Mae (ngày 24 tháng 6 năm 2015). “Taylor Swift tells Scotland: 'I am one of you' [Taylor Swift nói với Scotland: 'Tôi là một trong số các bạn']. The Independent (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  8. ^ Hemmes, Anne (ngày 17 tháng 9 năm 2015). “Taylor Swift stammt aus dem Freistaat” [Taylor Swift đến từ Free State] (bằng tiếng Đức). BR24. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  9. ^ “Taylor Swift's Great-Great-Grandfather's Philly Home Gets Historic Landmark Status” [Ngôi nhà tại Philly của tổ tiên bên nội của Taylor Swift có được địa vị lịch sử] (bằng tiếng Anh). Associated Press. ngày 25 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  10. ^ Vadala, Nick (ngày 14 tháng 7 năm 2017). “Taylor Swift ancestor's home added to Philly Register of Historic Places” [Ngôi nhà của tổ tiên Taylor Swift được thêm vào Sổ đăng ký Địa điểm Lịch sử của Philly]. The Philadelphia Inquirer (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  11. ^ Widdicombe 2011, tr. 109.
  12. ^ Raab, Scott (ngày 20 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift Interview” [Phỏng vấn Taylor Swift]. Esquire (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  13. ^ “Taylor Swift on Politicians Co-opting Faith: 'I'm a Christian. That's Not What We Stand For' [Taylor Swift nói về các chính trị gia cùng đức tin: 'Tôi là người theo đạo Thiên chúa. Đó không phải là điều chúng tôi ủng hộ']. Relevant (bằng tiếng Anh). ngày 31 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  14. ^ Uhrich, Bill (ngày 13 tháng 2 năm 2010). “Photos Students at Alvernia Montessori School sending Taylor Swift a valentine” [Hình ảnh học sinh trường Alvernia Montessori gửi quà Valentine cho Taylor Swift]. Reading Eagle (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  15. ^ Hatza, George (ngày 8 tháng 12 năm 2008). “Taylor Swift: Growing into superstardom” [Taylor Swift: Trở thành siêu sao]. Reading Eagle (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  16. ^ Mennen, Lauren (ngày 12 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's Wyomissing childhood home on the market for $799,500” [Ngôi nhà thời thơ ấu ở Wyoming của Taylor Swift được rao bán trên thị trường với giá 799.500 USD]. Philadelphia Daily News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  17. ^ Chang, David (ngày 22 tháng 2 năm 2016). “Taylor Swift Returns to Reading Pennsylvania as Maid of Honor in Friend's Wedding” [Taylor Swift trở lại Reading Pennsylvania để làm phù dâu trong đám cưới của người bạn] (bằng tiếng Anh). WCAU. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  18. ^ a b c Hansen 2010, tr. 14.
  19. ^ Qureshi, Hira (ngày 2 tháng 12 năm 2021). “Visit this Stone Harbor café where Taylor Swift was 'always coming in to play' as a child” [Ghé thăm quán cà phê Stone Harbor này, nơi Taylor Swift 'luôn đến biểu diễn' khi còn nhỏ]. Courier-Post (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  20. ^ Kuperinsky, Amy (ngày 28 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift shouts out Jersey Shore town in video for surprise album” [Taylor Swift hét lên thị trấn Jersey Shore trong video của album bất ngờ] (bằng tiếng Anh). NJ.com. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  21. ^ “Taylor Swift, Age 12” [Taylor Swift, tuổi 12]. New York Daily News (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  22. ^ Cooper, Brittany Joy (ngày 15 tháng 4 năm 2012). “Taylor Swift Opens Up About a Future in Acting and Admiration for Emma Stone” [Taylor Swift tiết lộ về tương lai diễn xuất và sự ngưỡng mộ dành cho Emma Stone]. Taste of Country (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  23. ^ MacPherson, Alex (ngày 18 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift: 'I want to believe in pretty lies' [Taylor Swift: 'Tôi muốn tin vào những lời nói dối đẹp đẽ']. The Guardian (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  24. ^ a b Phỏng vấn với Rolling Stone: The Unabridged Taylor Swift, ngày 2 tháng 12 năm 2008
  25. ^ a b c Morris, Edward (ngày 1 tháng 12 năm 2006). “When She Thinks 'Tim McGraw', Taylor Swift Savors Payoff: Hardworking Teen to Open for George Strait Next Year” [Khi cô ấy nghĩ đến 'Tim McGraw', Taylor Swift tận hưởng phần thưởng: Thiếu niên chăm chỉ sẽ mở màn cho George Strait vào năm tới] (bằng tiếng Anh). CMT. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  26. ^ Diu, Nisha Lilia (ngày 3 tháng 4 năm 2011). “Taylor Swift: 'I won't do sexy shoots' [Taylor Swift: 'Tôi sẽ không chụp ảnh gợi cảm']. The Daily Telegraph (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  27. ^ “News : CMT Insider Interview: Taylor Swift (Part 1 of 2)” [Tin tức : Phỏng vấn nội bộ CMT: Taylor Swift (Phần 1/2)] (bằng tiếng Anh). CMT. ngày 26 tháng 11 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  28. ^ Malec, Jim (ngày 2 tháng 5 năm 2011). “Taylor Swift: The Garden In The Machine” [Taylor Swift: Khu vườn trong cỗ máy]. American Songwriter (bằng tiếng Anh): 1. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  29. ^ Hansen 2010, tr. 18.
  30. ^ Martino, Andy (ngày 10 tháng 1 năm 2015). “EXCLUSIVE: The real story of Taylor Swift's guitar 'legend' [ĐỘC QUYỀN: Câu chuyện có thật về 'huyền thoại' guitar của Taylor Swift]. New York Daily News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  31. ^ Hansen 2010, tr. 19.
  32. ^ “Dymtrow v. Swift et al: Federal Civil LawsuitNew York Southern District Court, Case No. 1:07-cv-11277-RJS” [Dymtrow kiện Swift và cộng sự: Vụ kiện dân sự liên bang Tòa án quận phía Nam New York, Vụ án 1:07-cv-11277-RJS] (PDF) (bằng tiếng Anh). American Bar Association. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  33. ^ Hansen 2010, tr. 20.
  34. ^ Kotb, Hoda (ngày 31 tháng 5 năm 2009). “On tour with Taylor Swift” [Đi lưu diễn cùng Taylor Swift] (bằng tiếng Anh). NBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  35. ^ a b c d Willman, Chris (ngày 25 tháng 7 năm 2007). “Getting to know Taylor Swift” [Làm quen với Taylor Swift]. Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  36. ^ Widdicombe 2011, tr. 110; Hansen 2010, tr. 20.
  37. ^ Jo, Nancy (ngày 2 tháng 1 năm 2014). “Taylor Swift and the Growing of a Superstar: Her Men, Her Moods, Her Music” [Taylor Swift và quá trình trưởng thành của một siêu sao: Đàn ông, tâm trạng, âm nhạc của cô ấy]. Vanity Fair (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  38. ^ “News : Taylor Swift's High School Names Auditorium in Her Honor” [Tin tức : Tên trường trung học của Taylor Swift được đặt tên cho Thính phòng để vinh danh cô] (bằng tiếng Anh). CMT. ngày 23 tháng 9 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  39. ^ Hansen 2010, tr. 110.
  40. ^ “Taylor Swift receives her high school diploma” [Taylor Swift nhận bằng tốt nghiệp trung học]. Houston Chronicle (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 7 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  41. ^ Grigoriadis, Vanessa (ngày 5 tháng 3 năm 2009). “The Very Pink, Very Perfect Life of Taylor Swift” [Cuộc sống rất hồng hào, rất hoàn hảo của Taylor Swift]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  42. ^ Malec, Jim (ngày 2 tháng 5 năm 2011). “Taylor Swift: The Garden In The Machine” [Taylor Swift: Khu vườn trong cỗ máy]. American Songwriter (bằng tiếng Anh): 3. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  43. ^ “Songwriter Taylor Swift Signs Publishing Deal With Sony/ATV” [Nhạc sĩ Taylor Swift ký hợp đồng xuất bản với Sony/ATV] (bằng tiếng Anh). Broadcast Music, Inc. ngày 12 tháng 5 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  44. ^ Kosser, Michael (ngày 3 tháng 6 năm 2010). “Liz Rose: Co-Writer to the Stars” [Liz Rose: Đồng tác giả của các ngôi sao]. American Songwriter (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  45. ^ Oliver 2016, tr. 17.
  46. ^ Dinh, James (ngày 16 tháng 6 năm 2016). “Liz Rose On Co-Writing Taylor Swift's First Hit 'Tim McGraw' | 10 Years Of Taylor” [Liz Rose đồng sáng tác bản hit đầu tiên của Taylor Swift 'Tim McGraw' | Chuyện sau 10 năm của Taylor] (bằng tiếng Anh). iHeartRadio. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  47. ^ Oliver 2016, tr. 17; Hansen 2010, tr. 72.
  48. ^ DeLuca, Dan (ngày 11 tháng 11 năm 2008). “Focused on 'great songs' Taylor Swift isn't thinking about 'the next level' or Joe Jon as gossip” [Tập trung vào 'những bài hát hay' Taylor Swift không nghĩ đến 'cấp độ tiếp theo' hay Joe Jon như những lời đàm tiếu]. Philadelphia Daily News (bằng tiếng Anh). tr. 1. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  49. ^ a b Hansen 2010, tr. 23.
  50. ^ Preston, John (ngày 26 tháng 4 năm 2009). “Taylor Swift: the 19-year-old country music star conquering America – and now Britain” [Taylor Swift: Ngôi sao nhạc đồng quê 19 tuổi chinh phục Mỹ – và giờ là Anh]. The Daily Telegraph (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  51. ^ Rosa, Christopher (ngày 24 tháng 3 năm 2015). “Opening Acts Who Became Bigger Than The Headliner” [Những nghệ sĩ mở màn trở nên lớn hơn người chủ trì buổi diễn] (bằng tiếng Anh). VH1. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  52. ^ Borchetta, Scott (ngày 12 tháng 3 năm 2011). “His Music Never Stops” [Âm nhạc của anh ấy không bao giờ dừng lại]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  53. ^ Rapkin, Mickey (ngày 27 tháng 7 năm 2017). “Oral History of Nashville's Bluebird Cafe: Taylor Swift, Maren Morris, Dierks Bentley & More on the Legendary Venue” [Lịch sử truyền miệng của quán cà phê Bluebird ở Nashville: Taylor Swift, Maren Morris, Dierks Bentley và nhiều người khác tại địa điểm huyền thoại]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  54. ^ Hiatt, Brian (ngày 25 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift in Wonderland” [Taylor Swift ở xứ sở thần tiên]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  55. ^ 400.000 đô la Mỹ tương ứng với 10% cổ phần Big Machine: Greenburg, Zack O'Malley (ngày 26 tháng 6 năm 2013). “Toby Keith, Cowboy Capitalist: Country's $500 Million Man” [Toby Keith, nhà tư bản cao bồi: Người đàn ông trị giá 500 triệu đô la Mỹ của đất nước]. Forbes (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  56. ^ Hansen 2010, tr. 107.
  57. ^ Taylor Swift [Taylor Swift] (CD). Big Machine Records. 2006. BMR120702.
  58. ^ Tamarkin, Jeff. “Taylor Swift – Taylor Swift” [Taylor Swift – Taylor Swift] (bằng tiếng Anh). AllMusic. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  59. ^ Trust, Gary (ngày 29 tháng 10 năm 2009). “Chart Beat Thursday: Taylor Swift, Tim McGraw Linked Again” [Bảng xếp hạng Chart Beat vào thứ năm: Taylor Swift, Tim McGraw lại liên kết]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  60. ^ “Taylor Swift” [Taylor Swift] (bằng tiếng Anh). Songwriters' Hall of Fame. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  61. ^ a b c Willman, Chris (ngày 5 tháng 2 năm 2008). “Taylor Swift's Road to Fame” [Con đường danh vọng của Taylor Swift]. Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh): 3. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  62. ^ “Taylor Swift Joins Rascal Flatts Tour” [Taylor Swift tham gia chuyến lưu diễn Rascal Flatts] (bằng tiếng Anh). CMT. ngày 18 tháng 10 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  63. ^ Whitaker, Sterling; Hammar, Ania (ngày 27 tháng 5 năm 2019). “How Eric Church's Rascal Flatts Feud Helped Launch Taylor Swift's Career” [Mối thù Rascal Flatts của Eric Church đã giúp khởi đầu sự nghiệp của Taylor Swift như thế nào]. Taste of Country (bằng tiếng Anh). Townsquare Media. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  64. ^ Widdicombe 2011, tr. 112.
  65. ^ a b c d Newkey-Burden 2014, Taylor Swift Discography.
