Taylor Swift

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Taylor Swift
Taylor Swift Red Tour 2, 2013.jpg
Swift biểu diễn trong The Red Tour tại thành phố St. Louis, Missouri vào ngày 25 tháng 3 năm 2013
Sinh Taylor Alison Swift
13 tháng 12, 1989 (26 tuổi)
Reading, Pennsylvania, Hoa Kỳ[1]
Sự nghiệp âm nhạc
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ tự sáng tác nhạc
  • diễn viên
  • người theo chủ nghĩa bác ái
Thể loại
Nhạc cụ
Năm hoạt động 2004-nay
Hãng đĩa Big Machine Records
Chữ ký Taylor Swift Signature.png
Website
taylorswift.com

Taylor Alison Swift (sinh ngày 13 tháng 12 năm 1989) là nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ.[5][6][7] Sinh trưởng tại Wyomissing, Pennsylvania, cô dời đến Nashville, Tennessee năm 14 tuổi để theo đuổi sự nghiệp âm nhạc đồng quê. Cô ký kết một hợp đồng cùng hãng thu âm độc lập Big Machine Records và trở thành nhạc sĩ trẻ tuổi nhất từng hợp tác với Sony/ATV Music Publishing. Vào năm 2006, cô phát hành album cùng tên đầu tay, với đĩa đơn "Our Song" giúp cô là nghệ sĩ tự sáng tác trẻ tuổi nhất có bài hát đạt quán quân bảng xếp hạng Hot Country Songs.

Album phòng thu thứ 2 của Swift, Fearless (2008), mang về thành công cùng các đĩa đơn "Love Story" và "You Belong with Me", trở thành album bán chạy nhất năm 2009 tại Hoa Kỳ. Fearless giành 4 giải Grammy và giúp Swift là nghệ sĩ trẻ nhất đoạt giải "Album của năm". 2 album phòng thu kế tiếp, Speak Now (2010) và Red (2012), đều chạm mốc 1 triệu bản ngay trong tuần đầu phát hành tại Hoa Kỳ. Đĩa đơn "Mean" từ Speak Now giành 2 giải Grammy, trong khi "We Are Never Ever Getting Back Together" và "I Knew You Were Trouble" từ Red đạt thành công thương mại trên toàn cầu. Album phòng thu thứ 5, 1989 (2015) mang thể loại pop chủ đạo, là album bán chạy nhất ở tuần lễ ra mắt trong suốt 12 năm, giúp Swift trở thành nghệ sĩ đầu tiên có 3 album bán hơn 1 triệu bản trong tuần đầu và lần thứ 2 đoạt giải Grammy cho "Album của năm". Các đĩa đơn "Shake It Off", "Blank Space" và "Bad Blood" đều dẫn đầu Billboard Hot 100.

Swift nổi tiếng vì những bài hát tường thuật lại những trải nghiệm cá nhân. Ở vai trò nhạc sĩ, cô từng được vinh danh bởi Hiệp hội tác giả NashvilleĐại sảnh Danh vọng Sáng tác. Các thành tựu khác của Swift bao gồm 10 giải Grammy, 1 giải Emmy, 22 giải thưởng Âm nhạc Billboard, 11 giải thưởng Hiệp hội nhạc đồng quê, 8 giải Academy of Country Music Awards, và 1 giải Brit. Cô là một trong những nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất mọi thời đại, với hơn 40 triệu album—bao gồm 27.1 triệu bản tại Hoa Kỳ—và 130 triệu đĩa đơn kỹ thuật số đã được tiêu thụ. Swift cũng góp mặt trong những bộ phim như Valentine's Day (2010) và The Giver (2014). Vào năm 2015, cô là nhân vật trẻ nhất xuất hiện trong danh sách "100 người phụ nữ quyền lực nhất" của tạp chí Forbes, đứng ở vị trí thứ 64.[8]

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1989–2003: Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Taylor Swift sinh ngày 13 tháng 12 năm 1989 tại Reading, Pennsylvania.[9][10][11] Tên của cô được đặt theo ca sĩ James Taylor.[12] Cha cô là Scott Kingsley Swift, làm nghề môi giới chứng khoán tại ngân hàng Merrill Lynch.[13] Ông lớn lên tại Pennsylvania và là người nối dõi 3 đời của chủ tịch ngân hàng.[1][14] Mẹ cô là Andrea Gardner (Finlay) Swift,[15][16] làm nội trợ, từng là giám đốc tài chính cho quỹ hỗ trợ.[17] Andrea sinh ra và lớn lên tại Singapore sau đó chuyển tới Texas; ông ngoại của Swift từng là kỹ sư về giàn khoan dầu mỏ trải khắp Đông Nam Á.[14] Swift còn có một người em trai tên là Austin.[18][19] Swift có một thời gian sống tại đồn điền cây thông Giáng sinh ở Cumru Township, Pennsylvania.[20][21] Cô bắt đầu đi nhà trẻ tại Trường Alvernia Montessori, do những nữ tu sĩ dòng Fran-xít điều hành,[22] sau đó vào học Trường tư Wyndcroft.[23] Cả gia đình cô sau đó chuyển đến khu ngoại ô Wyomissing, Pennsylvania,[24] nơi cô theo học trường Tiểu học West Reading và Trung học Wyomissing Area.[25] Khi tới nghỉ mát tại biệt thự của gia đình ở bến cảng Stone, New Jersey, Taylor đã miêu tả đây là "nơi những kí ức đẹp nhất về tuổi thơ được vun đắp".[26]

Năm lên 9, Swift trở nên thích thú trước sân khấu kịch nghệ và trình bày trong 4 chương trình của Học viện sân khấu Berks Youth.[27] Cô cũng thường xuyên đến Broadway để tham gia lớp luyện giọng và diễn xuất.[28] Swift sau đó bộc lộ đam mê đến dòng nhạc đồng quê—những bài hát của Shania Twain cứ khiến cô "muốn chạy nhảy quanh khu phố 4 lần và mơ mộng về mọi thứ".[29] Cô dành thời gian cuối tuần trình diễn tại hội chợ địa phương, quán cà phê, cuộc thi karaoke, câu lạc bộ làm vườn, họp mặt Hướng đạo sinh và các sự kiện thể thao.[14][17][30] Năm 11 tuổi, sau nhiều lần thất bại,[31] Swift giành chiến thắng tại cuộc thi tìm kiếm tài năng địa phương và được tham gia mở màn cho Charlie Daniels ở sân khấu Strausstown.[32] Khi 14 tuổi, cô viết một quyển tiểu thuyết mang tựa đề A Girl Named Girl, nhưng không bao giờ phát hành.[33] Sau khi xem một đoạn tư liệu về Faith Hill, Swift quyết định đến Nashville, Tennessee để theo đuổi sự nghiệp âm nhạc.[34] Năm 11 tuổi, cô cùng mẹ đến Nashville để đệ trình bản thu thử đến các hãng thu âm, bao gồm các phiên bản karaoke trình bày lại của Dolly PartonDixie Chicks.[35] Sau khi bị nhiều nơi từ chối, cô nhận ra "mọi người ở đó đều có mục tiêu giống như tôi. Thế nên, tôi tự hỏi chính mình, tôi cần phải nghĩ ra một hướng đi khác biệt".[36]

Khi Swift 12 tuổi, một người thợ sửa máy tính đã dạy Swift chơi 3 hợp âm đàn guitar, khiến cô sáng tác nên bài hát đầu tiên "Lucky You".[37][38] Trước đó, cô giành chiến thắng tại cuộc thi thơ toàn quốc với bài thơ "Monster in My Closet", nhưng sau đó bắt đầu tập trung sáng tác nhạc.[39] Vào năm 2003, Swift và cha mẹ cô bắt đầu hợp tác cùng nhà quản lý âm nhạc Dan Dymtrow. Với sự hỗ trợ của Dymtrow, Swift làm người mẫu cho hãng Abercrombie & Fitch trong chiến dịch "Rising Stars", có một bài hát gốc xuất hiện trong CD tổng hợp của nhãn hàng Maybelline và tham gia nhiều cuộc họp cùng hãng thu âm lớn.[40] Sau khi trình bày nhiều bài hát tự sáng tác cho RCA Records, hãng quyết định giữ cô trong một thỏa thuận phát triển nghệ sỹ và Swift bắt đầu thực hiện nhiều chuyến đi đến Nashville cùng mẹ.[41] Nhằm giúp Swift thâm nhập vào ngành âm nhạc đồng quê, cha cô chuyển về văn phòng tại Nashville khi cô 14 tuổi và gia đình cô định cư tại một căn nhà bên hồ ở Hendersonville, Tennessee.[1][42] Tại Tennessee, Swift nhập học tại Trường trung học Hendersonville trong hai năm đầu.[43] Sau đó, cô chuyển về Aaron Academy, một ngôi trường Công giáo cho phép học tại nhà, để cùng lúc dàn xếp lịch lưu diễn. Cô đạt điểm trung bình 4.0, hoàn tất 2 năm học cuối cấp trong vòng 12 tháng.[44][45]

2004–08: Khởi nghiệp và Taylor Swift[sửa | sửa mã nguồn]

Swift trình diễn tại Maverick Saloon & Grill ở Santa Maria, California vào năm 2006

Swift dời đến Nashville, Tennessee năm 14 tuổi[46] và ký kết một hợp đồng phát triển nghệ sỹ cùng RCA Records.[47] Swift tiếp tục làm việc cùng những tác giả nhiều kinh nghiệm từ Music Row như Troy Verges, Brett Beavers, Brett James, Mac McAnallyThe Warren Brothers.[48][49] Sau cùng, cô cộng tác lâu dài cùng Liz Rose. Swift thấy Rose trình diễn tại một sự kiện sáng tác của RCA và đưa ra mong muốn hợp tác.[50] Cả hai gặp gỡ trong một buổi luyện sáng tác kéo dài 2 tiếng vào mỗi buổi chiều thứ Ba sau giờ học.[51] Rose chia sẻ một vài buổi tập luyện "là điều dễ dàng nhất tôi từng thực hiện. Tôi chỉ là người biên tập lại cho cô ấy. Cô bé viết về những gì diễn ra ở trường mỗi ngày. Cô có một tầm nhìn sáng sủa về những gì mình cố truyền đạt. Và cô ấy nghĩ ra những đoạn hook tuyệt vời."[52] Swift cũng bắt đầu thu âm các bản thu thử cùng nhà sản xuất Nathan Chapman.[50]