  66. ^ “Taylor Swift No. 1 on iTunes” [Taylor Swift số 1 trên iTunes] (bằng tiếng Anh). Great American Country. ngày 19 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  67. ^ a b c d e “Taylor Swift – Chart History” [Taylor Swift – Lịch sử bảng xếp hạng]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  68. ^ “Taylor Swift owns top of country chart” [Taylor Swift dẫn đầu bảng xếp hạng country]. Country Standard Time (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 7 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  69. ^ “Wal-Mart "Eyes" New Taylor Swift Project” [Wal-Mart "để mắt" đến dự án Taylor Swift mới] (bằng tiếng Anh). Great American Country. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  70. ^ “Taylor Swift Joins George Strait's 2007 Tour” [Taylor Swift tham gia chuyến lưu diễn năm 2007 của George Strait] (bằng tiếng Anh). CMT. ngày 17 tháng 11 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  71. ^ “Brad Paisley Plans Tour With Three Opening Acts” [Brad Paisley lên kế hoạch lưu diễn với ba tiết mục mở màn] (bằng tiếng Anh). CMT. ngày 9 tháng 1 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  72. ^ “Taylor Swift Joins Tim McGraw, Faith Hill on Tour” [Taylor Swift tham gia cùng Tim McGraw, Faith Hill trong chuyến lưu diễn] (bằng tiếng Anh). CMT. ngày 1 tháng 6 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  73. ^ a b “Taylor Swift Youngest Winner of Songwriter/Artist Award” [Taylor Swift trẻ nhất đoạt giải Nhạc sĩ sáng tác bài hát/Nghệ sĩ] (bằng tiếng Anh). Great American Country. ngày 16 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  74. ^ “Photos : All Taylor Swift Pictures : Horizon Award Winner Poses in the Pressroom” [Hình ảnh: Tất cả hình ảnh của Taylor Swift: Người đoạt giải Horizon tạo dáng trong phòng họp báo] (bằng tiếng Anh). CMT. ngày 7 tháng 9 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  75. ^ “Photos : 43rd Annual ACM Awards – Onstage: Winners : Acceptance Speech” [Ảnh: Giải thưởng ACM thường niên lần thứ 43 – Trên sân khấu: Người chiến thắng: Bài phát biểu nhận giải] (bằng tiếng Anh). CMT. ngày 18 tháng 5 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  76. ^ “Taylor Swift, Rascal Flatts, Carrie Underwood Score at 2008 AMA Awards” [Taylor Swift, Rascal Flatts, Carrie Underwood ghi danh tại lễ trao giải AMA 2008] (Blog) (bằng tiếng Anh). RoughStock. ngày 24 tháng 11 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  77. ^ “Amy Winehouse Wins Best New Artist, Kanye West Pays Tribute to Mom – Grammy Awards 2008, Grammy Awards” [Amy Winehouse đoạt giải Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất, Kanye West tri ân mẹ – Giải Grammy 2008, Giải Grammy]. People (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 10 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  78. ^ “Rascal Flatts Announce Summer Tour With Taylor Swift” [Rascal Flatts công bố chuyến lưu diễn mùa hè cùng Taylor Swift] (bằng tiếng Anh). CMT. ngày 5 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  79. ^ Hansen 2010, tr. 64; Newkey-Burden 2014, Chapter Four.
  80. ^ Akers, Shelley (ngày 9 tháng 6 năm 2008). “Taylor Swift to Appear in Hannah Montana Movie” [Taylor Swift sẽ xuất hiện trong phim Hannah Montana]. People (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  81. ^ a b “Hannah Montana: The Movie (Original Motion Picture Soundtrack) by Hannah Montana” [Hannah Montana: The Movie (Original Motion Picture Soundtrack) của Hannah Montana] (bằng tiếng Anh). iTunes Store. tháng 1 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  82. ^ “CD Taylor Swift – Fearless” [Đĩa CD Taylor Swift – Fearless] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Universal Music Group. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  83. ^ Raphael, Amy (ngày 1 tháng 2 năm 2009). “First, she conquered Nashville. Now she's set for world domination” [Đầu tiên, cô ấy chinh phục Nashville. Bây giờ cô ấy đã sẵn sàng thống trị thế giới]. The Observer (bằng tiếng Anh). ProQuest 250507223. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  84. ^ “Discography Taylor Swift” [Đĩa hát của Taylor Swift] (bằng tiếng Anh). ARIA Charts. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  85. ^ Trust, Gary (ngày 15 tháng 12 năm 2009). “Best of 2009: Part 1” [Hay nhất năm 2009: Phần 1]. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  86. ^ Ben-Yehuda, Ayala (ngày 13 tháng 8 năm 2009). “Black Eyed Peas, Jason Mraz Tie Records on Billboard Hot 100” [Black Eyed Peas, Jason Mraz đồng hạng trên Billboard Hot 100]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  87. ^ Trust, Gary (ngày 24 tháng 9 năm 2009). “Taylor Swift Climbs Hot 100, Black Eyed Peas Still No. 1” [Taylor Swift leo Hot 100, Black Eyed Peas vẫn đứng số 1]. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  88. ^ a b “Taylor Swift Chart History (Hot Country Songs)” [Lịch sử bảng xếp hạng Taylor Swift (Hot Country Songs)]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  89. ^ Caulfield, Keith (ngày 3 tháng 1 năm 2018). “Ed Sheeran's 'Divide' Is Nielsen Music's Top Album of 2017 in U.S.” ['Divide' của Ed Sheeran là album hàng đầu năm 2017 của Nielsen Music tại Hoa Kỳ]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  90. ^ Mapes, Jillian (ngày 23 tháng 11 năm 2010). “Taylor Swift Announces 'Speak Now' World Tour” [Taylor Swift công bố chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới 'Speak Now']. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  91. ^ “Taylor Swift's Journey to Fearless : Programs : The Hub : Discovery Press Web” [Journey to Fearless của Taylor Swift : Chương trình : The Hub : Discovery Press Web] (bằng tiếng Anh). Discovery. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  92. ^ Ryan, Sarah (ngày 10 tháng 8 năm 2009). “Taylor Swift Pranks Keith Urban” [Taylor Swift chơi khăm Keith Urban] (Blog) (bằng tiếng Anh). Great American Country. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  93. ^ “Kanye calls Taylor Swift after 'View' appearance” [Kanye gọi điện cho Taylor Swift sau khi xuất hiện trên 'View'] (bằng tiếng Anh). MSNBC. ngày 15 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  94. ^ Kreps, Daniel (ngày 13 tháng 9 năm 2009). “Kanye West Storms the VMAs Stage During Taylor Swift's Speech” [Kanye West gây bão trên sân khấu VMAs trong bài phát biểu của Taylor Swift]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  95. ^ Cullen 2016, tr. 33.
  96. ^ Anderson, Kyle (ngày 16 tháng 9 năm 2009). “Kanye West's VMA Interruption Gives Birth To Internet Photo Meme” [Hành động ngắt ngang trong VMA của Kanye West đã tạo ra meme ảnh trên internet] (bằng tiếng Anh). MTV. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  97. ^ Ditzian, Eric (2009). “Taylor Swift, Michael Jackson Big Winners at American Music Awards” [Taylor Swift, Michael Jackson thắng lớn tại Giải thưởng Âm nhạc Mỹ] (bằng tiếng Anh). MTV. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  98. ^ “2009 Artists of the Year” [Nghệ sĩ của năm 2009]. Billboard (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 12 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  99. ^ Anderson, Kyle (ngày 17 tháng 6 năm 2009). “Taylor Swift Raps 'Thug Story' With T-Pain On CMT Awards” [Taylor Swift rap 'Thug Story' với T-Pain tại lễ trao giải CMT] (bằng tiếng Anh). MTV. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  100. ^ Kreps, Daniel (ngày 1 tháng 2 năm 2010). “Beyonce, Taylor Swift Dominate 2010 Grammy Awards” [Beyonce, Taylor Swift thống trị giải Grammy 2010]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  101. ^ Specter, Emma (ngày 27 tháng 1 năm 2020). “Billie Eilish Is the Youngest-Ever Artist to Win Album of the Year at the Grammy Awards” [Billie Eilish là nghệ sĩ trẻ nhất giành giải Album của năm tại lễ trao giải Grammy]. Vogue (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  102. ^ Kaufman, Gil (ngày 12 tháng 11 năm 2009). “Taylor Swift Dominates CMA Awards” [Taylor Swift thống trị giải thưởng CMA] (bằng tiếng Anh). MTV. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  103. ^ Vena, Jocelyn (ngày 6 tháng 11 năm 2009). “John Mayer Talks Taylor Swift Collaboration 'Half of My Heart' [John Mayer nói về màn hợp tác cùng Taylor Swift 'Half of My Heart'] (bằng tiếng Anh). MTV. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  104. ^ “Boys Like Girls featuring Taylor Swift, 'Two Is Better Than One' [Boys Like Girls hợp tác với Taylor Swift, 'Two Is Better Than One']. Billboard (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 12 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  105. ^ a b “Taylor Swift's Boyfriend Timeline: 10 Relationships & Their Songs” [Dòng thời gian bạn trai của Taylor Swift: 10 mối quan hệ và bài hát viết về họ]. Billboard (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  106. ^ Vena, Jocelyn (ngày 9 tháng 4 năm 2009). “Kellie Pickler Has Her 'Best Days' Thanks To Taylor Swift” [Kellie Pickler có 'những ngày tuyệt vời nhất' nhờ Taylor Swift] (bằng tiếng Anh). MTV. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  107. ^ Vena, Jocelyn (ngày 28 tháng 12 năm 2009). “New Taylor Swift Song Included In 'Valentine's Day' Featurette” [Bài hát mới của Taylor Swift được đưa vào phim truyện 'Ẩn số tình yêu'] (bằng tiếng Anh). MTV. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  108. ^ a b “Taylor Swift – Chart history on Canadian Hot 100” [Taylor Swift – Lịch sử bảng xếp hạng Canadian Hot 100]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  109. ^ Newkey-Burden 2014, Chapter Five.
  110. ^ Park, Michael Y.; Sia, Nicole (ngày 29 tháng 12 năm 2009). “Taylor & Taylor Romance Was Overblown, Says Source” [Chuyện tình lãng mạn của Taylor và Taylor đã bị thổi phồng quá mức, Nguồn cho biết]. People (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  111. ^ Caramanica, Jon (ngày 6 tháng 3 năm 2009). “OMG! Taylor Swift Does 'CSI'!” [CHÚA ƠI! Taylor Swift vô 'CSI' kìa!]. The New York Times (Blog) (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  112. ^ Strecker, Erin (ngày 2 tháng 1 năm 2015). “Remember When Taylor Swift Shined as 'Saturday Night Live' Host?” [Bạn có nhớ khi Taylor Swift tỏa sáng với vai trò người dẫn chương trình 'Saturday Night Live' không?]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  113. ^ Dukes, Billy (ngày 22 tháng 10 năm 2012). “10 Things You Didn't Know About Taylor Swift” [10 điều bạn chưa biết về Taylor Swift]. Taste of Country (bằng tiếng Anh). Townsquare Media. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  114. ^ a b Newkey-Burden 2014, Chapter Six.
  115. ^ Pietroluongo, Silvio (ngày 11 tháng 8 năm 2010). “Taylor Swift Makes Sparkling Hot 100 Entrance” [Taylor Swift lấp lánh bước vào Hot 100]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  116. ^ Caramanica, Jon (ngày 20 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift, Angry on 'Speak Now' [Taylor Swift tức giận trong 'Speak Now']. The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  117. ^ “Taylor Swift's New Album, Speak Now, Set for Oct. 25 Release” [Album mới của Taylor Swift, Speak Now, ấn định phát hành vào ngày 25 tháng 10] (bằng tiếng Anh). CMT. ngày 20 tháng 7 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  118. ^ Kaufman, Gil (ngày 3 tháng 11 năm 2010). “Taylor Swift's Speak Now Tops 1 Million in First Week” [Speak Now của Taylor Swift đạt 1 triệu lượt nghe trong tuần đầu tiên] (bằng tiếng Anh). MTV. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  119. ^ “Fastest-selling digital album in the US by a female artist” [Album kỹ thuật số bán chạy nhất tại Mỹ của một nữ nghệ sĩ]. Sách Kỷ lục Guinness (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  120. ^ Hammel, Sara (ngày 4 tháng 1 năm 2011). “Taylor Swift & Jake Gyllenhaal Break Up: Source” [Taylor Swift và Jake Gyllenhaal chia tay: Nguồn]. People (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  121. ^ Wyland, Sarah (ngày 12 tháng 2 năm 2012). “Taylor Swift Takes Home Two GRAMMYs at Tribute-Filled Show” [Taylor Swift mang về nhà hai giải GRAMMY tại buổi diễn đầy tri ân] (Blog) (bằng tiếng Anh). Great American Country. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  122. ^ Shelburne, Craig (ngày 18 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift Named NSAI's Songwriter-Artist of the Year” [Taylor Swift được NSAI vinh danh là Nhạc sĩ sáng tác bài hát-Nghệ sĩ của năm] (bằng tiếng Anh). CMT. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  123. ^ Smith, Hazel (ngày 24 tháng 10 năm 2011). “News : Hot Dish: Taylor Swift Sings Alan Jackson's Masterpiece at Nashville Songwriters Celebration” [Tin tức : Món ăn nóng: Taylor Swift hát kiệt tác của Alan Jackson tại Lễ kỷ niệm các nhạc sĩ ở Nashville] (bằng tiếng Anh). CMT. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  124. ^ a b Roland, Tom (ngày 2 tháng 12 năm 2011). “Taylor Swift: Billboard's Woman of the Year” [Taylor Swift: Người phụ nữ của năm theo Billboard]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  125. ^ Talbott, Chris; Silva, Cristina (ngày 2 tháng 4 năm 2012). “Taylor Swift wins ACM entertainer of the year” [Taylor Swift đoạt giải Nghệ sĩ giải trí ACM của năm] (bằng tiếng Anh). Yahoo!. Associated Press. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  126. ^ “CMA Awards 2011: Taylor Swift wins entertainer of the year” [CMA Awards 2011: Taylor Swift đoạt giải Nghệ sĩ giải trí của năm] (bằng tiếng Anh). CBS News. ngày 9 tháng 11 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  127. ^ Kellogg, Jane (ngày 20 tháng 11 năm 2011). “AMAs 2011: Winners and Nominees Complete List” [AMAs 2011: Danh sách đầy đủ người chiến thắng và đề cử]. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  128. ^ Sheffield, Rob (ngày 23 tháng 6 năm 2012). “Women Who Rock: The 50 Greatest Albums of All Time” [Women Who Rock: 50 album hay nhất mọi thời đại]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  129. ^ Allen, Bob (ngày 29 tháng 3 năm 2012). “Hot Tours: Taylor Swift, George Strait, Cirque Du Soleil” [Tour hấp dẫn: Taylor Swift, Eo biển George, Cirque Du Soleil]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  130. ^ “Taylor Swift News and Blog” [Tin tức và Blog của Taylor Swift]. taylorswift.com (bằng tiếng Anh). Big Machine Records. ngày 21 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  131. ^ Herrera, Monica (ngày 15 tháng 3 năm 2012). “Taylor Swift, Arcade Fire Talk 'Hunger Games' [Taylor Swift và Arcade Fire trò chuyện về 'Hunger Games']. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  132. ^ “Nominations 2013 — Golden Globe Awards” [Đề cử 2013 — Giải Quả cầu vàng] (bằng tiếng Anh). Quả cầu vàng. ngày 13 tháng 12 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  133. ^ Horowitz, Steven J. (ngày 20 tháng 4 năm 2012). “B.o.B Explains Origins of Taylor Swift Collaboration 'Both of Us' [B.o.B giải thích nguồn gốc sự hợp tác của Taylor Swift 'Both of Us'] (bằng tiếng Anh). HipHopDX. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  134. ^ a b Newkey-Burden 2014, Chapter Seven.