Sau khi trình diễn tại Songwriter's Circle của hãng BMIThe Bitter End, New York,[49][53] Swift trở thành nhạc sỹ biên chế chính thức trẻ nhất của Sony/ATV Music Publishing.[54] Sau khi rời khỏi hãng RCA Records năm 14 tuổi, Swift lo sợ không có hãng nào muốn cô thu âm bài hát của những tác giả khác và chờ đến khi 18 tuổi để phát hành một album, nhưng cô cảm thấy đã sẵn sàng cho sự nghiệp của riêng mình.[31][55][56] Swift chia sẻ: "Tôi cảm thấy mình như sắp hết thời gian. Tôi muốn ghi dấu lại 3 năm trong cuộc đời vào một album trong lúc chúng vẫn còn thể hiện những gì tôi đã trải qua."[56] Cô cũng tan rã với quản lý Dan Dymtrow, người sau đó đâm đơn kiện Swift và gia đình cô. Vào năm 2010, một thẩm phán bác bỏ 6 khiếu nại pháp lý của Dymtrow và vụ việc được giải quyết ngoài phiên tòa.[1][40][57]

Tại một đêm diễn tại Bluebird Cafe, Nashville vào năm 2005, Swift thu hút được sự chú ý của Scott Borchetta, giám đốc hãng DreamWorks Records và là người chuẩn bị thành lập hãng thu âm độc lập Big Machine Records. Cô trở thành một trong những người đầu tiên ký kết cùng hãng, trong khi cha cô mua lại 3% cổ phần trong công ty còn non trẻ này, với giá tiền ước tính 120.000 đô-la Mỹ.[58][59] Cô được giới thiệu đến ngành công nghiệp âm nhạc đồng quê như là một nghệ sĩ hợp tác tại CMA Music Festival.[60] Swift bắt đầu thực hiện album cùng tên đầu tay không lâu sau khi ký kết hợp đồng. Cô thuyết phục hãng Big Machine thuê lại nhà sản xuất các bản thu thử của cô, Nathan Chapman, vì Swift cảm thấy cả hai làm việc một cách "ăn ý".[31] Swift tự sáng tác 3 bài hát trong album, trong đó có 2 đĩa đơn, và đồng sáng tác 8 bài hát còn lại cùng Rose, Robert Ellis Orrall, Brian Maher và Angelo Petraglia.[61] Taylor Swift ra mắt ngày 24 tháng 10 năm 2006, được mô tả là "sự hòa trộn giữa nhạc cụ trad-country và guitar rock hoạt bát".[62] Các đánh giá đến album hầu hết là tích cực;[62][63][64][65][66][67] Jon Caramanica từ The New York Times mô tả album là "một kiệt tác nhỏ bé của dòng nhạc đồng quê mang hơi hướng pop", cùng chất giọng "rắn chắc và truyền cảm" của Swift.[68]

Swift trình diễn tại trụ sở Yahoo!Sunnyvale, California vào năm 2007

Hãng Big Machine Records vẫn còn trong giai đoạn hình thành trong lúc phát hành đĩa đơn đầu tay của Swift, "Tim McGraw" vào tháng 6 năm 2006.[69] Cô dành hầu hết năm 2006 để quảng bá Taylor Swift tại các trạm phát thanh và sau này phát biểu rằng "Hầu hết nghệ sĩ quảng bá phát thanh trong 6 tuần. Còn tôi thì kéo dài đến 6 tháng."[31] Cô xuất hiện trong nhiều chương trình truyền hình, bao gồm Grand Ole Opry,[70] Good Morning America[71]TRL.[72] Swift sử dụng hệ thống mạng xã hội Myspace để gầy dựng cộng đồng người hâm mộ.[73] Vào thời điểm trên, đây được xem là "cuộc cách mạng trong âm nhạc đồng quê".[74] Borchetta cho rằng quyết định hợp tác cùng một ca sĩ kiêm sáng tác nhạc mới 16 tuổi ban đầu gây nhiều sự tò mò từ giới thu âm, nhưng Swift lại bước chân vào một thị trường chưa từng được khai thác trước đây: những cô gái thiếu niên thích nghe nhạc đồng quê.[1][74] Theo sau "Tim McGraw", 4 đĩa đơn khác cũng được phát hành trong năm 2007 và 2008: "Teardrops on My Guitar", "Our Song", "Picture to Burn" và "Should've Said No". Tất cả đều đạt thành công trên bảng xếp hạng Billboard Hot Country Songs, với "Our Song" và "Should've Said No" giành được ngôi quán quân. "Our Song" giúp Swift trở thành người trẻ tuổi nhất có bài hát tự sáng tác vươn đến vị trí số 1 tại bảng xếp hạng này.[75] "Teardrops on My Guitar" trở thành bài hát pop ăn khách; vươn đến vị trí thứ 13 trên Billboard Hot 100.[76] Taylor Swift ra mắt với doanh số 39.000 bản[77] và chạm mốc 5.5 triệu bản, tính đến tháng 3 năm 2011.[78] Swift cũng phát hành một album Giáng sinh, Sounds of the Season: The Taylor Swift Holiday Collection vào tháng 10 năm 2007 và EP Beautiful Eyes vào tháng 7 năm 2008.[79][80]

Swift tham gia lưu diễn độc quyền quảng bá cho Taylor Swift. Ngoài các sáng tác gốc, cô còn trình diễn nhiều bài hát của Beyoncé, Rihanna, John Waite, Lynyrd SkynyrdEminem.[81][82][83] Cô tổ chức buổi gặp mặt cùng người hâm mộ trước và sau đêm diễn—khiến chương trình có thể kéo dài đến 4 tiếng đồng hồ.[84] Ngoài ra, Swift còn mở màn cho nhiều chuyến lưu diễn của những nghệ sĩ đồng quê khác. Vào cuối năm 2006, cô mở màn cho 9 buổi diễn của nhóm Rascal Flatts trong Me & My Gang Tour, sau khi Eric Church bị sa thải.[85][86] Vào năm 2007, cô mở màn cho chuyến lưu diễn của George Strait,[87] nhiều buổi diễn khác của Kenny Chesney trong Flip-Flop Summer Tour,[88] cùng chương trình Bonfires & Amplifiers Tour của Brad Paisley[89] và các đêm diễn trong Soul2Soul II Tour của Tim McGraw và Hill.[90] Swift còn mở màn cho Rascal Flatts trong Still Feels Good Tour vào năm 2008.[91] Vào năm 2007, Swift và Alan Jackson cùng nhận giải Hiệp hội nhạc sĩ Nashville "Tác giả/Nghệ sĩ của năm", giúp Swift trở thành người trẻ tuổi nhất giành được danh hiệu này.[92] Cô cũng giành giải Horizon Award cho "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất" bởi Hiệp hội Âm nhạc đồng quê,[93] giải "Ca sĩ nữ mới hàng đầu" của Academy of Country Music Awards[94] và "Nữ nghệ sĩ đồng quê được yêu thích" tại giải thưởng Âm nhạc Mỹ.[95] Năm 2008, cô còn được đề cử giải Grammy cho "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất" nhưng để lỡ vào tay Amy Winehouse.[96]

2008–10: Fearless[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu thứ hai của Swift, Fearless phát hành ngày 11 tháng 11 năm 2008. Swift tự sáng tác 7 bài hát trong album và đồng sáng tác 6 bản nhạc còn lại cùng Rose, John Rich, Colbie CaillatHillary Lindsey.[97] Cô đồng sản xuất album này cùng Nathan Chapman.[97] Về nhạc lý, album mang "những đoạn guitar ầm vang và điệp khúc nồng nhiệt" với "đôi chút đàn vĩ cầm và banjo xuất hiện trong bản phối".[98] Các nhà phê bình âm nhạc đánh giá album một cách tích cực,[98][99][100][101] với nhận xét cho rằng album mang "nét thông thái và toàn diện siêu phàm".[102] Swift, người sở hữu công ty quản lý riêng do Robert Allen điều hành,[103][104] tăng cường quảng bá cho Fearless trong dịp phát hành. The Ellen DeGeneres Show dành ra một tập để giới thiệu về album này và Swift còn xuất hiện tại nhiều chương trình đàm thoại khác.[74][105] Cô trò chuyện cùng người hâm mộ thông qua các hệ thống mạng xã hội như Twitter và trang video blog cá nhân, trong khi chủ trì một chương trình trước lễ trao giải Video âm nhạc của MTV 2008.[74] Đĩa đơn đầu tiên từ album, "Love Story" phát hành vào tháng 9 năm 2008, trở thành một trong những đĩa đơn nhạc đồng quê bán chạy nhất mọi thời đại[106] và vươn đến vị trí thứ 4 trên Billboard Hot 100.[107] Có 4 đĩa đơn khác được ra mắt trong năm 2008 và 2009: "White Horse", "You Belong with Me", "Fifteen" và "Fearless". "You Belong with Me" là đĩa đơn xếp hạng cao nhất của album này, chạm đến vị trí thứ 2 trên Billboard Hot 100.[108] Fearless đạt vị trí số 1 trên Billboard 200 với 592.304 bản, trở thành album bán chạy nhất năm 2009[109] và đến nay đã vượt 8.6 triệu bản trên toàn cầu.[110]

Swift tại buổi công chiếu Hannah Montana: The Movie vào năm 2009

Swift thực hiện chuyến lưu diễn đầu tiên mang tên Fearless Tour để quảng bá cho album này. Với lịch trình kéo dài 105 ngày, Swift trình diễn tại các quốc gia Bắc Mỹ, châu Âu, Úc và châu Á.[111][112][113] Chuyến lưu diễn thu hút hơn 1.1 triệu khán giả và mang về 63 triệu đô-la Mỹ doanh thu.[114] Bộ phim Taylor Swift: Journey to Fearless lên sóng truyền hình và được ra mắt trên định dạng DVD và Blu-ray.[115] Cô cũng trình diễn tại Escape Together World Tour của Keith Urban.[116] Swift còn tham gia nhiều tiết mục truyền hình. Cô trình bày "Drive" của Alan Jackson trong sự kiện CMT Giants: Alan Jackson,[117] tham gia một đêm diễn trực tiếp trên truyền hình cùng ban nhạc rock Def Leppard tại Nashville[118] và trình bày "Run" của George Strait tại sự kiện ACM vinh danh ông là "Nghệ sĩ của thập niên".[119]