  135. ^ Toomedy, Alyssa (ngày 25 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift and Conor Kennedy Breakup: Anatomy of a Split” [Cuộc chia tay của Taylor Swift và Conor Kennedy: Giải phẫu sự chia rẽ]. E! News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  136. ^ Trust, Gary (ngày 22 tháng 8 năm 2012). “Taylor Swift Scores First Hot 100 No. 1” [Taylor Swift lần đầu ghi điểm trên Hot 100 ở vị trí số 1]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  137. ^ “Discography Taylor Swift” [Đĩa hát của Taylor Swift] (bằng tiếng Anh). New Zealand Charts. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  138. ^ Lynch, Kevin (ngày 4 tháng 9 năm 2013). “Calvin Harris trumps Michael Jackson feat to join Taylor Swift, Rihanna and One Direction in Guinness World Records™ 2014 book” [Calvin Harris vượt qua thành tích của Michael Jackson để cùng Taylor Swift, Rihanna và One Direction lọt vào sách Kỷ lục Guinness Thế giới™ 2014]. Sách Kỷ lục Guinness (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  139. ^ Vị trí bảng xếp hạng:
     • “Taylor Swift – I Knew You Were Trouble” [Taylor Swift – I Knew You Were Trouble] (bằng tiếng Anh). ARIA Charts. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
     • “Official Singles Charts Top 100” [Official Singles Charts Top 100] (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
     • “Taylor Swift Leads Record Breaking Digital Sales Week” [Taylor Swift phá kỷ lục khi dẫn đầu tuần lễ Digital Sales]. Billboard (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 1 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  140. ^ Lewis, Randy (ngày 30 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift raises the bar with a savvy 'Red' marketing campaign” [Taylor Swift nâng tầm với chiến dịch tiếp thị 'Red' đầy hiểu biết]. Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  141. ^ Mansfield, Brian (ngày 17 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift sees 'Red' all over” [Taylor Swift nhìn thấy 'Red' khắp nơi]. USA Today. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2012.
  142. ^ Keefe, Jonathan (ngày 22 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift: Red [Taylor Swift: Red]. Slant Magazine (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  143. ^ English, J. (ngày 28 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift's 'Red': A Canonical Coming-Of-Age Album” ['Red' của Taylor Swift: Một album chuẩn mực dành cho tuổi mới lớn] (bằng tiếng Anh). NPR. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  144. ^ Caulfield, Keith (ngày 30 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift's 'Red' Sells 1.21 Million; Biggest Sales Week for an Album Since 2002” ['Red' của Taylor Swift bán được 1,21 triệu bản; Tuần bán album lớn nhất kể từ năm 2002]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  145. ^ Greenwald, David (ngày 6 tháng 9 năm 2013). “Taylor Swift, Rihanna, Justin Bieber Among 2014 Guinness Record-Setters” [Taylor Swift, Rihanna, Justin Bieber trong số những người lập kỷ lục Guinness 2014]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  146. ^ Sexton, Paul (ngày 31 tháng 8 năm 2019). “Taylor Swift Scores Fourth U.K. No. 1 With 'Lover' Album” [Taylor Swift giành vị trí số 1 tại Vương quốc Anh lần thứ 4 với album 'Lover']. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  147. ^ Allen, Bob (ngày 3 tháng 7 năm 2014). “Taylor Swift's Red Wraps as All-Time Country Tour” [Chuyến lưu diễn đồng quê toàn thời gian của Taylor Swift với Red Wraps]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  148. ^ “Grammys 2014: The complete list of nominees and winners” [Grammy 2014: Danh sách đề cử và người chiến thắng]. Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 1 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  149. ^ Gregoire, Carolyn (ngày 19 tháng 11 năm 2012). “Taylor Swift AMA Awards 2012: Pop Star Performs 'I Knew You Were Trouble' (Video)” [Taylor Swift tại giải AMA 2012: Ngôi sao nhạc Pop biểu diễn 'I Knew You Were Trouble' (Video)]. HuffPost (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  150. ^ Payne, Chris (ngày 25 tháng 11 năm 2013). “Taylor Swift & Justin Timberlake Win Big at American Music Awards” [Taylor Swift và Justin Timberlake thắng lớn tại Giải thưởng Âm nhạc Mỹ]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  151. ^ “NSAI Songwriter/Artists of the Year” [Nhạc sĩ sáng tác bài hát/Nghệ sĩ của NSAI của năm] (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Nhạc sĩ sáng tác bài hát Quốc tế Nashville. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  152. ^ Caramanica, Jon (ngày 7 tháng 11 năm 2013). “Country Awards Hold Swift Close” [Giải thưởng đồng quê đến gần hơn với Swift]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  153. ^ Jacobson, Ivy. “Taylor Swift Releases New Song 'Sweeter than Fiction' - Listen” [Taylor Swift phát hành bài hát mới 'Sweeter than Fiction' - Nghe]. Hollywood Life (bằng tiếng Anh). PMC. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  154. ^ Labrecque, Jeff (ngày 12 tháng 12 năm 2013). '12 Years a Slave' and 'American Hustle' lead Golden Globe nominees” ['12 Years a Slave' và 'American Hustle' dẫn đầu đề cử Quả cầu vàng]. Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  155. ^ Stromblad, Cory (ngày 8 tháng 2 năm 2013). “Tim McGraw Spills on Recording 'Highway Don't Care' 'With' Taylor Swift, Keith Urban” [Tim McGraw chia sẻ về việc thu âm 'Highway Don't Care' 'cùng' Taylor Swift, Keith Urban]. Taste of Country (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  156. ^ Blistein, Doyle (ngày 4 tháng 6 năm 2013). “Taylor Swift Joins Rolling Stones for 'As Tears Go By' [Taylor Swift tham gia Rolling Stones cho ca khúc 'As Tears Go By']. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  157. ^ Sciarretto, Amy (ngày 2 tháng 3 năm 2013). “Taylor Swift Joins Florida Georgia Line Onstage for 'Cruise' [Taylor Swift tham gia Florida Georgia Line trên sân khấu cho 'Cruise']. Taste of Country (bằng tiếng Anh). Townsquare Media. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  158. ^ Collin, Robbie (ngày 26 tháng 7 năm 2012). “The Lorax, review” [Thần Lorax, đánh giá]. The Daily Telegraph (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  159. ^ Beard, Lanford (ngày 1 tháng 5 năm 2013). “Taylor Swift says 'I do' to 'New Girl' [Taylor Swift nói 'tôi đồng ý' với 'New Girl']. Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  160. ^ Busis, Hillary (ngày 27 tháng 9 năm 2013). “Taylor Swift will co-star in long-awaited adaptation of 'The Giver' [Taylor Swift sẽ đóng chung trong bộ phim chuyển thể được chờ đợi từ lâu của 'Người truyền ký ức']. Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  161. ^ Peterson, Price (ngày 31 tháng 3 năm 2014). “Taylor Swift Moves into NYC Apartment Built Over Mysterious River of Pink Slime” [Taylor Swift chuyển đến căn hộ ở New York được xây dựng trên dòng sông chất nhờn màu hồng bí ẩn]. The Atlantic (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  162. ^ Rogers, Alex (ngày 7 tháng 3 năm 2014). “Why Taylor Swift Thinks Nashville Is the Best Place on Earth” [Tại sao Taylor Swift nghĩ Nashville là nơi tốt nhất trên Trái Đất]. Time (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  163. ^ “Taylor Swift hires new publicist” [Taylor Swift thuê nhà báo mới]. Nashville Post (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  164. ^ Milzoff, Rebecca; Brown, Eric Renner; Denis, Kyle (ngày 24 tháng 8 năm 2023). “Taylor Swift and Beyoncé Are So Big, Even Their Publicists Have Fans” [Taylor Swift và Beyoncé quá nổi tiếng, ngay cả nhà báo của họ cũng có người hâm mộ]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  165. ^ Taylor Swift (2014). 1989 [1989] (Ghi chú CD). Big Machine Records. BMRBD0500A.
  166. ^ Zollo, Paul (ngày 17 tháng 2 năm 2016). “The Oral History of Taylor Swift's 1989” [Lịch sử truyền miệng album 1989 của Taylor Swift] (bằng tiếng Anh). Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  167. ^ Mansfield, Brian (ngày 18 tháng 8 năm 2014). “Taylor Swift debuts 'Shake It Off,' reveals '1989' album” [Taylor Swift ra mắt 'Shake It Off', tiết lộ album '1989']. USA Today (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  168. ^ Caulfield, Keith (ngày 4 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's "1989" debuts with 1.287 million copies sold” ["1989" của Taylor Swift ra mắt với 1,287 triệu bản được bán ra]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  169. ^ Nguồn xếp hạng:
  170. ^ Trust, Gary (ngày 19 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift Makes Hot 100 History With 'Blank Space' [Taylor Swift làm nên lịch sử Hot 100 với 'Blank Space']. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  171. ^ a b c “Taylor Swift – Chart History: Hot 100” [Taylor Swift – Lịch sử bảng xếp hạng: Hot 100]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  172. ^ Waddell, Ray (ngày 11 tháng 12 năm 2015). “Live Music's $20 Billion Year: The Grateful Dead's Fare Thee Well Reunion, Taylor Swift, One Direction Top Boxscore's Year-End” [Năm trị giá 20 tỷ đô la Mỹ của Nhạc sống: Cuộc tái hợp Fare Thee Well của The Grateful Dead, Taylor Swift, Top Boxscore cuối năm của One Direction]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2024.