Swift còn góp mặt trong nhiều dự án bên lề. Cô phát hành phiên bản trình bày lại "American Girl" của Tom Petty thông qua hệ thống Rhapsody[120] và xuất hiện trong đĩa đơn "Half of My Heart" cùng John Mayer trong album phòng thu Battle Studies.[121] Cô đồng sáng tác và thu âm "Best Days of Your Life" với Kellie Pickler,[122] trong khi góp giọng trong đĩa đơn "Two Is Better Than One" của Boys Like Girls, do Martin Johnson sáng tác.[123] Cô còn trình bày lại "Breathless" của Better Than Ezra cho album Hope for Haiti Now.[124] Swift cũng đồng sáng tác hai bài hát nữa cho nhạc phim Hannah Montana: The Movie—"You'll Always Find Your Way Back Home" và "Crazier"—lần lượt với Martin Johnson và Robert Ellis Orrall.[125] Swift lấn sân sang lĩnh vực truyền hình trong một tập phim năm 2009 của CSI: Crime Scene Investigation, trong vai một thiếu niên nổi loạn.[126] The New York Times nhận thấy nhân vật này cho phép cô trở nên "đôi chút nghịch ngợm"[127]Rolling Stone cảm thấy cô "thực hiện khá tốt với kịch bản."[128][129] Cuối năm đó, cô chủ trì và trình diễn với vai trò khách mời trong một tập Saturday Night Live.[130] Entertainment Weekly gọi cô là "nhà chủ trì tuyệt nhất Saturday Night Live mùa này".[131] Vai diễn điện ảnh đầu tiên của Swift là nhân vật cô bạn gái thiếu niên ngốc nghếch trong Valentine's Day (2010),[132][133][134] vấp phải nhiều phản ứng trái chiều từ các nhà phê bình điện ảnh.[135][136][137][138] Từ bộ phim này, cô đóng góp bài hát "Today Was a Fairytale" cho album nhạc phim,[139] phá vỡ kỷ lục lượng đĩa kỹ thuật số bán chạy nhất bởi một nữ nghệ sĩ trong tuần đầu phát hành tại Hoa Kỳ[140] và đạt đến vị trí thứ 2 trên Hot 100.[141] Trong thời gian ghi hình, cô hẹn hò cùng nam diễn viên Taylor Lautner từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2009.[142][143] Trước đó, cô có một mối quan hệ ngắn ngủi cùng Joe Jonas từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2008.[144][145]

Tại mùa giải Video âm nhạc của MTV năm 2009, Swift trở thành nghệ sĩ nhạc đồng quê đầu tiên giành giải "Video xuất sắc nhất của nữ ca sĩ".[146] Khi bài phát biểu nhận giải của cô bị rapper Kanye West cắt ngang,[147][148] vụ việc nhận được sự chú ý của giới truyền thông và là hiện tượng lan truyền trên mạng xã hội.[149][150][151] Tại giải Grammy lần thứ 52, cô trở thành nghệ sĩ trẻ tuổi nhất giành giải "Album của năm",[152][153] trong khi giành thêm 3 giải khác cho "Album nhạc đồng quê của năm", "Bài hát nhạc đồng quê xuất sắc nhất" và "Trình diễn nhạc đồng quê giọng nữ xuất sắc nhất" cùng "White Horse".[154] Trong buổi trao giải, cô trình bày "You Belong with Me" và "Rhiannon" cùng Stevie Nicks.[151][155] Giọng hát của cô bị giới truyền thông chỉ trích, khi được mô tả "lạc điệu nặng nề" và "vô cùng tồi tệ".[156][157][158] Fearless trở thành album giành nhiều giải thưởng nhất lịch sử nhạc đồng quê.[159] Swift là nghệ sĩ trẻ nhất đoạt giải Hiệp hội âm nhạc đồng quê cho "Nhà giải trí của năm", trong khi Fearless giành giải "Album của năm".[160] Cô cũng là nghệ sĩ trẻ nhất giành giải "Album của năm" của Học viên âm nhạc đồng quê.[161] Giải thưởng Âm nhạc Mỹ vinh danh Swift là "Nghệ sĩ của năm" và "Album đồng quê của năm".[162] Cô còn mang về một giải Hal David Starlight bởi Songwriters Hall of Fame[163] và được Hiệp hội tác giả Nashville vinh danh là "Nhạc sĩ/Nghệ sĩ của năm".[164] Billboard trao cho Swift giải "Nghệ sĩ của năm" 2009.[165] Swift xuất hiện trong danh sách "100 người ảnh hưởng nhất" thường niên của tạp chí Time vào năm 2010.[166]

2010–12: Speak Now[sửa | sửa mã nguồn]

Swift trình diễn trong Speak Now World Tour tại Sydney vào năm 2011

Swift phát hành album phòng thu thứ 3, Speak Now vào ngày 25 tháng 10 năm 2010. Cô tự sáng tác tất cả 14 bài hát trong album và đồng sản xuất album cùng Chapman,[167] với âm nhạc "vượt xa thể loại pop đồng quê để hòa trộn cùng dòng nhạc alternative rock và bubblegum pop".[168] Các đánh giá đến album hầu hết là tích cực;[101][169][170][171] Caramanica cho rằng album "hoang dại", "phong phú về âm nhạc" và "có thể [là đĩa thu âm] tốt nhất của cô".[167] Swift đưa ra chiến dịch quảng bá rộng khắp trước khi phát hành Speak Now.[172] Cô xuất hiện trong nhiều chương trình đàm thoại và tổ chức những đêm nhạc nhỏ ở nhiều địa điểm khác thường, như trên nóc một chiếc xe buýt tại Hollywood Boulevard và phòng chờ Sân bay quốc tế John F. Kennedy.[173] Cô tham gia cùng Kris Kristofferson, Emmylou Harris, Vince GillLionel Richie tại sân khấu Club Nokia, Los Angeles. Tại đó, các nhạc sĩ cùng nhau trình diễn và quyên góp cho Country Music Hall of Fame and Museum.[174][175] Đĩa đơn đầu trích từ album, "Mine" ra mắt vào tháng 8 năm 2010, cùng 5 đĩa đơn khác phát hành trong năm 2010 và 2011: "Back to December", "Mean", "The Story of Us", "Sparks Fly" và "Ours".[176] Speak Now là một thành công về thương mại, mở đầu tại vị trí đầu bảng Billboard 200 với 1.047.000 bản, trở thành album thứ 16 trong lịch sử Hoa Kỳ đạt 1 triệu bản trong tuần phát hành.[177] Đến nay, Speak Now đã vượt 5 triệu bản trên toàn cầu.[178]

Swift lưu diễn trong Speak Now World Tour trong suốt năm 2011 và đầu năm 2012 để quảng bá cho album này. Với lịch trình kéo dài trong 111 ngày, chương trình diễn ra tại Bắc Mỹ, châu Á, châu Âu, Úc và New Zealand.[179] Swift cũng trình bày nhiều bài hát của nghệ sĩ khác[180][181] và mời nhiều nhạc sĩ đến trình diễn trong chặng Bắc Mỹ, bao gồm James Taylor, Jason Mraz, Nicki Minaj, NellyHot Chelle Rae.[182][183] Chuyến lưu diễn phục vụ hơn 1.6 triệu khán giả và thu về 123 triệu đô-la Mỹ.[179] Album trực tiếp đầu tiên của Swift, Speak Now World Tour: Live bao gồm 17 màn trình diễn từ chặng Bắc Mỹ, được phát hành vào tháng 11 năm 2011.[184]

Tại giải Grammy lần thứ 54, bài hát "Mean" mang về cho Swift giải "Bài hát đồng quê xuất sắc nhất" và "Trình diễn đơn ca đồng quê xuất sắc nhất".[185] Cô cũng trình bày bài hát này trong lễ trao giải, nơi Jayme Deerwester từ USA Today cảm thấy những lời chỉ trích từ năm 2010 dường như đã giúp cô "trở thành một nhạc sĩ và nhà trình diễn tốt hơn".[186][187] Swift giành nhiều giải thưởng khác cho Speak Now. Cô nhận giải "Nhạc sĩ/Nghệ sĩ của năm" bởi Hiệp hội tác giả Nashville trong năm 2010 và 2011.[188][189] Học viện âm nhạc đồng quê cũng xướng tên cô là "Nhà giải trí của năm" trong hai năm 2011 và 2012.[190][191] Swift là "Nghệ sĩ của năm" tại giải thưởng Âm nhạc Mỹ vào năm 2011, trong khi Speak Now giành giải "Album đồng quê được yêu thích nhất".[192] Vào năm 2011, Billboard cũng vinh danh cô là "Người phụ nữ của năm".[193]

Trong thời gian này, Swift còn đóng góp 2 sáng tác cho album nhạc phim The Hunger Games. "Safe & Sound" có sự đồng sáng tác và thu âm của The Civil WarsT-Bone Burnett,[194][195] được phát hành làm đĩa đơn đầu tiên trích từ album[196] và chạm mốc 1.4 triệu bản tại Hoa Kỳ, tính đến đầu năm 2013.[197] Đĩa đơn giành giải "Bài hát sáng tác cho phương tiện truyền thông xuất sắc nhất" tại giải Grammy lần thứ 55[198] và mang về một đề cử giải Quả cầu vàng cho "Ca khúc trong phim hay nhất".[199] Bài hát còn lại, "Eyes Open" do Swift tự sáng tác và sản xuất bởi Chapman.[200] Cô còn góp giọng trong đĩa đơn "Both of Us" trích từ album phòng thu thứ hai của B.o.B, Strange Clouds.[201] Swift lồng tiếng cho nhân vật Audrey trong The Lorax (2012),[202] trong những phản hồi trái chiều,[203][204] đạt doanh thu hơn 340 triệu đô-la Mỹ trên toàn cầu.[205] Sau khi có mối quan hệ tình cảm cùng John Mayer từ cuối năm 2009 đến đầu năm 2010,[206][207][208][209] Swift hẹn hò cùng diễn viên Jake Gyllenhaal vào tháng 10 năm 2010. Sau khi cả hai thông báo chia tay vào tháng 12 cùng năm,[210][211] họ được nhìn thấy cùng nhau vào tháng 1 và tháng 2 năm 2011.[212][213]