  173. ^ D'Orazio, Dante (ngày 20 tháng 12 năm 2015). “Taylor Swift's 1989 World Tour documentary is now streaming on Apple Music” [Phim tài liệu về World Tour 1989 của Taylor Swift hiện đang phát trực tuyến trên Apple Music]. The Verge (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  174. ^ Weissmann, Jordan (ngày 7 tháng 7 năm 2014). “Taylor Swift Has Written an Op-Ed in the Wall Street Journal” [Taylor Swift đã viết một bài Op-Ed trên tờ Wall Street Journal]. Slate (Blog) (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  175. ^ Knopper, Steve (ngày 8 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's Label Head Explains Spotify Removal” [Người đứng đầu hãng đĩa của Taylor Swift giải thích việc rút nhạc khỏi Spotify]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  176. ^ Peters, Mitchell (ngày 21 tháng 6 năm 2015). “Taylor Swift Pens Open Letter Explaining Why '1989' Won't Be on Apple Music” [Taylor Swift viết thư ngỏ giải thích lý do '1989' không xuất hiện trên Apple Music]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  177. ^ Halperin, Shirley (ngày 21 tháng 6 năm 2015). “Apple Changes Course After Taylor Swift Open Letter: Will Pay Labels During Free Trial” [Apple thay đổi kế hoạch sau thư ngỏ của Taylor Swift: Sẽ trả tiền cho các hãng đĩa trong thời gian dùng thử miễn phí]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  178. ^ Rosen, Christopher (ngày 25 tháng 6 năm 2015). “Taylor Swift is putting 1989 on Apple Music” [Taylor Swift sẽ đưa 1989 lên Apple Music]. Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  179. ^ “Taylor Swift returns to Spotify on the day Katy Perry's album comes out” [Taylor Swift trở lại Spotify vào ngày ra mắt album của Katy Perry] (bằng tiếng Anh). BBC News. ngày 9 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  180. ^ “Taylor Swift: 2014 Billboard Woman of the Year” [Taylor Swift: Người phụ nữ của năm 2014 trên Billboard]. Billboard (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  181. ^ Payne, Chris (ngày 23 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift Wins Dick Clark Award of Excellence at 2014, Presented by Diana Ross” [Taylor Swift đoạt giải Dick Clark xuất sắc năm 2014, do Diana Ross giới thiệu]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  182. ^ “The Taylor Swift Experience” [Trải nghiệm Taylor Swift] (bằng tiếng Anh). GRAMMY Museum. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  183. ^ Boehrer, Kat (ngày 7 tháng 1 năm 2016). “Watch Taylor Swift's Stunning Acoustic Performance of 'Blank Space' at the Grammy Museum” [Xem màn trình diễn acoustic ấn tượng ca khúc 'Blank Space' của Taylor Swift tại Bảo tàng Grammy]. Complex (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  184. ^ Jonze, Tim (ngày 25 tháng 2 năm 2015). “Taylor Swift wins international female solo artist at Brit awards 2015” [Taylor Swift đoạt giải nữ nghệ sĩ solo quốc tế tại giải Brit 2015]. The Guardian (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  185. ^ Lipshutz, Jason (ngày 30 tháng 8 năm 2015). “MTV Video Music Awards 2015: The Winners Are...” [Giải thưởng Video âm nhạc MTV 2015: Người chiến thắng là...]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  186. ^ Lynch, Joe (ngày 19 tháng 2 năm 2016). “Taylor Swift Joins Elite Club to Win Grammy Album of the Year More Than Once: See the Rest” [Taylor Swift gia nhập Câu lạc bộ ưu tú sau khi giành được Album Grammy của năm nhiều hơn một lần: Xem phần còn lại]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  187. ^ Chiu, Melody (ngày 1 tháng 6 năm 2016). “Taylor Swift and Calvin Harris Split After 15 Months Together” [Taylor Swift và Calvin Harris chia tay sau 15 tháng bên nhau]. People (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  188. ^ Spanos, Brittany (ngày 13 tháng 7 năm 2016). “Taylor Swift Co-Wrote Calvin Harris' Smash Hit 'This Is What You Came For' [Taylor Swift đồng sáng tác bản hit đình đám 'This Is What You Came For' của Calvin Harris]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  189. ^ a b Grady, Constance (ngày 26 tháng 8 năm 2019). “How the Taylor Swift-Kanye West VMAs scandal became a perfect American morality tale” [Vụ bê bối VMAs của Taylor Swift-Kanye West đã trở thành một câu chuyện đạo đức hoàn hảo của nước Mỹ như thế nào]. Vox (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  190. ^ a b Grady, Constance (ngày 21 tháng 3 năm 2020). “Newly leaked footage shows Taylor Swift and Kanye West talking "Famous" [Đoạn phim mới bị rò rỉ cho thấy Taylor Swift và Kanye West đang nói chuyện về "Famous"]. Vox (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  191. ^ Lewis, Anna (ngày 15 tháng 7 năm 2016). “Tom Hiddleston finally tells us the truth about his relationship with Taylor Swift” [Tom Hiddleston cuối cùng cũng kể cho chúng ta sự thật về mối quan hệ của anh ấy với Taylor Swift]. Cosmopolitan (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  192. ^ Gibson, Kelsie (ngày 23 tháng 8 năm 2019). “Taylor Swift Finally Reveals When She Started Dating Joe Alwyn in Lover Album” [Taylor Swift cuối cùng cũng tiết lộ thời điểm bắt đầu hẹn hò với Joe Alwyn trong Lover Album] (bằng tiếng Anh). Yahoo!. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  193. ^ Irvin, Jack (ngày 10 tháng 4 năm 2023). “Inside Taylor Swift and Joe Alwyn's 'Differences' That Led to Their Breakup: Sources (Exclusive)” [Bên trong 'Sự khác biệt' của Taylor Swift và Joe Alwyn dẫn đến sự chia tay của họ: Nguồn (Độc quyền)]. People (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  194. ^ Ryan, Patrick (ngày 8 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift, pop princess, wins song of the year at the CMA Awards” [Taylor Swift, công chúa nhạc pop, giành giải Ca khúc của năm tại CMA]. USA Today (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  195. ^ Trust, Gary (ngày 21 tháng 2 năm 2017). “Ed Sheeran Tops Hot 100, Katy Perry Debuts at No. 4 & Bruno Mars, Rihanna & The Weeknd All Hit Top 10” [Ed Sheeran đứng đầu Hot 100, Katy Perry ra mắt ở vị trí thứ 4 & Bruno Mars, Rihanna & The Weeknd đều lọt vào Top 10]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  196. ^ Grady, Constance (ngày 11 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift won her day in court. Here's what you need to know” [Taylor Swift đã thắng trong ngày ra tòa. Đây là những gì bạn cần biết.]. Vox (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  197. ^ “Taylor Swift wipes social media profiles, fuelling expectations of new album” [Taylor Swift xóa hồ sơ mạng xã hội, khơi dậy niềm mong mỏi về album mới]. The Daily Telegraph (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  198. ^ Aswad, Jem (ngày 24 tháng 8 năm 2017). “Taylor Swift's New Single, 'Look What You Made Me Do,' Arrives (Listen)” [Đĩa đơn mới của Taylor Swift, 'Look What You Made Me Do', sắp ra mắt (Nghe này)]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  199. ^ White, Jack (ngày 1 tháng 9 năm 2017). “Taylor Swift scores first Number 1 on the Official Singles Chart with 'LWYMMD' [Taylor Swift giành vị trí số 1 đầu tiên trên Bảng xếp hạng Official Singles với 'LWYMMD'] (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  200. ^ Vị trí cao nhất của "Look What You Made Me Do":
  201. ^ Shaw, Lucas (ngày 7 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Will Keep New Album From Streaming for a Week” [Taylor Swift sẽ không phát trực tuyến album mới trong một tuần]. Bloomberg (bằng tiếng Anh). Bloomberg News. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  202. ^ Kot, Greg (ngày 10 tháng 11 năm 2017). “Review: Taylor Swift Puts Reputation on Cruise Control” [Đánh giá: Taylor Swift đặt Reputation lên Cruise Control]. Chicago Tribune (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  203. ^ a b c Powers, Ann (ngày 10 tháng 11 năm 2017). “The Old Taylor's Not Dead” [Taylor cũ vẫn chưa chết] (bằng tiếng Anh). NPR. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  204. ^ Caulfield, Keith (ngày 20 tháng 11 năm 2017). “Official: Taylor Swift's 'Reputation' Album Sells 1.2M Copies in US During First Week” [Chính thức: Album 'Reputation' của Taylor Swift bán được 1,2 triệu bản tại Mỹ trong tuần đầu tiên]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  205. ^ Nguồn xếp hạng của Reputation:
     • “Taylor Swift's 'Reputation' Rules Australia's Albums Chart” ['Reputation' của Taylor Swift thống trị bảng xếp hạng album của Úc]. Billboard (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 11 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
     • “Taylor Swift Chart History” [Lịch sử bảng xếp hạng Taylor Swift]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  206. ^ “Global Top 10 Albums of 2017” [10 album hàng đầu toàn cầu năm 2017] (PDF) (bằng tiếng Anh). Liên đoàn Công nghiệp ghi âm Quốc tế. tr. 9. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  207. ^ Trust, Gary (ngày 11 tháng 9 năm 2017). “Taylor Swift at Nos. 1 & 4 on Billboard Hot 100, as Cardi B Moves Up to No. 2” [Taylor Swift ở vị trí số 1 & 4 trên Billboard Hot 100, khi Cardi B tiến lên vị trí thứ 2]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  208. ^ “61st Grammy Nominees” [Những người được đề cử giải Grammy lần thứ 61] (bằng tiếng Anh). Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia. ngày 7 tháng 12 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  209. ^ Havens, Lyndsey (ngày 9 tháng 10 năm 2018). “Taylor Swift Breaks an All-Time AMA Record – And Urges People to Vote in Midterm Elections” [Taylor Swift phá kỷ lục AMA mọi thời đại - và kêu gọi mọi người bỏ phiếu trong cuộc bầu cử giữa kỳ]. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  210. ^ Hudak, Joseph (ngày 12 tháng 4 năm 2018). “Sugarland Announce New Album 'Bigger,' Taylor Swift Collaboration” [Sugarland công bố album mới 'Bigger', hợp tác với Taylor Swift]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  211. ^ Stubblebine, Allison (ngày 13 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Announces First Round of Reputation Stadium Tour Dates” [Taylor Swift công bố ngày lưu diễn chặng đầu tiên tại Reputation Stadium]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  212. ^ Frankenberg, Eric (ngày 6 tháng 12 năm 2018). “Taylor Swift Closes Reputation Stadium Tour with $345 Million” [Taylor Swift khép lại chuyến lưu diễn tại sân vận động danh tiếng với 345 triệu đô la Mỹ]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  213. ^ Stiernberg, Bonnie (ngày 31 tháng 12 năm 2018). “Taylor Swift's 'Reputation' Hits Netflix: Twitter Reacts” ['Danh tiếng' của Taylor Swift tấn công Netflix: Phản ứng trên Twitter]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  214. ^ Harbet, Xandra (ngày 4 tháng 12 năm 2023). “Taylor Swift's Reputation tour movie is my End Game — but it's leaving Netflix soon” [Bộ phim về chuyến lưu diễn Reputation của Taylor Swift là Trò chơi kết thúc của tôi - nhưng nó sẽ sớm rời Netflix]. Tom's Guide (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  215. ^ Willman, Chris (ngày 27 tháng 8 năm 2018). “Taylor Swift Stands to Make Music Business History as a Free Agent” [Taylor Swift đứng ra làm nên lịch sử kinh doanh âm nhạc với tư cách là đại lý tự do]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  216. ^ Wang, Amy X. (ngày 19 tháng 11 năm 2018). “Taylor Swift's New Record Deal Affects Thousands of Other Musicians” [Hợp đồng thu âm mới của Taylor Swift ảnh hưởng đến hàng nghìn nhạc sĩ khác]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  217. ^ Aswad, Jem; Willman, Chris (ngày 19 tháng 11 năm 2018). “Taylor Swift Signs New Deal With Universal Music Group” [Taylor Swift ký hợp đồng mới với Universal Music Group]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  218. ^ “Taylor Swift to receive artist of the decade award at AMAs” [Taylor Swift nhận giải Nghệ sĩ của thập kỷ tại AMAs]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Associated Press. ngày 30 tháng 10 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  219. ^ McKenna, Lyndsey (ngày 23 tháng 8 năm 2019). “Stream Taylor Swift's New Album, 'Lover' [Phát trực tiếp Album mới của Taylor Swift, 'Lover'] (bằng tiếng Anh). NPR. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  220. ^ Catucci, Nick (ngày 23 tháng 8 năm 2019). “Taylor Swift Reaches For New Heights of Personal and Musical Liberation on 'Lover' [Taylor Swift đạt đến đỉnh cao mới của sự giải phóng cá nhân và âm nhạc trong 'Lover']. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  221. ^ Spruch, Kirsten (ngày 23 tháng 8 năm 2019). “Full Credits For Taylor Swift's 'Lover' Album: St. Vincent, Jack Antonoff, Dixie Chicks & More” [Ghi công đầy đủ cho album 'Lover' của Taylor Swift: St. Vincent, Jack Antonoff, Dixie Chicks và hơn thế nữa]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  222. ^ Caulfield, Keith (ngày 1 tháng 9 năm 2019). “Official: Taylor Swift's 'Lover' Debuts at No. 1 on Billboard 200 Chart With 867,000 Units Earned in First Week in U.S.” [Chính thức: 'Lover' của Taylor Swift ra mắt ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard 200 với 867.000 bản thu được trong tuần đầu tiên tại Mỹ]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  223. ^ White, Adam (ngày 23 tháng 8 năm 2019). “Taylor Swift Lover Review Round-Up: Critics Say Album Feels 'Evolutionary Rather Than Revolutionary' [Tổng hợp đánh giá Lover của Taylor Swift: Các nhà phê bình cho rằng album có cảm giác 'tiến hóa hơn là mang tính cách mạng']. The Independent (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  224. ^ Moniuszko, Sara M. (ngày 23 tháng 8 năm 2019). “Taylor Swift Lover Reviews: Critics Are Enamored by the 'Earnest,' 'Romantic' New Album” [Đánh giá Lover của Taylor Swift: Các nhà phê bình say mê album mới 'nghiêm túc nhất', 'lãng mạn']. USA Today (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  225. ^ Trust, Gary (ngày 6 tháng 5 năm 2019). “Lil Nas X's 'Old Town Road' Tops Billboard Hot 100 For Fifth Week, Taylor Swift's 'Me!' Vaults to No. 2” ['Old Town Road' của Lil Nas X đứng đầu Billboard Hot 100 trong tuần thứ năm, 'Me!' của Taylor Swift phóng thẳng lên vị trí số 2]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  226. ^ Trust, Gary (ngày 23 tháng 10 năm 2023). “Taylor Swift's 'Cruel Summer' Hits No. 1 on Billboard Hot 100, Becoming Her 10th Leader” ['Cruel Summer' của Taylor Swift đạt No.1 Billboard Hot 100, trở thành bài hát quán quân thứ 10 của cô]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  227. ^ “Arashi Best-Of Tops Taylor Swift for IFPI's Best-Selling Album of 2019” [Arashi Best-Of vượt qua Taylor Swift cho album bán chạy nhất năm 2019 của IFPI]. Billboard (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  228. ^ “2020 Grammy Awards: Complete Winners List” [Giải thưởng Grammy 2020: Danh sách người chiến thắng đầy đủ] (bằng tiếng Anh). Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia. ngày 20 tháng 11 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  229. ^ Grein, Paul (ngày 26 tháng 8 năm 2019). “12 Records That Were Set at the 2019 VMAs” [12 kỷ lục được xác lập tại VMAs 2019]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  230. ^ Cirisano, Tatiana (ngày 2 tháng 3 năm 2020). “Taylor Swift Crowned IFPI's Global Best-Selling Artist” [Taylor Swift đăng quang Nghệ sĩ bán chạy nhất toàn cầu của IFPI]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  231. ^ a b Grady, Constance (ngày 1 tháng 9 năm 2019). “The Taylor Swift/Scooter Braun controversy, explained” [Giải thích về tranh cãi giữa Taylor Swift/Scooter Braun]. Vox (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  232. ^ “The Taylor Swift, Scooter Braun, Justin Bieber row explained” [Giải thích về vụ tranh cãi của Taylor Swift, Scooter Braun, Justin Bieber] (bằng tiếng Anh). BBC News. ngày 1 tháng 7 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  233. ^ Willman, Chris (ngày 16 tháng 11 năm 2020). “Taylor Swift Confirms Sale of Her Masters, Says She Is Already Re-Recording Her Catalog” [Taylor Swift xác nhận việc bán album Masters của mình, cho biết cô ấy đã tái thu âm danh mục bài hát của mình]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  234. ^ Aniftos, Rania (ngày 15 tháng 11 năm 2019). “Taylor Swift Releases 'Beautiful Ghosts,' Co-Written With Andrew Lloyd Webber for 'Cats' Film” [Taylor Swift phát hành 'Beautiful Ghosts', đồng sáng tác với Andrew Lloyd Webber cho phim 'Cats: Những chú mèo']. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  235. ^ “Golden Globes 2020: full list of nominations” [Quả cầu vàng 2020: danh sách đề cử đầy đủ]. The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  236. ^ Rooney, David (ngày 18 tháng 12 năm 2019). 'Cats': Film Review” ['Cats: Những chú mèo': Đánh giá phim]. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  237. ^ Mamo, Heran (ngày 15 tháng 1 năm 2020). “Taylor Swift 'Miss Americana' Netflix Doc Has a Release Date & We're So Ready for It” [Phim tài liệu Netflix 'Miss Americana' của Taylor Swift đã có ngày phát hành và chúng tôi đã sẵn sàng cho bộ phim đó]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  238. ^ “Miss Americana (2020)” [Miss Americana (2020)] (bằng tiếng Anh). Rotten Tomatoes. ngày 31 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  239. ^ Willman, Chris (ngày 21 tháng 1 năm 2020). “Taylor Swift: No Longer 'Polite at All Costs' [Taylor Swift: Không còn 'Lịch sự bằng mọi giá' nữa]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  240. ^ Willman, Chris (ngày 6 tháng 2 năm 2020). “Taylor Swift Moves to Universal Music Publishing Group with New Pact” [Taylor Swift chuyển sang tập đoàn xuất bản Universal Music với thỏa thuận mới]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  241. ^ Opperman, Jeff (ngày 12 tháng 3 năm 2021). “Taylor Swift Is Singing Us Back to Nature” [Taylor Swift đang hát đưa chúng ta trở về với thiên nhiên]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  242. ^ Richards, Will (ngày 10 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift to release surprise ninth album 'Evermore' tonight” [Taylor Swift bất ngờ phát hành album thứ 9 'Evermore' vào tối nay]. NME (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  243. ^ Schaffer, Claire (ngày 18 tháng 12 năm 2020). “Aaron Dessner on How His Collaborative Chemistry With Taylor Swift Led to 'Evermore' [Aaron Dessner nói về sự hợp tác hóa học của anh ấy với Taylor Swift đã dẫn đến 'Evermore' như thế nào]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  244. ^ a b Barna, Alyssa (ngày 16 tháng 12 năm 2020). “These are the musicological reasons Taylor Swift's new album sounds dull” [Đây là những lý do âm nhạc khiến album mới của Taylor Swift nghe buồn tẻ]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  245. ^ Lipshutz, Jason (ngày 24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore': There's Nothing Quiet About This Songwriting Tour De Force” ['Folklore' của Taylor Swift: Không có gì yên tĩnh về sáng tác Tour De Force này]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  246. ^ Atkinson, Katie (ngày 15 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift Isn't So Sure She & Joe Alwyn Would Have Made Music Together If It Weren't for Lockdown” [Taylor Swift không chắc chắn rằng cô ấy và Joe Alwyn sẽ cùng nhau sáng tác âm nhạc nếu không có lệnh phong tỏa]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  247. ^ Grady, Constance (ngày 11 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift, pop culture workhorse” [Taylor Swift, con ngựa thồ của văn hóa đại chúng]. Vox (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  248. ^ Snapes, Laura (ngày 14 tháng 10 năm 2022). 'Genuine': why Taylor Swift can celebrate more than an album release” ['Chính hãng': tại sao Taylor Swift có thể ăn mừng nhiều hơn việc phát hành album]. The Guardian (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  249. ^ McGrath 2023, tr. 79; Fogarty & Arnold 2021, tr. 5.
  250. ^ Blistein, Jon (ngày 24 tháng 11 năm 2020). “Taylor Swift to Release New 'Folklore' Film, 'The Long Pond Studio Sessions' [Taylor Swift sẽ phát hành bộ phim 'Folklore' mới, 'The Long Pond Studio Sessions']. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  251. ^ Trust, Gary (ngày 28 tháng 1 năm 2021). “Taylor Swift's 'Coney Island' and 'No Body, No Crime' Debut on Airplay Charts, Joining 'Willow' ['Coney Island' và 'No Body, No Crime' của Taylor Swift ra mắt trên bảng xếp hạng Airplay, cùng 'Willow']. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  252. ^ Trust, Gary (ngày 21 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift's 'Willow' Debuts at No. 1 on Billboard Hot 100” ['Willow' của Taylor Swift ra mắt ở vị trí số 1 trên Billboard Hot 100]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  253. ^ Caulfield, Keith (ngày 7 tháng 1 năm 2021). “Lil Baby's 'My Turn' Is MRC Data's Top Album of 2020, Roddy Ricch's 'The Box' Most-Streamed Song” ['My Turn' của Lil Baby là album hàng đầu năm 2020 của MRC Data, 'The Box' của Roddy Ricch được phát trực tuyến nhiều nhất]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  254. ^ Willman, Chris (ngày 14 tháng 3 năm 2021). “Taylor Swift Becomes First Woman to Win Album of the Year Grammy Three Times” [Taylor Swift trở thành người phụ nữ đầu tiên 3 lần đoạt giải Album của năm tại Grammy]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  255. ^ Willman, Chris (ngày 23 tháng 11 năm 2020). “Taylor Swift Wins Three American Music Awards, Says She's MIA Because of 'Recording All of My Old Music' [Taylor Swift giành được ba giải thưởng Âm nhạc Mỹ, cho biết cô ấy bị MIA vì 'Thu âm tất cả nhạc cũ của tôi']. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  256. ^ Christman, Ed (ngày 19 tháng 7 năm 2021). “Billboard's U.S. Money Makers: The Top Paid Musicians of 2020” [Người kiếm tiền tại Hoa Kỳ của Billboard: Những nhạc sĩ được trả lương cao nhất năm 2020]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  257. ^ Christman, Ed (ngày 19 tháng 7 năm 2021). “Billboard's 2020 Global Money Makers: The 5 Top Highest Paid Musicians” [Những người kiếm tiền toàn cầu năm 2020 của Billboard: 5 nhạc sĩ được trả lương cao nhất]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  258. ^ “Still Fearless: Re-Recording The Past On Taylor's Version” [Vẫn Fearless: Thu âm lại bản quá khứ nhưng là bản của Taylor] (bằng tiếng Anh). NPR. ngày 12 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  259. ^ Lipshutz, Jason (ngày 18 tháng 6 năm 2021). “Taylor Swift Announces 'Red' As Next Re-Recorded Album, November Release Date” [Taylor Swift công bố 'Red' là album thu âm lại tiếp theo, ngày phát hành vào tháng 11]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  260. ^ Caulfield, Keith (ngày 11 tháng 7 năm 2023). “Taylor Swift's Re-Recorded Speak Now Already Has 2023's Biggest Week After 4 Days of Release” [Bản thu âm lại Speak Now của Taylor Swift đã có tuần lễ lớn nhất năm 2023 sau 4 ngày phát hành]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  261. ^ Caulfield, Keith (ngày 18 tháng 4 năm 2021). “Taylor Swift's Re-Recorded Fearless Album Debuts at No. 1 on Billboard 200 Chart With Year's Biggest Week” [Album thu âm lại Fearless của Taylor Swift ra mắt ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard 200 với tuần lễ lớn nhất trong năm]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  262. ^ Asker, Jim; Trust, Gary (ngày 22 tháng 2 năm 2021). “Taylor Swift's 'Love Story (Taylor's Version)' Debuts at No. 1 on Hot Country Songs Chart: 'I'm So Grateful to the Fans' ['Love Story (Taylor's Version)' của Taylor Swift ra mắt ở vị trí số 1 trên Hot Country Songs: 'Tôi rất biết ơn người hâm mộ']. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  263. ^ a b c d McCluskey, Megan (ngày 8 tháng 12 năm 2023). “Breaking Down Taylor Swift's 2023 Impact By the Numbers” [Phân tích tác động năm 2023 của Taylor Swift qua những con số]. Time (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  264. ^ Weatherby, Taylor (ngày 5 tháng 2 năm 2023). “Taylor Swift Makes GRAMMY History (Again) With Best Music Video Win For "All Too Well: The Short Film" | 2023 GRAMMYs” [Taylor Swift (Một lần nữa) làm nên lịch sử GRAMMY với chiến thắng Video âm nhạc hay nhất cho "All Too Well: The Short Film" | GRAMMYs 2023] (bằng tiếng Anh). Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  265. ^ Corcoran, Nina (ngày 28 tháng 8 năm 2022). “Taylor Swift Announces New Album Midnights, Breaks Record for Most Video of the Year Wins at 2022 VMAs” [Taylor Swift công bố album mới Midnights, phá kỷ lục giành nhiều video nhất của năm tại VMAs 2022]. Pitchfork (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  266. ^ “Taylor Swift's new album breaks Spotify streaming record” [Album mới của Taylor Swift phá kỷ lục phát thanh Spotify]. The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 10 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  267. ^ Harvilla, Rob (ngày 25 tháng 10 năm 2022). “The Anti-Hero We Deserve: Taylor Swift and Her Polarizing 'Midnights' [Anti-Hero mà chúng ta xứng đáng có: Taylor Swift và 'Midnights' phân cực của cô ấy]. The Ringer (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  268. ^ Light, Alan (ngày 24 tháng 10 năm 2022). “Taylor Swift's Midnights Does Something Astonishing. Even For Her” ["Midnights" của Taylor Swift có điều gì đó đáng kinh ngạc. Ngay cả đối với cô ấy.]. Esquire (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  269. ^ Petridis, Alexis (ngày 21 tháng 10 năm 2022). “Taylor Swift: Midnights Review – Small-Hours Pop Rich with Self-Loathing and Stereotype-Smashing” [Taylor Swift: Đánh giá Midnights - Phong phú nhạc Pop trong thời gian ngắn với sự tự ghê tởm và đập phá khuôn mẫu]. The Guardian (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  270. ^ Spanos, Brittany (ngày 21 tháng 10 năm 2022). “Taylor Swift Lets Us Into Her Darkest Dreams On Midnights [Taylor Swift đưa chúng ta vào những giấc mơ đen tối nhất của cô ấy trong Midnights]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  271. ^ Sheffield, Rob (ngày 21 tháng 10 năm 2022). “Welcome to the Lavender Labyrinth: Taylor Swift's Midnights Is the Mastermind's Ultimate Power Move” [Chào mừng đến với Lavender Labyrinth: Midnights của Taylor Swift là chiêu thức sức mạnh tối thượng của Mastermind]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  272. ^ Balasaygun, Kaitlin (ngày 1 tháng 11 năm 2022). “How Taylor Swift went back to the past and turned Midnights into her biggest album success yet” [Taylor Swift đã quay về quá khứ như thế nào và biến Midnights trở thành album thành công lớn nhất của cô] (bằng tiếng Anh). CNBC. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  273. ^ Shafer, Ellise (ngày 21 tháng 10 năm 2022). “Taylor Swift's Midnights Breaks Spotify Record for Most-Streamed Album in a Single Day” [Midnights của Taylor Swift phá kỷ lục Spotify để trở thành album được phát trực tuyến nhiều nhất trong một ngày]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  274. ^ a b Jericho, Greg (ngày 28 tháng 10 năm 2022). “Taylor Swift's Incredible Success In Graphs – Who Can Blame Me for Being a Swiftie As a 50-Year-Old Man?” [Thành công đáng kinh ngạc của Taylor Swift trong lĩnh vực con số đồ thị – Ai có thể trách tôi vì trở thành Swiftie khi đã 50 tuổi?]. The Guardian (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  275. ^ a b c d e Dailey, Hannah (ngày 6 tháng 12 năm 2022). “Here Are All of Taylor Swift's Biggest Accomplishments in 2022” [Dưới đây là tất cả những thành tựu lớn nhất của Taylor Swift trong năm 2022]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  276. ^ Trust, Gary (ngày 5 tháng 6 năm 2023). “Morgan Wallen's 'Last Night' No. 1 on Hot 100 for Ninth Week, Taylor Swift & Ice Spice's 'Karma' Blasts to No. 2” ["Last Night" của Morgan Wallen đứng đầu Hot 100 tuần thứ 9, "Karma" của Taylor Swift & Ice Spice đứng thứ 2]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  277. ^ a b Blistein, Jon; Guglielmi, Jodi (ngày 13 tháng 9 năm 2023). “Taylor Swift Makes History at 2023 VMAs” [Taylor Swift làm nên lịch sử tại VMAs 2023]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  278. ^ West, Bryan. “Taylor Swift makes Grammys history with fourth album of the year win for 'Midnights' [Taylor Swift làm nên lịch sử Grammy với album thứ tư của năm cho 'Midnights']. USA Today (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2024.