2012–14: Red[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu thứ 4 của Swift, Red phát hành ngày 22 tháng 10 năm 2012.[214] Cô tự sáng tác 16 bài hát trong album, trong khi cộng tác cùng Rose, Max Martin, Dan Wilson, Ed SheeranGary Lightbody trong 7 bài hát còn lại. Tuy Chapman là nhà sản xuất chính của album, Jeff Bhasker, Butch Walker, Jacknife Lee, Dann HuffShellback vẫn tham gia sản xuất trong nhiều bài hát riêng.[215] Ngoài dòng nhạc pop đồng quê, album còn mang nhiều thể nghiệm cùng alternative rock, dubstep và dance-pop.[216][217] Hầu hết các nhà phê bình đưa ra những phản hồi tích cực đến album,[218][219][220][221] với Jon Dolan từ Rolling Stone tìm thấy một vài ảnh hưởng trong album này từ Joni MitchellU2, đồng thời cho rằng "dự án tự khám phá bản thân của cô ấy là một trong những câu chuyện xuất sắc nhất trong làng nhạc pop."[222]

Swift trình diễn trong The Red Tour tại St. Louis, Missouri vào năm 2013

Như một phần trong chiến dịch quảng bá Red, đại diện từ 72 trạm đài phát thanh trên toàn cầu đã tụ hội về Nashville, nơi họ phỏng vấn Swift trong tuần lễ phát hành album.[223] Cô còn xuất hiện trong nhiều chương trình đàm thoại[224] và lễ trao giải tại nhiều quốc gia.[225][226][227][228][229][230] "We Are Never Ever Getting Back Together", đĩa đơn đầu trích từ album, trở thành nhà quán quân đầu tiên của Swift trên Billboard Hot 100.[231][232] Có 6 đĩa đơn khác cũng được phát hành: "Begin Again", "I Knew You Were Trouble", "22", "Everything Has Changed", "The Last Time" và "Red". Red mở đầu tại vị trí dẫn đầu Billboard 200 với 1.21 triệu bản—lượng doanh số ở tuần ra mắt cao nhất trong hơn một thập niên.[233] Tính đến tháng 5 năm 2013, Red vượt hơn 6 triệu bản trên toàn cầu.[234] Trong chuyến lưu diễn quảng bá The Red Tour, Swift xuất hiện trong 86 đêm diễn tại Bắc Mỹ, New Zealand, Úc, châu Âu và châu Á.[235][236] Ed Sheeran trở thành nghệ sĩ mở đầu cho cô tại chặng Bắc Mỹ, cùng nhiều khách mời nhạc sĩ góp mặt trong nhiều đêm diễn.[237] Chuyến lưu diễn tiếp cận đến 1.7 triệu người hâm mộ và mang về 150 triệu đô-la Mỹ.[235][238]

Trong thời gian này, cô đồng sáng tác "Sweeter Than Fiction" cùng Jack Antonoff cho nhạc phim One Chance và giành một đề cử "Bài hát trong phim hay nhất" tại mùa giải Quả cầu vàng lần thứ 71.[239][240] Swift góp giọng trong bài hát "Highway Don't Care" của Tim McGraw cùng phần guitar của Urban.[241] Cô trình diễn một phiên bản acoustic của "Red" cùng Vince GillAlison Krauss tại Giải CMA 2013.[242] Swift trình bày "As Tears Go By" với The Rolling Stones tại Chicago trong chuyến lưu diễn 50 & Counting...[243] và hợp tác cùng Florida Georgia Line trên sân khấu Country Radio Seminar 2013 với bài hát "Cruise".[244] Swift vào vai nhân vật Elaine trong tập cuối mùa 2 của loạt phim hài kịch tình huống New Girl, phát sóng vào ngày 14 tháng 5 năm 2013.[245][246][247] Cô tiếp tục xuất hiện trong bộ phim The Giver, ra mắt trên toàn cầu vào tháng 8 năm 2013, trong những phản hồi trái chiều[248][249][250] và đạt doanh thu 67 triệu đô-la Mỹ trên toàn cầu.[251] Red mang về 4 đề cử tại giải Grammy lần thứ 55, trong đó có lần xướng tên thứ 2 của Swift trong bảng đề cử cho "Album của năm".[252] Swift cũng được vinh danh với giải Pinnacle cùng nam nghệ sĩ Garth Brooks, do Tim McGraw, Faith Hill, Keith Urban, Rascal Flatts, George Strait và Brad Paisley trao tặng.[253][254] Tại giải Video âm nhạc châu Âu của MTV năm 2012, Swift giành giải "Nữ nghệ sĩ xuất sắc nhất" và "Trình diễn xuất sắc nhất".[255] "I Knew You Were Trouble" thắng giải "Video xuất sắc nhất của nữ ca sĩ" tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2013.[256] Giải thưởng Âm nhạc Mỹ vinh danh cô là "Nữ nghệ sĩ đồng quê xuất sắc nhất" vào năm 2012 và là "Nghệ sĩ của năm" tại lễ trao giải năm 2013.[257][258] Giải "Nhạc sĩ/Nghệ sĩ của năm" của Hiệp hội tác giả Nashville lần nữa được trao cho Swift vào năm 2012 và 2013.[259][260]

Swift hẹn hò cùng Conor Kennedy từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2012.[261][262] Sau đó, cô có mối quan hệ tình cảm cùng Harry Styles từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 1 năm 2013.[263][264] Trong giai đoạn này, đời sống tình cảm của Swift là chủ đề bị báo chí soi mói.[265][266] Tờ Gawker chế nhạo rằng Taylor đã hẹn hò với "mọi người đàn ông trong vũ trụ."[267] Nhà thờ Báp-tít Westboro phản đối buổi hoà nhạc của Swift, dán mác cho cô là "bộ mặt lẳng lơ của ngày tận thế Mỹ", trong khi đó Abercrombie & Fitch quảng cáo áo phông với slogan "hư hỏng nhục nhã" ám chỉ Swift.[268] Tờ The New York Times khẳng định rằng "tình sử của cô đã bắt đầu khuấy động những gì cảm thấy như khởi đầu của một phản ứng dữ dội" và đưa ra câu hỏi rằng liệu Swift đang trong "cuộc khủng hoảng nhị tuần."[269]

2014–nay: 1989[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu thứ 5 của Swift, 1989 ra mắt ngày 27 tháng 12 năm 2014.[270] Swift đồng sáng tác cùng Antonoff, Martin, Shellback, Imogen Heap, Ryan Tedder và Ali Payami trong 12 bài hát.[271][272] Martin và Swift đảm nhận điều hành đồng sản xuất, trong khi Chapman, Antonoff, Heap, Tedder, Payami và Greg Kurstin sản xuất các bài hát riêng.[273] Album được Swift mô tả là "album mang tư liệu pop chính thức đầu tiên",[274][275] bao gồm nhiều nhịp bass sôi động, với phần giọng nền được xử lý cùng tiếng đàn guitar.[276] Các đánh giá đến album hầu hết là tích cực;[277][278] trên tạp chí Rolling Stone, Rob Sheffield khẳng định album "kì quặc một cách sâu sắc, xúc cảm một cách cuồng nhiệt, nhiệt tình một cách hoang dại, 1989 nghe hệt như Taylor Swift, cho dù nó không giống với bất kì thứ gì mà cô ấy từng thử nghiệm trước đây."[279] Trong quá trình quảng bá 1989, Swift mời người hâm mộ đến tham gia buổi nghe thử album bí mật, mang tên "1989 Secret Sessions", tại nhà của cô ở New York, Nashville, Los Angeles và Rhode Island.[280] Cô cũng thường xuyên sử dụng hệ thống mạng xã hội[281] và tham dự nhiều chương trình đàm thoại, lễ trao giải và xuất hiện trong vai trò cố vấn trong chương trình The Voice.[282][283][284]

Swift trình diễn trong The 1989 World Tour vào tháng 6 năm 2015

Album đầu tiên trích từ album, "Shake It Off" phát hành vào tháng 8 năm 2014 và mở đầu tại ngôi quán quân Billboard Hot 100.[285] 2 đĩa đơn khác, "Blank Space" và "Bad Blood" cũng giành được ngôi vị cao nhất tại Hoa Kỳ.[286] "Style" và "Wildest Dreams" đều đạt đến top 20 Billboard Hot 100.[287][288] 1989 bán được 1.287 triệu bản trong tuần đầu tại Hoa Kỳ[289] và trở thành album bán chạy nhất năm 2014, với doanh số cuối năm đạt 3.66 triệu bản.[290] Đến tháng 2 năm 2015, 1989 chạm mốc 8.6 triệu bản trên toàn cầu.[291]

Sau khi viết một bài báo nhấn mạnh tầm quan trọng của album trên Wall Street Journal.[292] Swift thu hồi lại toàn bộ các đĩa nhạc trên hệ thống Spotify vào tháng 11 năm 2014, cho rằng dịch vụ truyền dữ liệu miễn phí có quảng cáo của hãng này làm tổn hại đến dịch vụ trả phí, cung cấp tiến hoa hồng cao hơn cho các tác giả.[293] Vào tháng 6 năm 2015, Swift gửi một lá thư đến hãng Apple Music, phàn nàn vì hãng không trả tiền hoa hồng cho nghệ sĩ trong thời gian 3 tháng dùng thử của khách hàng và khẳng định sẽ rút album 1989 ra khỏi hệ thống này.[294] Một ngày sau, Apple thông báo sẽ trả đầy đủ phí đến nghệ sĩ trong thời gian dùng thử[295] và Swift đồng ý đưa 1989 vào dịch vụ này.[296]

Từ tháng 5 đến tháng 12 năm 2015, Swift thực hiện chuyến lưu diễn thế giới quảng bá cho album 1989 mang tên The 1989 World Tour xuyên qua Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canada, Đức, Hà Lan, Scotland, Anh, Singapore, Trung Quốc và Úc.[297][298] HAIM, Vance Joy, Shawn MendesJames Bay tham gia chuyến lưu diễn với vai trò là người mở màn cho nhiều chặng.[299] The 1989 World Tour đạt thành công về thương mại khi thu về được hơn 250 triệu đô la Mỹ với 85 buổi diễn cháy vé, trở thành chuyến lưu diễn có doanh thu cao nhất năm 2015 và phá vỡ nhiều kỉ lục về mặt doanh thu của một chuyến lưu diễn.[300]. Trong bữa tiệc Saturday Night Live 40th Anniversary Special, Swift trình bày cùng "I Saw Her Standing There" và "Shake It Off" cùng Paul McCartney[301] và cùng Kenny Chesney hát "Big Star" trong đêm mở màn chuyến lưu diễn Big Revival Tour tại Nashville.[302] Cô còn trình bày "Ghosttown" cùng Madonna trong lễ trao giải iHeartRadio Music Awards.[303]

Swift là nghệ sĩ đầu tiên 2 lần giành giải "Người phụ nữ của năm" của tạp chí Billboard vào năm 2014.[304] Cô giành giải Dick Clark for Excellence tại Giải thưởng Âm nhạc Mỹ 2014.[305] Tại giải Grammy lần thứ 57, "Shake It Off" mang về 3 đề cử, trong đó có "Thu âm của năm" và "Bài hát của năm".[306] Swift giành giải Brit đầu tiên trong hạng mục "Nữ nghệ sĩ quốc tế".[307] Swift còn xuất hiện trong danh sách Time 100 do tạp chí Time bình chọn vào năm 2015.[308] Swift cũng là một trong 8 nghệ sĩ được vinh danh Giải cột mốc 50 năm tại Academy of Country Music Awards 2015.[309] Vào tháng 3 năm 2015, Swift hẹn hò cùng DJ và nhà sản xuất người Scotland Calvin Harris.[310] Đến tháng 6 năm 2015, cả hai là cặp đôi người nổi tiếng được trả thù lao cao nhất năm do Forbes tổng hợp, với số tiền vượt 146 triệu đô-la Mỹ.[311]

Phong cách nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những kỷ niệm âm nhạc sơ khai nhất của Swift là lắng nghe bà ngoại Marjorie Finlay hát tại nhà thờ.[23][312] Bà từng là người chủ trì truyền hình tại Puerto Rico, và trình diễn tại các nhà hát ở Thái LanSingapore.[14][313] Lúc còn nhỏ, Swift yêu thích các bài hát nhạc phim Disney[35][314] và sau đó được bố mẹ giới thiệu những nhạc sĩ như James Taylor, Simon & Garfunkel và Def Leppard.[315][316][317] Cô nuôi dưỡng niềm yêu thích âm nhạc đồng quê cùng "những nữ nghệ sĩ đồng quê vĩ đại của thập niên 90;... Shania, Faith, the Dixie Chicks".[81][318][319] Swift từng chia sẻ Twain là ca sĩ kiêm nhạc sĩ gây ảnh hưởng lớn nhất đến cô,[320] trong khi Hill là hình tượng tuổi thơ của cô: "Mọi thứ cô ấy phát biểu, thực hiện, ăn mặc, tôi đều cố bắt chước chúng."[321][322] Swift tôn trọng thái độ khiêu khích và khả năng tự chơi nhạc cụ của Dixie Chicks.[14][323] "Cowboy Take Me Away" của nhóm là bài hát đầu tiên Swift học chơi trên guitar.[324]

Shania Twain (trái), Stevie Nicks (giữa) và Carly Simon (phải) đều có ảnh hưởng đến Swift

Swift sau đó bắt đầu tiếp cận đến nhiều ngôi sao đồng quê lớn tuổi hơn, bao gồm Patsy Cline, Loretta Lynn,[14] Dolly PartonTammy Wynette.[14][325] Cô tin rằng Parton là "một ví dụ hoàn hảo cho tất cả nữ sáng tác nhạc".[322] Các ảnh hưởng khác từ nhạc đồng quê của Swift bắt nguồn từ Miranda Lambert,[326] Dwight Yoakam,[327] Strait,[14] Garth Brooks,[81] Kenny Chesney,[322] Reba McEntire,[328] Jackson,[14] Martina McBride,[329] LeAnn Rimes,[330] McGraw[331]Brad Paisley.[332] Swift cũng quan tâm đến một vài nghệ sĩ alt-country như Ryan Adams,[333] Patty Griffin,[334]Lori McKenna.[335]

Trước độ tuổi thiếu niên, cô còn yêu thích các nghệ sĩ bubblegum pop như HansonBritney Spears, người mà cô "tôn kính một cách trung thành".[336][337] Lúc ở trường trung học, Swift có nghe đến các ban nhạc emo như Dashboard Confessional,[338] Fall Out Boy[339]Jimmy Eat World.[340] Cô cũng là người hâm mộ của những nữ ca sĩ tự sáng tác như Celine Dion,[341] Michelle Branch,[340] Pink,[342] Alanis Morissette,[343] Ashlee Simpson,[344] Kelly Clarkson,[345] Fefe Dobson[340]Avril Lavigne.[345] Swift còn có mối quan tâm đến dòng nhạc hip hop, khẳng định "Niềm tự hào [trong lối sống] là điểm tương đồng giữa nhạc đồng quê và hip-hop".[14] Các nghệ sĩ kỳ cựu cũng là nguồn cảm hứng cho Swift; cô miêu tả Nicks là "người hùng" đã "truyền cảm hứng cho tôi theo nhiều cách.[197][346] Các ca sĩ nữ pop rock như Pat Benatar,[345][347] Melissa Etheridge,[347] Sarah McLachlan,[343] Shawn Colvin[348]Linda Ronstadt cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến Swift.[349][350]

Swift liệt kê Paul McCartney, Bruce Springsteen, Emmylou Harris, Kris Kristofferson và Carly Simon là hình mẫu cho sự nghiệp âm nhạc của mình: "Họ biết nắm bắt cơ hội, nhưng họ vẫn luôn là chính mình trong xuyên suốt sự nghiệp."[351][352][353][354] McCartney, ở cương vị đơn ca lẫn trong ban nhạc The Beatles, khiến Swift cảm thấy "muốn hiểu được trái tim và trí óc của ông": "Bất kể một nhạc sĩ nào cũng chỉ mơ ước có một di sản như thế."[355] Cô yêu mến Springsteen vì ông "vẫn theo đà xu hướng âm nhạc sau một khoảng thời gian dài".[356] Cô còn mong muốn giống như Harris khi trở nên chín chắn hơn[357] và cho rằng Kristofferson "tỏa sáng trong vai trò sáng tác".[354][358]

Phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc của Swift hòa trộn các yếu tố nhạc pop, pop rock và đồng quê.[359][360][361] Cô xuất hiện như một nghệ sĩ nhạc đồng quê, cho đến khi phát hành 1989 vào năm 2014, khi cô mô tả là một "album mang kết cấu giai điệu pop".[361][362] Dù vậy, cô phát biểu mình có thể vẫn thu âm một album nhạc đồng quê trong tương lai.[274][361]

Rolling Stone cho rằng Swift "có thể được chơi trên trạm phát thanh đồng quê, nhưng cô ấy là một trong những ngôi sao nhạc rock thực thụ hiếm hoi hiện nay".[363] The New York Times nhận thấy "Âm nhạc của Swift không mấy liên quan đến dòng nhạc đồng quê—một vài tiếng gảy banjo, một đôi ủng cao bồi trên sân khấu cùng tiếng đàn guitar du dương—nhưng có chút gì đó khác biệt trong sự rạng rỡ của cô ấy, đôi chút mỏng manh mang nét khác biệt so với Nashville."[364] The New Yorker tin rằng cô "được xem là một phần trong dòng nhạc pop đồng quê của Nashville chỉ vì cô sáng tác những bài hát tường thuật với giai điệu trong trẻo và cường điệu hóa".[63][365]

Hình tượng công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Swift tại Time 100 Gala vào năm 2010, nơi cô được vinh danh

Theo tỉ lệ Q ScoreDavie-Brown Index, Swift sở hữu cấp độ nhận thức cộng đồng (90%) và độ phổ biến (80%) ở mức cao tại Hoa Kỳ.[366] Cô cho rằng mình "có trách nhiệm" ý thức về ảnh hưởng của mình đến cộng đồng người hâm mộ trẻ tuổi.[367] Một nhà báo của Rolling Stone bình luận về cách cư xử tế nhị của cô: "Nếu đây là trò chơi chủ lực của Swift, cô đã thành công vì điều đó không bao giờ phai nhạt."[368][369] Vào năm 2012, Rolling Stone gọi Swift "thân thiện một cách dễ chịu"[58] trong khi The Hollywood Reporter mô tả cô là "người tuyệt nhất kể từ Bill Clinton".[370][371] Tạp chí Vogue mô tả Swift là người "thông minh, vui vẻ và đôi lúc vô cùng thẳng thắn."[372] Grantland gọi Swift là cô gái "ngốc nghếch" và "kích động một cách công khai, theo một cách bạn không bao giờ thấy ở những cô công chúa nhạc đồng quê tóc vàng như Faith HillCarrie Underwood. Cô ấy giống như Diane Keaton trong Annie Hall: hết mực duyên dáng và hăng hái làm vừa lòng nhưng chứa đầy nguồn năng lượng không ngừng nghỉ, lo lắng và rung cảm."[373]

Trong lúc quảng bá 1989, Swift bắt đầu sử dụng mạng xã hội để phản hồi trực tiếp đến người hâm mộ[374] và mời 100 người xuất hiện trong video âm nhạc "Shake It Off".[375] Swift gửi nhiều món quà Giáng sinh trực tiếp đến người hâm mộ hay qua bưu điện và gọi đây là "Swiftmas",[376] trong khi mời họ đến nhà mình trong buổi nghe thử album.[377][378][379][380] Swift tương tác với người hâm mộ phần lớn thông qua Instagram và Tumblr.[374][381]

Trong những đầu sự nghiệp, vẻ ngoài độc đáo của Swift bao gồm kính râm và ủng cao bồi.[382][383] Phong cách này đến nay vẫn được nhiều người hâm mộ sử dụng khi đến dự đêm nhạc của cô.[382][384] Tại những sự kiện trang trọng, Swift thường diện "những chiếc váy đính cườm, lấp lánh".[382] Tạp chí Vogue yêu cầu cô cắt tóc mái trong một buổi chụp ảnh vào cuối năm 2011 và nay cô đã duỗi thẳng tóc.[385] Vogue vinh danh Swift là "Biểu tượng của phong cách Hoa Kỳ" vào năm 2011.[386] Vào năm 2014, cô dẫn đầu danh sách ăn mặc đẹp thường niên của tạp chí People.[387] Vào tháng 2 năm 2015, Swift giành giải Elle Style Awards cho "Người phụ nữ của năm".[388] Vào tháng 5 năm 2015, Maxim xếp Swift ở vị trí quán quân trong danh sách Hot 100 của năm.[389]