  279. ^ Caulfield, Keith (ngày 16 tháng 7 năm 2023). “Taylor Swift's Re-Recorded 'Speak Now' Debuts at No. 1 on Billboard 200 With 2023's Biggest Week” [Album 'Speak Now' được thu âm lại của Taylor Swift ra mắt ở vị trí số 1 trên Billboard 200 với tuần lễ lớn nhất năm 2023]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  280. ^ a b Caulfield, Keith (ngày 5 tháng 11 năm 2023). “Taylor Swift's 1989 (Taylor's Version) Debuts at No. 1 on Billboard 200 With Biggest Week in Nearly a Decade” ["1989 (Taylor's Version)" của Taylor Swift ra mắt ở vị trí số 1 trên Billboard 200 với tuần lễ lớn nhất trong gần một thập kỷ]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  281. ^ a b c d Trust, Gary (ngày 6 tháng 11 năm 2023). “Taylor Swift's 'Is It Over Now? (Taylor's Version)' Debuts at No. 1 on Billboard Hot 100” [Ca khúc 'Is It Over Now?' của Taylor Swift (Phiên bản của Taylor)' ra mắt ở vị trí số 1 trên Billboard Hot 100]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  282. ^ Sherman, Maria (ngày 29 tháng 11 năm 2023). “Taylor Swift is Spotify's most-streamed artist of 2023, ending Bad Bunny's 3-year reign” [Taylor Swift là nghệ sĩ được streaming nhiều nhất Spotify năm 2023, chấm dứt triều đại 3 năm của Bad Bunny] (bằng tiếng Anh). ABC News. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  283. ^ Garcia, Thania (ngày 28 tháng 11 năm 2023). “Taylor Swift Named Apple Music's Artist of the Year; Morgan Wallen Tops Global Songs Chart” [Taylor Swift được vinh danh là Nghệ sĩ của năm của Apple Music; Morgan Wallen đứng đầu bảng xếp hạng bài hát toàn cầu]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  284. ^ Caulfield, Keith (ngày 21 tháng 11 năm 2023). “Taylor Swift Is Billboard's Top Artist of 2023” [Taylor Swift là nghệ sĩ hàng đầu năm 2023 của Billboard]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  285. ^ Caulfield, Keith (ngày 3 tháng 12 năm 2023). “Taylor Swift's '1989 (Taylor's Version)' Returns to No. 1 on Billboard 200” ['1989 (Taylor's Version)' của Taylor Swift trở lại vị trí số 1 trên Billboard 200]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  286. ^ Caulfield, Keith (ngày 10 tháng 1 năm 2024). “Morgan Wallen's One Thing at a Time Is Luminate's Top Album of 2023 in U.S.” ["One Thing at a Time" của Morgan Wallen là album hàng đầu năm 2023 của Luminate tại Hoa Kỳ]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2024.
  287. ^ Cohen, Jonathan (ngày 29 tháng 6 năm 2021). “Aaron Dessner, Justin Vernon Rev Up Big Red Machine With Help From Taylor Swift” [Aaron Dessner, Justin Vernon cải tiến Big Red Machine với sự trợ giúp từ Taylor Swift]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  288. ^ Strauss, Matthew (ngày 19 tháng 2 năm 2021). “HAIM Enlist Taylor Swift for New "Gasoline" Remix” [HAIM tranh thủ mời Taylor Swift góp giọng cho bản remix "Gasoline" mới]. Pitchfork (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  289. ^ Dailey, Hannah (ngày 11 tháng 2 năm 2022). “Ed Sheeran & Taylor Swift Release 'The Joker and the Queen' Remix: Watch the Video” [Ed Sheeran & Taylor Swift phát hành bản phối lại 'The Joker and the Queen': Xem video]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  290. ^ Rowley, Glenn (ngày 18 tháng 1 năm 2023). “The National Unveils 'First Two Pages of Frankenstein' Tracklist With Taylor Swift, Phoebe Bridgers & Sufjan Stevens” [The National công bố danh sách ca khúc 'Hai trang đầu tiên của Frankenstein' với Taylor Swift, Phoebe Bridgers & Sufjan Stevens]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  291. ^ Davis, Clayton (ngày 21 tháng 12 năm 2022). “Taylor Swift Doesn't Make Oscar Shortlist for All Too Well Short Film, but Advances for 'Carolina' Original Song” [Taylor Swift không lọt vào danh sách rút gọn giải Oscar cho phim ngắn All Too Well nhưng tiến bộ hơn bài hát gốc Carolina]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  292. ^ Utley, Riley (ngày 13 tháng 10 năm 2022). “Every Taylor Swift Movie Performance, Ranked” [Mọi màn trình diễn phim của Taylor Swift, được xếp hạng]. CinemaBlend (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  293. ^ a b Lang, Brent (ngày 9 tháng 12 năm 2022). “Taylor Swift Making Feature Directing Debut for Searchlight Pictures” [Taylor Swift ra mắt đạo diễn phim truyện cho Searchlight Pictures]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  294. ^ Ruggieri, Melissa (ngày 24 tháng 10 năm 2023) [ngày 18 tháng 3 năm 2023]. “Taylor Swift set list: Here are all the songs on her epic Eras tour” [Danh sách bài hát của Taylor Swift: Dưới đây là tất cả các bài hát trong chuyến lưu diễn The Eras Tour hoành tráng của cô]. USA Today (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2024.
  295. ^ Wood, Mikael; Brown, August (ngày 1 tháng 8 năm 2023). “It's a love story, L.A. just says yes: How Taylormania took over the world” [Đó là một câu chuyện tình yêu, L.A. chỉ cần đồng ý thôi: Taylormania đã chiếm lĩnh thế giới như thế nào]. Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  296. ^ a b Mahdawi, Arwa (ngày 20 tháng 11 năm 2022). “Swifties know: the Ticketmaster fiasco shows America has a monopoly problem” [Swifties cũng biết: Sự thất bại của Ticketmaster cho thấy nước Mỹ có vấn đề độc quyền]. The Guardian (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  297. ^ Spangler, Todd (ngày 8 tháng 12 năm 2023). “Taylor Swift's 'Eras' Tour Hits Record-Setting $1 Billion in 2023, Projected to Top $2 Billion Total” [Chuyến lưu diễn 'The Eras Tour' của Taylor Swift lập kỷ lục 1 tỷ đô la Mỹ vào năm 2023, dự kiến đạt tổng doanh thu 2 tỷ đô la Mỹ]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  298. ^ Kaufman, Gil (ngày 28 tháng 11 năm 2023). “Taylor Swift's 'Eras Tour' Concert Movie Passes $250 Million in Worldwide Grosses” [Phim hòa nhạc 'Eras Tour' của Taylor Swift đạt tổng doanh thu toàn cầu là 250 triệu đô la Mỹ]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  299. ^ Lang, Brent; Shanfeld, Ethan (ngày 11 tháng 12 năm 2023). “Golden Globes 2024: Full Nominations List” [Quả cầu vàng 2024: Danh sách đề cử đầy đủ]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  300. ^ Nordyke, Kimberly (ngày 7 tháng 1 năm 2024). “Golden Globes 2024 Winners List” [Danh sách người chiến thắng Quả cầu vàng 2024]. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2024.
  301. ^ Adamczyk, Alicia; Abrams, Joseph (ngày 25 tháng 7 năm 2023). “The brilliant marketing synergy of Taylor Swift's Eras Tour and her rerecorded albums” [Sức mạnh tiếp thị tuyệt vời The Eras Tour của Taylor Swift và các album được thu âm lại của cô]. Fortune (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  302. ^ Ingham, Tim (ngày 14 tháng 6 năm 2023). “Reliving the Taylor Swift Catalog Sale Saga (And Following the Money...)” [Hồi tưởng lại câu chuyện bán hàng danh mục của Taylor Swift (và số tiền thu được tiếp đó...)] (bằng tiếng Anh). Music Business Worldwide. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  303. ^ Blanchet, Brenton (ngày 20 tháng 11 năm 2023). “Travis Kelce Shares the Real Story of How Taylor Swift Romance Began in Wide-Ranging Interview” [Travis Kelce chia sẻ câu chuyện có thật về mối tình lãng mạn của Taylor Swift bắt đầu như thế nào trong một cuộc phỏng vấn rộng rãi]. People (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
  304. ^ Kelly, Samantha Murphy (ngày 25 tháng 1 năm 2024). “Explicit, AI-generated Taylor Swift images spread quickly on social media” [Hình ảnh Taylor Swift dung tục, do AI tạo ra lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội] (bằng tiếng Anh). CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2024.
  305. ^ Phillips, Zoe G. (ngày 27 tháng 1 năm 2024). “SAG-AFTRA and White House Issue Statements on Taylor Swift AI Nudes: "We Have It in Our Power to Control These Technologies" [SAG-AFTRA và Nhà Trắng đưa ra tuyên bố về ảnh khoả thân của Taylor Swift AI: "Chúng tôi có quyền kiểm soát những công nghệ này"]. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2024.
  306. ^ Zemler, Emily (ngày 19 tháng 4 năm 2024). “Taylor Swift Unveils Double Album 'The Tortured Poets Department: The Anthology' [Taylor Swift ra mắt album kép ‘The Tortured Poets Department: The Anthology’]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2024.
  307. ^ Cairns, Dan (ngày 5 tháng 3 năm 2009). “Swift rise of the anti-diva” [Swift nổi lên như một anti-diva]. The Australian (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  308. ^ a b Newman, Melinda (ngày 19 tháng 12 năm 2008). “Taylor Swift Sessions Interview” [Buổi phỏng vấn của Taylor Swift] (bằng tiếng Anh). AOL. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  309. ^ Bream, Jon (ngày 7 tháng 12 năm 2007). “Music: OMG! Taylor's senior year” [Âm nhạc: Ôi trời! Năm cuối cấp của Taylor]. Star Tribune (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  310. ^ “Swift starts world tour in Asia, pushes "Speak Now' in NY” [Swift bắt đầu chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới ở châu Á, quảng bá "Speak Now" ở New York]. Country Standard Time (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 10 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  311. ^ Spencer 2010, tr. 16–18.
  312. ^ Cụm nguồn cảm hứng:
  313. ^ Hansen 2010, tr. 13.
  314. ^ “Interview with Taylor Swift” [Phỏng vấn Taylor Swift]. Time (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  315. ^ a b Hansen 2010, tr. 10.
  316. ^ “Taylor Swift Style: Singer Won't Take Her Clothes Off, Wants People To Focus On Music” [Phong cách Taylor Swift: Ca sĩ không cởi quần áo, muốn mọi người tập trung vào âm nhạc]. HuffPost (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  317. ^ “InStyle meets country singing sensation Taylor Swift” [InStyle gặp gỡ ca sĩ nhạc đồng quê Taylor Swift]. InStyle UK (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  318. ^ “Joni Mitchell: 15 Great Artists Influenced by the 'Blue' Singer” [Joni Mitchell: 15 nghệ sĩ vĩ đại chịu ảnh hưởng của ca sĩ 'Blue']. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  319. ^ Jenkins, Sally (ngày 28 tháng 9 năm 2023). “You thought you knew the NFL. Now meet Taylor's Version” [Bạn nghĩ rằng bạn biết NFL. Bây giờ hãy gặp Phiên bản của Taylor.]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  320. ^ Bonaguro, Alison (ngày 8 tháng 11 năm 2012). “Offstage: Taylor Swift Inspired by Female Singer-Songwriters of the '90s” [Hậu trường: Taylor Swift lấy cảm hứng từ nữ ca sĩ-nhạc sĩ thập niên 90] (bằng tiếng Anh). CMT. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  321. ^ Frampton, Scott (tháng 12 năm 2010). “Taylor Swift's Favorite Music” [Âm nhạc yêu thích của Taylor Swift]. The Oprah Winfrey Show (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  322. ^ a b Widdicombe 2011, tr. 113.