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng bá nhãn hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi quảng bá album đầu tay, Swift trở thành người mẫu đại diện cho hãng l.e.i. và là gương mặt của chiến dịch Mobile Music do hãng Verizon Wireless tổ chức.[390][391] Trong kỷ nguyên Fearless, cô quảng cáo loại đầm dây cho hãng L.e.i. tại Wal-Mart,[392] thiết kế thiệp American Greetings và búp bê Jakks Pacific.[393][394] Cô là đại sứ cho nhãn hàng Nashville Predators của NHL và máy chụp ảnh kỹ thuật số Sony Cyber-shot.[395][396] Cô trình bày trong quảng cáo trò chơi điện tử Band Hero, cùng Rivers Cuomo, Pete WentzTravis Barker trong ban nhạc hỗ trợ.[397][398] Trong kỷ nguyên Speak Now, cô phát hành một phiên bản đặc biệt của album này thông qua Target.[399] Swift trở thành đại sứ của nhãn hàng CoverGirl,[400] ra mắt hai nhãn hiệu nước hoa Elizabeth Arden, WonderstruckWonderstruck Enchanted.[401]

Trong khi quảng bá album phòng thu thứ 4 Red, Swift thực hiện quảng bá độc quyền thông qua Target,[402] Papa John's Pizza[403]Walgreens.[404] Cô là đại diện cho nhãn hàng Diet Coke và giày thể thao Keds,[405] ra mắt dòng nước hoa Elizabeth Arden thứ 3 mang tên Taylor by Taylor Swift,[406] và tiếp tục hợp tác cùng Sony Electronics và American Greetings.[407][408] Swift cũng hợp tác với AirAsia[409]Qantas[410] trong vai trò hãng hàng không chính thức trong chặng lưu diễn Red Tour tại Úc và châu Á, trong khi Cornetto quảng bá cô trong chặng lưu diễn tại châu Á.[411] Trong lúc quảng bá 1989, Swift xuất hiện trong nhiều quảng cáo của Subway, Keds, Target và Diet Coke.[412] Vào năm 2014, Swift phát hành nhãn hiệu nước hoa thứ 4 Incredible Things.[413]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc bầu cử Tổng thống 2008, Swift ủng hộ chiến dịch Every Woman Counts, mang mục tiêu đưa phụ nữ vào quá trình chính trị và là một trong nhiều ngôi sao nhạc đồng quê xuất hiện trong sự kiện thông báo công khai cho chiến dịch Vote (For Your) Country.[414] Cô phát biểu: "Tôi không nghĩ mình có khả năng cố gắng và gây ảnh hưởng đến cách mà mọi người nên bỏ phiếu."[14] Sau khi Tổng thống Obama nhậm chức, cô chia sẻ trên Rolling Stone: "Tôi chưa từng thấy quốc gia này hạnh phúc về một quyết định chính trị nhiều đến thế. Tôi rất vui mừng vì đây là lần bầu cử đầu tiên của tôi."[415]

Vào năm 2012, Swift được Michelle Obama giới thiệu tại Kids' Choice Award để ghi nhận công việc thiện nguyện của mình, khen ngợi cô là người "vươn đến ngôi đầu của ngành công nghiệp âm nhạc nhưng vẫn mang nhận thức rõ ràng, người đã phá vỡ mọi kỳ vọng mà một người ở tuổi 22 có thể đạt được".[416] Swift sau đó gọi Đệ nhất phu nhân là "một hình tượng lý tưởng".[417] Trong một bài phỏng vấn vào năm 2012, Swift khẳng định mình không "bàn chuyện chính trị vì có thể gây ảnh hưởng đến người khác".[418] Swift có thời gian gần gũi với gia tộc Kennedy[419] và thể hiện lòng mến mộ đến Ethel Kennedy.[420][421] Swift còn là một nhà hoạt động theo chủ nghĩa nữ quyền.[422][423]

Swift phản đối nạn phân biệt đối xử với người đồng tính luyến ái. Sau vụ sát hại Larry King vào năm 2008, cô thu âm một thông báo cộng đồng của Gay, Lesbian and Straight Education Network nhằm chống lại tội ác căm thù.[424] Trong kỷ niệm 1 năm ngày mất của King, Swift chia sẻ với Seventeen rằng cha mẹ cô dạy "không bao giờ được đánh giá người khác dựa trên bất kỳ tình cảm, màu da hay tín ngưỡng nào".[425] Vào năm 2011, Swift thực hiện video âm nhạc "Mean", thể hiện nạn ghê sợ đồng tính luyến ái ở trường trung học; video được đề cử "Giải thưởng hoạt động xã hội" tại giải Video âm nhạc của MTV.[426][427][428] The New York Times tin rằng cô là một phần trong "làn sóng phụ nữ trẻ tuổi (và hầu hết là người dị tính) ngày nay, đang xây dựng một thế hệ người hâm mộ là người đồng tính nhằm giữ gìn nhận dạng bản thân trong thời điểm của nhiều thông điệp văn hóa gây hỗn loạn và khó hiểu".[426]

Giải thưởng và thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

Swift trình diễn trong Speak Now World Tour tại Heinz Field, Pittsburgh năm 2011

Trong xuyên suốt sự nghiệp, Swift đã giành 10 giải Grammy,[429][430][431][432][433] 19 giải thưởng Âm nhạc Mỹ[434][435][436][437][438][439][440][441] 11 giải Country Music Association Awards, 8 giải Academy of Country Music Awards[442] và 5 Kỷ lục Guinness Thế giới.[443][444][445][446][447] Ở vai trò nhạc sĩ, cô từng 7 lần được vinh danh là "Nhạc sĩ/Ca sĩ của năm" bởi Hiệp hội tác giả Nashville[92][448][449] và xuất hiện trong Songwriters Hall of Fame.[450] Fearless là album nhạc đồng quê giành nhiều giải thưởng nhất trong lịch sử[451][452] và giúp Swift trở thành nghệ sĩ trẻ tuổi nhất giành giải "Album của năm".[153][453][454][455] Cũng tại hạng mục này, Swift là nữ nghệ sĩ đầu tiên đoạt giải 2 lần, với chiến thắng của 1989 ở lễ trao giải Grammy lần thứ 58.[456] Cô là nhân vật duy nhất 2 lần được Billboard vinh danh là "Người phụ nữ của năm" trong năm 2011 và 2014.[457]

Đến cuối năm 2015, Swift đã bán hơn 40 triệu album, 130 triệu đĩa đơn kỹ thuật số và là một trong 5 nghệ sĩ âm nhạc có lượng đĩa kỹ thuật số lớn nhất thế giới.[291] Theo Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ, cô là nghệ sĩ kỹ thuật số bán chạy thứ hai tại quốc gia này, với ước tính chứng nhận 96.5 triệu lượt tải nhạc số và truyền dữ liệu theo yêu cầu.[458] Tính đến tháng 3 năm 2015, Swift có hơn 27.67 triệu album tiêu thụ và là nữ nghệ sĩ bán chạy thứ 7 tại khu vực Bắc Mỹ kể từ năm 1991.[459] Cũng tại lãnh thổ này, cô là nghệ sĩ duy nhất có 3 album đạt 1 triệu bản trong tuần đầu xuất bản;[447][460] mỗi album phòng thu của Swift đều vượt 4 triệu bản, chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ: Taylor Swift (5.5 triệu), Fearless (7.0 triệu),[461] Speak Now (4.5 triệu), Red (4.1 triệu) và 1989 (5.4 triệu).[462]

Đĩa đơn "Blank Space" giúp Swift trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên có một ca khúc vượt qua một ca khúc khác của chính mình để giành vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100;[463] trong khi video âm nhạc của bài hát này đạt kỷ lục xem nhiều nhất trên hệ thống Vevo vào ngày 20 tháng 10 năm 2015.[464][465][466][467] Cô cũng được Sách kỷ lục Guiness ghi nhận danh hiệu "Album kỹ thuật số bán nhanh nhất lịch sử" cho Speak Now và "Đĩa đơn kỹ thuật số bán nhanh nhất lịch sử" cho "We Are Never Ever Getting Back Together", lần lượt vào năm 2010 và 2012.[443][445]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai Chú thích
2009 Jonas Brothers: The 3D Concert Experience Chính cô
2009 Hannah Montana: The Movie Chính cô
2010 Valentine's Day Felicia Miller
2012 Lorax, TheThe Lorax Audrey Lồng tiếng
2014 The Giver Rosemary

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai Chú thích
2009 CSI: Crime Scene Investigation Haley Jones Tập: "Turn, Turn, Turn"
2009–2015 Saturday Night Live (4 tập) Chính cô Chủ trì, sáng tác, trình diễn[468]
2013 New Girl Elaine Tập: "Elaine's Big Day"

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Widdicombe, Lizzie (ngày 10 tháng 10 năm 2011). “You Belong With Me”. The New Yorker. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2011. 
  2. ^ Leahey, Andrew; Frye, Megan. “(((Taylor Swift > Overview)))”. Rovi Corporation. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2009. 
  3. ^ Wilson, Benji (ngày 25 tháng 10 năm 2009). “Taylor Swift – the meteoric rise of pop's brightest new star”. Daily Mail (UK: Associated Newspapers Ltd). Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2009. 
  4. ^ “Taylor Swift Dance pop music”. Amazon.com. Ngày 22 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2011. 
  5. ^ “The 100 Greatest Songwriters of All Time”. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2015. 
  6. ^ Vincent, Alice (24 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift at AMAs 2014: 'music is valuable'. The Telegraph. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2015. 
  7. ^ Wilson, Carl (29 tháng 10 năm 2014). “Contemplating Taylor Swift's Navel”. Slate. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2015. 
  8. ^ “#8 Taylor Swift”. Forbes. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015. 
  9. ^ Eddy, Chuck. “Taylor Swift”. Rolling Stone. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2015. 
  10. ^ “Taylor Swift Biography: Singer (1989–)”. Biography.com (FYI / A&E Networks. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2015. 
  11. ^ Leahey, Andrew. “[Taylor Swift] Artist Biography”. AllMusic. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2015. 
  12. ^ “Walter Scott Asks... James Taylor”. Parade. 14 tháng 6 năm 2015. 
  13. ^ “Taylor Swift's father is a Blue Hen”. University of Delaware. 23 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012. 
  14. ^ a ă â b c d đ e ê g h Rolling Stone Interview: The Unabridged Taylor Swift, December 2, 2008
  15. ^ Griggs, Brandon (9 tháng 4 năm 2015). “Taylor Swift: My mom has cancer”. CNN. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2015. 
  16. ^ Jepson, Louisa (2013). Taylor Swift. Simon and Schuster. tr. 10. ISBN 978-1-4711-3090-8. 
  17. ^ a ă Cutter, Kimberly (2 tháng 6 năm 2010). “Taylor Swift's Rise to America's Sweetheart”. Marie Claire. tr. 2. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012. 
  18. ^ Griggs, Brandon (10 tháng 4 năm 2015). “Taylor Swift: My mom has cancer”. CNN. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2015. 
  19. ^ “Taylor Swift on 'Blank Space' Video, Stunning '1989' Sales” (Video upload). ABC News on YouTube. Google Inc. 11 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2015. 
  20. ^ Reinbrecht, Steve (7 tháng 10 năm 1996). “New golf course is no picnic”. Reading Eagle. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2013. 
  21. ^ Raab, Scott (20 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift Interview”. Esquire. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  22. ^ “Photos Students at Alvernia Montessori School sending Taylor Swift a valentine”. Reading Eagle. 13 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  23. ^ a ă Hatza, George (ngày 8 tháng 12 năm 2008). "Taylor Swift: Growing into superstardom". Readingeagle.com. Retrieved ngày 17 tháng 4 năm 2012.
  24. ^ Mennen, Lauren. “Taylor Swift's Wyomissing childhood home on the market for $799,500”. Philadelphia Daily News. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2013. 
  25. ^ “Wyomissing Schools get Swift gift Taylor made for them”. Lehigh Valley Music. 13 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012. 
  26. ^ Van Meter, Jonathan (17 tháng 1 năm 2012). “Taylor Swift: The Single Life – Magazine”. Vogue. tr. 4. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012. 
  27. ^ Taylor Swift trên Internet Movie Database
  28. ^ Cooper, Brittany Joy (15 tháng 4 năm 2012). “Taylor Swift Opens Up About a Future in Acting and Admiration for Emma Stone”. Taste of Country. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012. 
  29. ^ MacPherson, Alex (18 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift: 'I want to believe in pretty lies'. The Guardian (London). 
  30. ^ DeLuca, Dan (8 tháng 8 năm 2010). “Taylor Swift works crowd, local angle smoothly”. Philadelphia Daily News. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012. 
  31. ^ a ă â b Morris, Edward (1 tháng 12 năm 2006). “When She Thinks "Tim McGraw", Taylor Swift Savors Payoff: Hardworking Teen to Open for George Strait Next Year”. CMT. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2010. 
  32. ^ Lisa Popeil (30 tháng 11 năm 2014). “How Did Taylor Swift Make It?”. Voice Council Magazine. Voice Council Magazine. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2015. 
  33. ^ Chuck Klosterman (15 tháng 10 năm 2015). “Taylor Swift on "Bad Blood", Kanye West, and How People Interpret Her Lyrics”. GQ. (Advance Publications). Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2015. 
  34. ^ Diu, Nisha Lilia (3 tháng 4 năm 2011). “Taylor Swift: 'I won't do sexy shoots'. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012. 
  35. ^ a ă “News: CMT Insider Interview: Taylor Swift (Part 1 of 2)”. CMT. 26 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  36. ^ “Taylor Swift: The Garden In The Machine”. American Songwriter. 2 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  37. ^ “EXCLUSIVE: The real story of Taylor Swift's guitar 'legend'. NY Daily News. 10 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  38. ^ Rollo, Sarah (3 tháng 11 năm 2009). “Showbiz – News – Computer repairman taught Swift guitar”. Digital Spy. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009. 
  39. ^ “Her Song: Talking Taylor Swift – Post Rock”. The Washington Post. 28 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012. 
  40. ^ a ă “americanbar.org PDF” (PDF). Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  41. ^ “On tour with Taylor Swift – Dateline NBC – Newsmakers”. MSNBC. 31 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  42. ^ Das, Lina (29 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift: 'Men hand me inspiration on a plate'. Daily Mail (London). Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2013. 
  43. ^ “News: Taylor Swift's High School Names Auditorium in Her Honor”. CMT. 23 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  44. ^ du Lac, J. Freedom (27 tháng 2 năm 2008). “Taylor Swift Puts The Kid in Country”. The Washington Post. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2012. 
  45. ^ Grigoriadis, Vanessa (5 tháng 3 năm 2009). “The Very Pink, Very Perfect Life of Taylor Swift | Music News”. Rolling Stone. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2012. 
  46. ^ Jo, Nancy (2 tháng 1 năm 2014). “Taylor Swift and the Growing of a Superstar: Her Men, Her Moods, Her Music”. Vanity Fair. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  47. ^ Vicky Castro (6 tháng 2 năm 2015). “How to Succeed as an Entrepreneur, Taylor Swift Style”. Inc.. Monsueto Ventures. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2015. 
  48. ^ “Taylor Swift: The Garden In The Machine”. American Songwriter. 2 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  49. ^ a ă “Songwriter Taylor Swift Signs Publishing Deal With Sony/ATV”. BMI. 12 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012. 
  50. ^ a ă Kosser, Michael (3 tháng 6 năm 2010). “Liz Rose: Co-Writer to the Stars”. American Songwriter. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012. 
  51. ^ “How Liz Rose and Taylor Swift Wrote the Hits”. Majorly Indie. 20 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012. 
  52. ^ Blender, April 2008, page 54
  53. ^ Eisenbery, Dana (25 tháng 10 năm 2012). “How Taylor Swift Conquered The Music World By Age 22”. Business Insider. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2014. 
  54. ^ DeLuca, Dan (11 tháng 11 năm 2008). “Focused on 'great songs' Taylor Swift isn't thinking about "the next level" or Joe Jon as gossip”. Philadelphia Daily News. tr. 1. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012. 
  55. ^ Willman, Chris (5 tháng 2 năm 2008). “Taylor Swift's Road to Fame – The chipmunk years”. Entertainment Weekly. tr. 2. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  56. ^ a ă Preston, John (26 tháng 4 năm 2009). “Taylor Swift: the 19-year-old country music star conquering America – and now Britain – The Daily Telegraph. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  57. ^ Matthew Belloni (8 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift's Ex-Manager Suing Over Contract Dispute”. Billboard. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2015. 
  58. ^ a ă “Taylor Swift in Wonderland”. Rolling Stone. 
  59. ^ “Toby Keith, Cowboy Capitalist: Country's $500 Million Man – Forbes”. Forbes. 
  60. ^ Reuter, Annie (22 tháng 6 năm 2009). “Taylor Swift Interview”. Marie Claire. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  61. ^ Taylor Swift (CD). Taylor Swift. Big Machine Records. 2006. BMR120702. 
  62. ^ a ă “Taylor Swift: Album Guide”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  63. ^ a ă Frere, Sasha. “Prodigy”. The New Yorker. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  64. ^ Tamarkin, Jeff. “Taylor Swift > Review”. Allmusic. Macrovision Corporation. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010. 
  65. ^ Bell, Rick. Taylor Swift review”. Country Standard Time. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010. 
  66. ^ Neal, Chris (4 tháng 12 năm 2006). Taylor Swift review”. Country Weekly. American Media, Inc. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010. 
  67. ^ Rosenbaum, Ken (12 tháng 11 năm 2006). “The Who's 1st disc in 24 years, 'Endless Wire,' is a mixed bag”. The Toledo Blade (Block Communications). tr. 12. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010. 
  68. ^ A Young Outsider's Life Turned Inside Out By Jon Caramanica, The New York Times dated September 5, 2008.
  69. ^ Willman, Chris (5 tháng 2 năm 2008). “Taylor Swift's Road to Fame”. Entertainment Weekly. tr. 3. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  70. ^ Cowling, Lauren. “5 of Taylor Swift's Most Country Performances”. Country Outfitter Life. 
  71. ^ “Taylor Swift Joins Rascal Flatts Tour”. CMT. 18 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2010. 
  72. ^ “TRL Embraced Me for who I Am”. MTV. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2010. 
  73. ^ Gonzalez, John (27 tháng 9 năm 2009). “Taylor Swift comes to VanAndel Arena this week on Fearless Tour”. Michigan Live. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  74. ^ a ă â b Caramanica, Jon (7 tháng 11 năm 2008). “My Music, MySpace, My Life”. The New York Times. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  75. ^ “Taylor Swift No. 1 on iTunes”. Great American Country. Scripps Networks Interactive. 19 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2010. 
  76. ^ “Teardrops on My Guitar – Taylor Swift”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010. 
  77. ^ Harris, Chris (19 tháng 11 năm 2008). “Taylor Swift Scores First Chart-Topping Debut With Fearless”. MTV. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2008. 
  78. ^ “Taylor Swift Tops 20 Million in Record Sales” (Thông cáo báo chí). Big Machine Records. 31 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2011. 
  79. ^ “Taylor Swift owns top of country chart”. Country Standard Time. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2008. 
  80. ^ “Wal-Mart "Eyes" New Taylor Swift Project”. Great American Country. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2008. 
  81. ^ a ă â “News: 20 Questions With Taylor Swift”. CMT. 12 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  82. ^ “Interview with Taylor Swift”. Time. 23 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  83. ^ “The Week in Review – Morning Call”. The Morning Call. 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  84. ^ “Taylor Swift Embraces the Meet & Greet”. Great American Country. 31 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  85. ^ vh1 (24 tháng 3 năm 2015). “Opening Acts Who Became Bigger Than The Headliner”. VH1. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  86. ^ Burch, Cathalena E. (31 tháng 3 năm 2011). “Eric Church's Taylor Swift story: Welcome to StarNet – Tucson, Arizona”. Arizona Daily Star. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012. 