  323. ^ Vena, Jocelyn (ngày 26 tháng 1 năm 2009). “Taylor Swift Blogs About 'Life-Changing' Cameo On 'CSI,' Britney Spears Poster” [Taylor Swift viết blog về vai khách mời 'Thay đổi cuộc sống' trên 'CSI,' Poster của Britney Spears] (bằng tiếng Anh). MTV. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  324. ^ “Taylor Swift Loves Hanson” [Taylor Swift yêu Hanson] (bằng tiếng Anh). Fox FM. ngày 9 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  325. ^ Sciarretto, Amy (ngày 1 tháng 4 năm 2011). “Taylor Swift Tweets Her Love of Dashboard Confessional” [Taylor Swift tweet tình yêu của cô ấy với Dashboard Confessional]. Taste of Country (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  326. ^ Bonaguro, Alison (ngày 10 tháng 8 năm 2011). “News: Offstage: Taylor Swift Covers Fall Out Boy” [Tin tức: Hậu trường: Taylor Swift cover Fall Out Boy] (bằng tiếng Anh). CMT. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  327. ^ a b c “See Taylor Swift's List of Music You Should Hear” (bằng tiếng Anh). Amazon. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  328. ^ Kaufman, Gil (ngày 4 tháng 4 năm 2016). “Taylor Swift Calls Justin Timberlake 'Hero' & 'All Time Fav' After iHeartRadio Music Awards” [Taylor Swift gọi Justin Timberlake là 'Người hùng' & 'Người được yêu thích nhất mọi thời đại' sau Giải thưởng Âm nhạc iHeartRadio]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  329. ^ Scaggs, Austin (ngày 18 tháng 8 năm 2011). “Q&A: Taylor Swift by Austin Scaggs” [Hỏi đáp: Taylor Swift của Austin Scaggs]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). tr. 28. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  330. ^ a b Mansfield, Brian (ngày 23 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift learns to 'Speak Now,' reveal her maturity” [Taylor Swift học 'Speak Now', bộc lộ sự trưởng thành của mình]. USA Today (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  331. ^ a b Block, Melissa (ngày 31 tháng 10 năm 2014). 'Anything That Connects': A Conversation With Taylor Swift” ['Bất cứ điều gì kết nối': Cuộc trò chuyện với Taylor Swift] (bằng tiếng Anh). NPR Music. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  332. ^ Eells, Josh (ngày 8 tháng 9 năm 2014). “The Reinvention of Taylor Swift” [Sự tái tạo của Taylor Swift]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh): 3. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  333. ^ Reid, Poppy (ngày 2 tháng 11 năm 2021). “The Curious Case of Keith Urban” [Vụ tò mò của Keith Urban]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  334. ^ Hiatt, Brian (ngày 18 tháng 6 năm 2019). “Taylor Swift: The Rolling Stone Interview” [Taylor Swift: Cuộc phỏng vấn của Rolling Stone]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  335. ^ Weatherby, Taylor (ngày 10 tháng 3 năm 2021). “Taylor Swift's Road to Folklore [Con đường đến với Folklore của Taylor Swift] (bằng tiếng Anh). Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  336. ^ a b c d Franssen 2022, tr. 90.
  337. ^ Savage, Mark (ngày 19 tháng 10 năm 2022). “Midnights: What we know about Taylor Swift's songwriting” [Midnights: Những gì chúng ta biết về sáng tác của Taylor Swift] (bằng tiếng Anh). BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  338. ^ Bruner, Raisa (ngày 24 tháng 8 năm 2020). “Let's Break Down Taylor Swift's Tender New Album Folklore” [Hãy cùng khám phá album mới dịu dàng Folklore của Taylor Swift]. Time (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  339. ^ Cooney, Samantha; Gutterman, Annabel; Chow, Andrew R. (ngày 11 tháng 11 năm 2021). “What's the Best Song on Red? Three Passionate Taylor Swift Fans Debate” [Bài hát hay nhất trên Red là gì? Cuộc tranh luận sôi nổi ở ba điểm của người hâm mộ Taylor Swift]. Time (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2024.
  340. ^ McNutt 2020, tr. 77, "However, this sole authorship ended with...".
  341. ^ Hughes 2017, tr. 206; Perone 2017, tr. 33.
  342. ^ “Taylor Swift: Album Guide” [Taylor Swift: Hướng dẫn Album]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  343. ^ “Women Who Rock: The 50 Greatest Albums of All Time: Taylor Swift, 'Speak Now' [Women Who Rock: 50 album hay nhất mọi thời đại: Taylor Swift, 'Speak Now']. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  344. ^ “Pop and Rock Listings July 22 – 28” [Danh sách nhạc Pop và Rock từ 22 đến 28 tháng 7]. The New York Times (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 7 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  345. ^ a b Caramanica, Jon; Coscarelli, Joe; Pareles, Jon; Sisario, Ben; Zoladz, Lindsay (ngày 9 tháng 4 năm 2021). “Taylor Swift Remade Fearless as Taylor's Version. Let's Discuss” [Taylor Swift làm lại Fearless thành Taylor's Version. Hãy thảo luận.]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  346. ^ Petridis, Alexis (ngày 6 tháng 3 năm 2009). “Taylor Swift: Fearless [Taylor Swift: Fearless]. The Guardian (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  347. ^ a b Jones, Sasha-Frere (ngày 11 tháng 11 năm 2008). “Prodigy” [Phi đồng]. The New Yorker (bằng tiếng Anh). Advance Publications. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  348. ^ Hughes 2017, tr. 206.
  349. ^ Malec, Jim (ngày 2 tháng 5 năm 2011). “Taylor Swift: The Garden In The Machine” [Taylor Swift: Khu vườn trong cỗ máy]. American Songwriter (bằng tiếng Anh): 5. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  350. ^ McNutt 2020, tr. 78, "The musical impact of these pop producers...".
  351. ^ Farley, Christopher John (ngày 22 tháng 10 năm 2022). “Is Taylor Swift Still a Country Artist? Let's Ask Taylor Swift” [Taylor Swift có còn là nghệ sĩ nhạc đồng quê không? Hãy hỏi Taylor Swift]. The Wall Street Journal (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2024.
  352. ^ a b c d Rosen, Jody (ngày 17 tháng 11 năm 2013). “Why Taylor Swift Is the Reigning Queen of Pop” [Tại sao Taylor Swift là nữ hoàng trị vì của nhạc pop]. Vulture (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  353. ^ Hare, Breeanna (ngày 9 tháng 9 năm 2014). “Taylor Swift changes her tune on '1989' [Taylor Swift thay đổi giai điệu trong ‘1989’] (bằng tiếng Anh). CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2024.
  354. ^ McNutt 2020, tr. 78, "The same was not true for 2014’s 1989...".
  355. ^ a b Levine, Nick (ngày 21 tháng 8 năm 2019). “Taylor Swift's Lover: The struggle to maintain superstardom” [Lover của Taylor Swift: Cuộc đấu tranh để giữ vững ngôi vị siêu sao] (bằng tiếng Anh). BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  356. ^ da Silva, Michelle (ngày 13 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Has Changed for the Worse on Reputation [Taylor Swift đã thay đổi theo chiều hướng xấu hơn trong Reputation]. Now (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  357. ^ Tucker, Ken (ngày 13 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift Pushes Further Into Electro-Pop With 'Reputation' [Taylor Swift tiến sâu hơn vào dòng nhạc electro-pop với 'Reputation'] (bằng tiếng Anh). NPR. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  358. ^ Moreland, Quinn (ngày 24 tháng 10 năm 2022). “Taylor Swift: Midnights” [Taylor Swift: Midnights]. Pitchfork (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  359. ^ Ryan, Elise (ngày 21 tháng 10 năm 2022). “Review: Taylor Swift gets dark, electric on 'Midnights' [Đánh giá: Taylor Swift trở nên tối tăm, sôi động trong 'Midnights']. Associated Press News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  360. ^ Winter, Velvet (ngày 12 tháng 11 năm 2022). “Like The Beatles, Madonna and Kylie Minogue before her, Taylor Swift is masterful at pivoting” [Giống như The Beatles, Madonna và Kylie Minogue trước cô, Taylor Swift rất thành thạo trong việc xoay chuyển tình thế.] (bằng tiếng Anh). ABC News. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  361. ^ McNutt 2020, tr. 78, "Although 1989 was generally well-received critically..."; Sloan 2021, tr. 17, "As Swift began to dominate the pop landscape..."; Stone 2023, tr. 60–61.
  362. ^ Sloan 2021, tr. 17, "Swift’s transition out of country may...".
  363. ^ Mylrea, Hannah (ngày 24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift – Folklore review: pop superstar undergoes an extraordinary indie-folk makeover” [Taylor Swift – Review Folklore: siêu sao nhạc pop lột xác phi thường theo phong cách indie-dân gian]. NME (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  364. ^ a b Hyden, Steven (ngày 10 tháng 3 năm 2021). “Taylor Swift, Indie-rock star? Long, Long ago, this might have felt strange” [Taylor Swift, ngôi sao nhạc Indie-rock? Đã lâu lắm rồi, điều này có thể khiến bạn cảm thấy kỳ lạ.]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  365. ^ Caramanica, Jon (ngày 26 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift, A Pop Star Done with Pop” [Taylor Swift, một ngôi sao nhạc pop kết thúc với nhạc Pop]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  366. ^ Harbron, Lucy (ngày 11 tháng 11 năm 2021). “Why Taylor Swift's 'Red' Is Her Turning Point” [Tại sao 'Red' của Taylor Swift là bước ngoặt của cô ấy]. Clash (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
  367. ^ a b Sheffield, Rob (ngày 26 tháng 10 năm 2010). “Speak Now” [peak Now]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  368. ^ Gerber, Brady (ngày 27 tháng 7 năm 2020). “The Story Behind Every Song on Taylor Swift's folklore [Câu chuyện đằng sau mỗi ca khúc trong folklore của Taylor Swift]. Vulture (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  369. ^ Willman, Chris (ngày 21 tháng 10 năm 2022). “Taylor Swift's Midnights Marks a Return to Electronic, Confessional Pop That's Worth Losing Sleep Over: Album Review” [Midnights của Taylor Swift đánh dấu sự trở lại với nhạc điện tử, nhạc pop chuyên nghiệp đáng để mất ngủ: Đánh giá album]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  370. ^ Fulford & Miller 2014, tr. 192, "Technically, Taylor qualifies as a...".
  371. ^ Shaffer, Claire (ngày 11 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift Deepens Her Goth-Folk Vision on the Excellent 'Evermore' [Taylor Swift đào sâu tầm nhìn Goth-Folk của mình về 'Evermore' xuất sắc]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  372. ^ a b “The 200 Greatest Singers of All Time” [200 ca sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 1 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  373. ^ Schillaci, Sophie A. (ngày 25 tháng 8 năm 2011). “Taylor Swift at Staples Center: Concert Review” [Taylor Swift tại trung tâm Staples: Đánh giá buổi hòa nhạc]. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  374. ^ Powers, Ann (ngày 25 tháng 10 năm 2010). “Album review: Taylor Swift's Speak Now [Đánh giá album: Speak Now của Taylor Swift]. Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  375. ^ Provenzano 2018, tr. 173.
  376. ^ Serjeant, Jill (ngày 17 tháng 11 năm 2009). “Taylor Swift – "Fearless" or tone-less?” [Taylor Swift – “Fearless” hay lệch mất tông vậy?] (bằng tiếng Anh). Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  377. ^ Tucker, Ken (ngày 12 tháng 11 năm 2009). “CMA Awards best and worst, starring Taylor Swift, the ghost of Kanye West, and Carrie Underwood's purple sequined hot-pants” [Giải thưởng CMA hay nhất và tệ nhất, với sự tham gia của Taylor Swift, hồn ma của Kanye West và chiếc quần dài đính sequin màu tím của Carrie Underwood]. Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  378. ^ Nesvig, Kara (ngày 7 tháng 7 năm 2023). “Taylor Swift Dealt With Singing Criticism by Taking Voice Lessons, She Says in "Speak Now" Letter” [Taylor Swift giải quyết những lời chỉ trích về ca hát bằng cách tham gia các bài học về giọng nói, cô ấy nói trong lá thư "Speak Now"]. Teen Vogue (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  379. ^ Roland, Tom (ngày 15 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift: The Billboard Cover Story” [Taylor Swift: Câu chuyện trang bìa Billboard]. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  380. ^ Provenzano 2018, tr. 173–174.
  381. ^ Provenzano 2018, tr. 174.
  382. ^ Barker, Andrew (ngày 27 tháng 11 năm 2020). Folklore: The Long Pond Studio Sessions Review” [Folklore: The Long Pond Studio Sessions]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  383. ^ Lipshutz, Jason (ngày 18 tháng 3 năm 2023). “The 13 Best Moments From Taylor Swift's Eras Tour Kickoff” [13 khoảnh khắc đẹp nhất trong buổi khởi động chuyến lưu diễn The Eras Tour của Taylor Swift]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  384. ^ Willman, Chris (ngày 10 tháng 11 năm 2017). “Album Review: Taylor Swift's 'Reputation' [Đánh giá album: 'Reputation' của Taylor Swift]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  385. ^ Cox, Jamieson (ngày 13 tháng 11 năm 2017). “Taylor Swift: Reputation” [Taylor Swift: Reputation]. Pitchfork (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  386. ^ Wilson, Carl (ngày 13 tháng 11 năm 2017). “On Reputation, the "Old Taylor" Is Dead, but the New One Isn't Quite Ready to Come to the Phone” [Về Reputation, "Taylor cũ" đã chết, nhưng Taylor mới vẫn chưa sẵn sàng đến nghe điện thoại]. Slate (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  387. ^ DeCaro, Alessandro (ngày 19 tháng 10 năm 2022). “10 best Taylor Swift scene covers” [10 cảnh cover hay nhất của Taylor Swift]. Alternative Press (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  388. ^ Kornhaber, Spencer (ngày 28 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Is No Longer Living in the Present” [Taylor Swift không còn sống ở hiện tại nữa]. The Atlantic (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  389. ^ Brehian, Tom (ngày 24 tháng 7 năm 2020). “Review: Taylor Swift's 'folklore' Is An Indie Record Unconcerned With Being Cool” [Đánh giá: 'folklore' của Taylor Swift là một bản thu âm Indie không quan tâm đến việc trở nên ngầu]. Stereogum (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  390. ^ Willman, Chris (ngày 11 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift Has Her Second Great Album of 2020 With 'Evermore': Album Review” [Taylor Swift có album tuyệt vời thứ hai trong năm 2020 với 'Evermore': Đánh giá album]. Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  391. ^ Sodomsky, Sam (ngày 15 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift: evermore” [Taylor Swift: evermore]. Pitchfork (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  392. ^ McCormick, Neil (ngày 9 tháng 4 năm 2021). “Taylor Swift copies her younger self – and she sounds even more Fearless today” [Taylor Swift sao chép hình ảnh thời trẻ của mình - và ngày nay cô ấy thậm chí còn có vẻ can đảm hơn]. The Daily Telegraph (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  393. ^ Gajjar, Saloni (ngày 9 tháng 4 năm 2021). “Taylor Swift forges ahead with a dreamy throwback in Fearless (Taylor's Version)” [Taylor Swift tiến lên phía trước với màn lội ngược dòng đầy mộng mơ trong Fearless (Phiên bản của Taylor)]. The A.V. Club (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  394. ^ Bernstein, Jonathan (ngày 9 tháng 4 năm 2021). “Taylor Swift Carefully Reimagines Her Past on 'Fearless: Taylor's Version' [Taylor Swift cẩn thận tưởng tượng lại quá khứ của mình trong 'Fearless: Taylor's Version']. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  395. ^ Solomon, Kate (ngày 12 tháng 11 năm 2021). “Taylor Swift, Red (Taylor's Version), Review: How Brilliant She Is When Her Heart Is in Tatters” [Taylor Swift, Red (Taylor's Version), Đánh giá: Cô ấy thật rực rỡ biết bao khi trái tim tan nát]. i (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  396. ^ Snapes, Laura (ngày 24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift: Folklore review – bombastic pop makes way for emotional acuity” [Taylor Swift: Đánh giá Folklore – nhạc pop khoa trương nhường chỗ cho cảm xúc nhạy bén]. The Guardian (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  397. ^ Snapes, Laura (ngày 12 tháng 11 năm 2021). “Taylor Swift: Red (Taylor's Version) Review – Getting Back Together with a Classic” [Taylor Swift: Đánh giá Red (Taylor's Version) - Trở lại cùng với một tác phẩm kinh điển]. The Guardian (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  398. ^ Kelly, Fred (ngày 21 tháng 10 năm 2022). “Taylor Swift's Midnights: what the critics are saying” [Midnights của Taylor Swift: những gì các nhà phê bình đang nói]. The Week (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  399. ^ a b Petrusich, Amanda (ngày 12 tháng 6 năm 2023). “The Startling Intimacy of Taylor Swift's Eras Tour” [Sự thân mật đáng kinh ngạc trong chuyến lưu diễn The Eras Tour của Taylor Swift]. The New Yorker (bằng tiếng Anh). Advance Publications. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  400. ^ a b “Cover Preview: Taylor Swift Fights Back About Her Love Life, the Hyannis Port House—and Has Words for Tina Fey and Amy Poehler” [Xem trước trang bìa: Taylor Swift đấu tranh lại về cuộc sống tình yêu của cô ấy, Ngôi nhà ở cảng Hyannis — và có lời dành cho Tina Fey và Amy Poehler]. Vanity Fair (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 3 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  401. ^ a b “Taylor Swift's songwriting: how the star's music has changed, for better or worse” [Sáng tác của Taylor Swift: âm nhạc của ngôi sao đã thay đổi như thế nào, tốt hơn hay tệ hơn] (bằng tiếng Anh). CBC Music. ngày 22 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  402. ^ Emily, Lee (ngày 5 tháng 11 năm 2021). “Here Are Taylor Swift's Best Bridges On 'Red' Ranked” [Dưới đây là những đoạn bridge hay nhất của Taylor Swift được xếp hạng trên 'Red'] (bằng tiếng Anh). iHeartRadio. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  403. ^ Eggertsen, Chris (ngày 20 tháng 9 năm 2022). “Taylor Swift's Iconic Songwriting Credits Amplified By Spotify With Dedicated Page” [Ghi công sáng tác mang tính biểu tượng của Taylor Swift được khuếch đại bởi Spotify bằng trang chuyên dụng]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  404. ^ a b Bate, Jonathan (ngày 10 tháng 4 năm 2023). “Why Taylor Swift is a literary giant — by a Shakespeare professor” [Tại sao Taylor Swift là một người khổng lồ về văn học - bởi một giáo sư Shakespeare]. The Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  405. ^ Pazzanese, Christina (ngày 2 tháng 8 năm 2023). “So what exactly makes Taylor Swift so great?” [Vậy chính xác thì điều gì đã khiến Taylor Swift trở nên tuyệt vời như vậy?]. Harvard Gazette (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  406. ^ Murphy, Sam (ngày 10 tháng 11 năm 2021). “How 'Red' Became The Most Pivotal Record In Taylor Swift's Career” [Làm thế nào 'Red' trở thành bản thu âm quan trọng nhất trong sự nghiệp của Taylor Swift] (bằng tiếng Anh). Junkee. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  407. ^ a b Siroky, Mary (ngày 9 tháng 11 năm 2021). “Every Taylor Swift Album Ranked from Worst to Best” [Mỗi album của Taylor Swift được xếp hạng từ tệ nhất đến hay nhất]. Consequence (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  408. ^ Bruner, Raisa (ngày 24 tháng 5 năm 2021). “How Olivia Rodrigo Become America's Biggest New Pop Star” [Làm thế nào Olivia Rodrigo trở thành ngôi sao nhạc pop mới lớn nhất nước Mỹ]. Time (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  409. ^ Mulvey, John (ngày 16 tháng 9 năm 2023). “Arctic Monkeys, Taylor Swift, Kendrick Lamar, Lana Del Rey And The 30 Artists Who Will Shape The Next 30 Years” [Arctic Monkeys, Taylor Swift, Kendrick Lamar, Lana Del Rey và 30 nghệ sĩ sẽ định hình 30 năm tới]. Mojo (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  410. ^ Widdicombe 2011, tr. 114.
  411. ^ Hansen 2010, tr. 5, 26.
  412. ^ Farley, Christopher John (ngày 22 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift's Solo Act” [Tiết mục solo của Taylor Swift]. The Wall Street Journal (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  413. ^ Jo Sales, Nancy; Diehl, Jessica (tháng 4 năm 2013). “Taylor Swift's Telltale Heart” [Trái tim kể chuyện của Taylor Swift]. Vanity Fair (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  414. ^ a b Daly, Rhian (ngày 13 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift says her diaristic songwriting style was 'unsustainable' for her future” [Taylor Swift cho rằng phong cách sáng tác theo lối viết nhật ký của cô là 'không bền vững' cho tương lai của cô]. NME (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  415. ^ Gallo, Phil (ngày 22 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift's Red: The Billboard Cover Story” [Album Red của Taylor Swift: Câu chuyện trang bìa Billboard]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  416. ^ Caramanica, Jon (ngày 20 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift Is Angry, Darn It” [Taylor Swift đang tức giận, chết tiệt]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  417. ^ a b Kelly, James (ngày 26 tháng 8 năm 2009). “Taylor Swift: Writing her own songs — and rules” [Taylor Swift: Viết bài hát của riêng mình - và các quy tắc]. The Atlanta Journal-Constitution (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  418. ^ Lansky, Sam (ngày 8 tháng 11 năm 2017). “Why Taylor Swift's Red Is Her Best Album” [Tại sao Red của Taylor Swift là album hay nhất của cô ấy]. Billboard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  419. ^ Hiatt, Brian (ngày 30 tháng 9 năm 2019). “9 Taylor Swift Moments That Didn't Fit in Our Cover Story” [9 khoảnh khắc của Taylor Swift không phù hợp với câu chuyện trang bìa của chúng tôi]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  420. ^ Marquina, Sierra (ngày 27 tháng 8 năm 2019). “Taylor Swift Talks Newfound 'Freedom,' 'Lover' Tour Plans and So Much More” [Taylor Swift nói về kế hoạch lưu diễn 'Tự do', 'Lover' mới được tìm thấy và nhiều hơn thế nữa]. On Air with Ryan Seacrest (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  421. ^ Yuan, Jada (ngày 30 tháng 12 năm 2009). “Microwaving a tragedy: The marriage of romance and romanticism in '00s pop” [Lò vi sóng một bi kịch: Cuộc hôn nhân lãng mạn và chủ nghĩa lãng mạn trong nhạc pop thập niên 00]. Las Vegas Weekly (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  422. ^ Rotman, Natalie (ngày 9 tháng 1 năm 2009). “Colbie Caillat has 'Breakthrough' with sophomore CD” [Colbie Caillat 'đột phá' với CD thứ hai]. Reading Eagle (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  423. ^ Knibbs, Kate (ngày 21 tháng 8 năm 2019). “Ten Years of Taylor Swift: How the Pop Star Went From Sweetheart to Snake (and Back Again?)” [Mười năm của Taylor Swift: Ngôi sao nhạc Pop từ cục cưng trở thành rắn như thế nào (và quay trở lại?)]. The Ringer (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  424. ^ a b Widdicombe 2011, tr. 106.
  425. ^ Stubbs, Dan (ngày 9 tháng 10 năm 2015). “Taylor Swift: Power, Fame And The Future – The Full NME Cover Interview” [Taylor Swift: Quyền lực, Danh tiếng và Tương lai – Toàn bộ bài phỏng vấn trên trang bìa NME]. NME (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  426. ^ Weber, Theon (ngày 3 tháng 11 năm 2010). “The Iceberg Songs of Taylor Swift” [Bài hát tảng băng trôi của Taylor Swift]. The Village Voice (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  427. ^ Beck, Julia (ngày 27 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift Is So Much More Fun Now That She's Jaded” [Taylor Swift vui hơn rất nhiều khi cô ấy mệt mỏi]. The Atlantic (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  428. ^ Willman, Chris (ngày 10 tháng 10 năm 2010). “Princess Crossover” [Công chúa Crossover]. New York (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  429. ^ Rosen, Jody (ngày 13 tháng 11 năm 2008). “Fearless” [Fearless]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  430. ^ a b Powers, Ann (ngày 30 tháng 10 năm 2014). “The Many New Voices of Taylor Swift” [Nhiều giọng hát nói mới của Taylor Swift]. NPR (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  431. ^ Stoeffel, Kat (ngày 16 tháng 11 năm 2012). “Stop Asking Taylor Swift to Apologize for Writing Songs About Ex-Boyfriends – The Cut” [Ngừng yêu cầu Taylor Swift xin lỗi vì viết bài hát về bạn trai cũ – The Cut]. New York (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  432. ^ Raven, Robin (ngày 16 tháng 3 năm 2022). “10 Artists Who Have Stood Up For Women In Music: Taylor Swift, Lizzo & More” [10 nghệ sĩ đại diện cho phụ nữ trong âm nhạc: Taylor Swift, Lizzo, v.v.] (bằng tiếng Anh). Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  433. ^ Dominus, Susan (ngày 16 tháng 11 năm 2012). “The Many Insecurities of Taylor Swift” [Nhiều bất an của Taylor Swift]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  434. ^ a b Doyle, Patrick (ngày 13 tháng 11 năm 2020). “Musicians on Musicians: Paul McCartney and Taylor Swift” [Nhạc sĩ trọng Nhạc sĩ: Paul McCartney và Taylor Swift]. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024. I always thought, ‘That’ll never track on pop radio,’ but when I was making ‘Folklore,’ I thought, ‘Nothing makes sense anymore,
  435. ^ Olivier, Bobby (ngày 11 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift's 'Evermore' Is an Undeniable Folk-Pop Masterpiece” ['Evermore' của Taylor Swift là một kiệt tác nhạc dân gian-pop không thể phủ nhận]. Spin (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  436. ^ Shutler, Ali (ngày 9 tháng 10 năm 2022). “Taylor Swift organises her lyrics into three 'dorky' pen-themed categories” [Taylor Swift sắp xếp lời bài hát của mình thành ba loại theo chủ đề bút 'ngớ ngẩn']. NME (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  437. ^ Browne, Erin (ngày 21 tháng 10 năm 2022). “All of Taylor Swift's Famously Devastating Track 5's, Ranked” [Tất cả ca khúc thứ 5 trong album nổi tiếng có sức tàn phá cảm xúc khủng khiếp của Taylor Swift, được xếp hạng]. Vulture (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  438. ^ “NMPA to Honor Taylor Swift with Songwriter Icon Award Among Other 2021 Annual Meeting Honorees” [NMPA vinh danh Taylor Swift với Giải thưởng Biểu tượng Nhạc sĩ sáng tác bài hát trong số những người được vinh danh tại Hội nghị thường niên năm 2021] (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Nhà xuất bản Âm nhạc Quốc gia. ngày 24 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  439. ^ Linker, Damon (ngày 26 tháng 11 năm 2021). “Taylor Swift, Phoebe Bridgers, and Rihanna: How women took over songwriting” [Taylor Swift, Phoebe Bridgers và Rihanna: Phụ nữ đảm nhận vai trò sáng tác như thế nào]. The Week (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
  440. ^ Greco, Patti (ngày 13 tháng 11 năm 2017).