  87. ^ “Taylor Swift Joins George Straits 2007 Tour”. CMT. 17 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2010. 
  88. ^ “20 Questions With Taylor Swift”. CMT. 12 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  89. ^ “Brad Paisley Plans Tour With Three Opening Acts”. CMT. 9 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2010. 
  90. ^ “Taylor Swift Joins Tim McGraw, Faith Hill on Tour”. CMT. 1 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2010. 
  91. ^ Fabian, Shelly. “Rascal Flatts & Taylor Swift in Concert – Sacramento, CA – April 10, 2008”. About.com. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  92. ^ a ă “Taylor Swift Youngest Winner of Songwriter/Artist Award”. Great American Country. 16 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  93. ^ “Photos: All Taylor Swift Pictures: Horizon Award Winner Poses in the Pressroom”. CMT. 7 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  94. ^ “Photos: 43rd Annual ACM Awards – Onstage: Winners: Acceptance Speech”. CMT. 18 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  95. ^ “Taylor Swift, Rascal Flatts, Carrie Underwood Score at 2008 AMA Awards”. Roughstock.com. 24 tháng 11 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  96. ^ “Amy Winehouse Wins Best New Artist, Kanye West Pays Tribute to Mom – Grammy Awards 2008, Grammy Awards”. People. 2 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  97. ^ a ă Fearless Platinum Edition (CD). Taylor Swift. Big Machine Records. 2008. BMRATS0250. 
  98. ^ a ă Rosen, Jody (13 tháng 11 năm 2008). “Albums Reviews – Fearless”. Rolling Stone. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  99. ^ “Fearless by Taylor Swift”. Metacritic. CBS Interactive. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2010. 
  100. ^ Love, Josh (19 tháng 11 năm 2008). “Taylor Swift's Teenage Country-Star Tales, Spiked With Actual Wisdom”. The Village Voice. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  101. ^ a ă “Robert Christgau: CG: taylor swift”. robertchristgau.com. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  102. ^ Caramanica, Jon (19 tháng 12 năm 2008). “Sounds of Swagger and Sob Stories”. The New York Times. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2008. 
  103. ^ “Power 100: Taylor Swift”. Billboard. 26 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2014. 
  104. ^ “CMA Announces Industry SRO Awards Nominees”. AllAccess.com. 21 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2014. 
  105. ^ Keel, Beverly (9 tháng 11 năm 2008). “Taylor Swift: Regular teenager, country star”. The Tennessean. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  106. ^ Paul GreinMarch 22, 2012 (22 tháng 3 năm 2012). “Week Ending March 18, 2012. Songs: Your ’80s Party Mix-Tape”. Yahoo! Music. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  107. ^ “Love Story – Taylor Swift”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2011. 
  108. ^ Ben-Yehuda, Ayala (13 tháng 8 năm 2009). “Black Eyed Peas, Jason Mraz Tie Records on Billboard Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2010. 
  109. ^ Grein, Paul (12 tháng 5 năm 2011). “Chart Watch Extra: 20 Years Of Top Albums”. Yahoo! Music. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2011. 
  110. ^ “Taylor Swift's Fearless Makes History With No 1 Debut on Billboard's Top 200 All-Genre Album Sales Chart”. Great American Country. 20 tháng 11 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2008. 
  111. ^ Herrera, Monica (8 tháng 10 năm 2009). “Taylor Swift Announces Second Leg Of 'Fearless' Tour”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  112. ^ “Taylor Swift 2010 Tour Dates”. TaylorSwift.com. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2010. 
  113. ^ Rock and Pop Music. “Taylor Swift: the 19-year-old country music star conquering America – and now Britain”. Telegraph. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  114. ^ Mapes, Jillian (23 tháng 11 năm 2010). “Taylor Swift Announces 'Speak Now' World Tour”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  115. ^ “Taylor Swift's Journey to Fearless: Programs: The Hub: Discovery Press Web”. Discovery Press Web. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2011. 
  116. ^ Ryan, Sarah (10 tháng 8 năm 2009). “Taylor Swift Pranks Keith Urban | Great American Country”. Great American Country. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  117. ^ “CMT: Photos: CMT Giants: Alan Jackson: Taylor Swift Sings for Alan Jackson (2 of 14)”. CMT. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  118. ^ “CMT.com: CMT Crossroads: About the Episode”. CMT: Country Music Television. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  119. ^ Gerome, John (7 tháng 4 năm 2009). “Stars salute Strait as ACM's Artist of the Decade”. USA Today. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  120. ^ “News: Headlines: Tim McGraw, Taylor Swift: New Songs Coming”. Great American Country. 29 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  121. ^ Vena, Jocelyn (6 tháng 11 năm 2009). “John Mayer Talks Taylor Swift Collaboration 'Half of My Heart'. MTV. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  122. ^ mtv. “Kellie Pickler Has Her ‘Best Days’ Thanks To Taylor Swift”. MTV. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  123. ^ “Boys Like Girls Dish on Taylor Swift”. Seventeen. Hearst Corporation. 15 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  124. ^ Vena, Jocelyn (26 tháng 1 năm 2010). “Better Than Ezra 'Honored' By Taylor Swift's Performance Of 'Breathless' At Haiti Telethon”. MTV. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  125. ^ “Full text of "Hannah Montana: The Movie". Archive.org. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  126. ^ Joal Ryan (6 tháng 3 năm 2009). “Wild Card American Idol Holds Off Taylor Swift CSI”. E!. 
  127. ^ Caramanica, Jon (6 tháng 3 năm 2009). “OMG! Taylor Swift Does 'CSI'! – The New York Times. The New York Times. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2012. 
  128. ^ Daniel Kreps (6 tháng 3 năm 2009). “Taylor Swift Hits the Small Screen as Murdered Teen on CSI”. Rolling Stone. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2012. 
  129. ^ “Taylor Swift appears in an engrossing 'CSI' investigation – The Watcher”. Chicago Tribune. 4 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2012. 
  130. ^ Strecker, Erin (2 tháng 1 năm 2015). “Remember When Taylor Swift Shined as 'Saturday Night Live' Host?”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2015. 
  131. ^ Barrett, Annie (8 tháng 11 năm 2009). “Taylor Swift hosted the best 'Saturday Night Live' of the season so far ... really!?!”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2012. 
  132. ^ Willman, Chris (10 tháng 2 năm 2010). “Taylor Swift’s Dynamic Screen Presence Comes Through in Valentine’s Day”. CMT. 
  133. ^ Betsy Sharkey (12 tháng 2 năm 2010). “Review: 'Valentine's Day' – Page 2 – Los Angeles Times”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  134. ^ Mick LaSalle, Chronicle Movie Critic (12 tháng 2 năm 2010). “Review: Happy 'Valentine's Day'. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  135. ^ Pols, Mary (12 tháng 2 năm 2010). “Valentine's Day Review: A Soggy Love Note”. Time. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  136. ^ McCarthy, Todd (7 tháng 2 năm 2010). “Valentine's Day – Film Reviews”. Variety. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  137. ^ Elizabeth Weitzman. “Review of Valentine's Day”. Daily News (New York). Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  138. ^ Jonathan Keefe (15 tháng 8 năm 2012). “Single Review: Taylor Swift, "We Are Never Ever Getting Back Together". Slant Magazine. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2012. 
  139. ^ Vena, Jocelyn (28 tháng 12 năm 2009). “New Taylor Swift Song Included In ‘Valentine’s Day’ Featurette”. MTV. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  140. ^ Caulfield, Keith (21 tháng 8 năm 2012). “Official: Taylor Swift's 'Never' Song Sells 623,000; Sets Female Digital Record”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2012. 
  141. ^ Pietroluongo, Silvio (26 tháng 1 năm 2010). “Taylor Swift Swipes Female Download Record; Haiti Tracks Chart”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010. 
  142. ^ Michael Y. Park; Nicole Sia. “Taylor & Taylor Romance Was Overblown, Says Source”. People. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  143. ^ “Billboard Bits: Taylor Swifts Offers 'Apology' To Taylor Lautner, Christina Aguilera Confirms Split”. Billboard. 
  144. ^ Caplan, David (8 tháng 9 năm 2008). “Scoop”. People (magazine). Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  145. ^ Rizzo, Monica (24 tháng 11 năm 2008). “Scoop – Couples, Camilla Belle, Joe Jonas”. People. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  146. ^ “Kanye calls Taylor Swift after 'View' appearance”. Associated Press/MSNBC. 15 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2009. 
  147. ^ “Sorry, MTV VMA queen Taylor Swift: Kanye West is king of award-show tantrums”. Los Angeles Times. 13 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  148. ^ “Taylor Swift Thanks "Gracious" Beyonce for Inviting Her Onstage After Kanye Stunt at VMAs”. Rolling Stone. 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  149. ^ Anderson, Kyle (16 tháng 9 năm 2009). “Kanye West's VMA Interruption Gives Birth To Internet Photo Meme”. MTV. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2009. 
  150. ^ Horner, Marianne (19 tháng 9 năm 2009). “Taylor Swift Seeks Clarity Amidst Story That Just Won't Die”. The Boot. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  151. ^ a ă Montgomery, James (2 tháng 2 năm 2010). “Why You Shouldn't Hate on Taylor Swift”. MTV. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  152. ^ Kreps, Daniel (1 tháng 2 năm 2010). “Beyonce, Taylor Swift Dominate 2010 Grammy Awards”. Rolling Stone. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2012. 
  153. ^ a ă Caramanica, Jon (1 tháng 2 năm 2010). “For Young Superstar Taylor Swift, Big Wins Mean Innocence Lost”. The New York Times. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  154. ^ Gilbert, Calvin (3 tháng 12 năm 2009). “Taylor Swift Nets Eight Grammy Nominations”. CMT. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2012. 
  155. ^ Kreps, Daniel (4 tháng 2 năm 2010). “Taylor Swift's Label Lashes Out at Critics of Grammy Performance”. Rolling Stone. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  156. ^ Collis, Clark (31 tháng 1 năm 2010). “Taylor Swift and Stevie Nicks' Grammys duet: Out of sight, or out of tune?”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  157. ^ Thompson, Gayle (2 tháng 2 năm 2010). “Taylor Swift & Stevie Nicks' Grammy Performance Invites Critics, Defenders”. The Boot. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  158. ^ Nicks, Stevie (29 tháng 4 năm 2010). “The 2010 TIME 100 – Taylor Swift”. Time. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  159. ^ Schneider, Marc (11 tháng 10 năm 2011). “Taylor Swift Named Billboard Woman of the Year”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  160. ^ “Taylor Swift Wins CMA Entertainer of the Year”. Fox News Channel. 11 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2010. 
  161. ^ Big Machine Press Release. Taylor Swift Wins Album of the Year at Academy of Country Music Awards; April 6, 2009 [archived April 16, 2009; Retrieved April 7, 2009].
  162. ^ Ditzian, Eric (2009). “Taylor Swift, Michael Jackson Big Winners at American Music Awards”. MTV. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  163. ^ CMT. Taylor Swift Will Receive Hal David Starlight Award for Songwriting; May 11, 2010 [Retrieved May 15, 2012].
  164. ^ Taylor Swift, Toby Keith, and Wynn Varble Win Big at NSAI Awards; October 19, 2009 [Retrieved May 15, 2012].
  165. ^ 2009 Artists of the Year; December 10, 2009 [Retrieved May 21, 2012].
  166. ^ The 2010 TIME 100 – Taylor Swift. Time. April 29, 2010 [Retrieved April 22, 2012].
  167. ^ a ă Caramanica, Jon (20 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift, Angry on 'Speak Now' – The New York Times. The New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2010. 
  168. ^ Powers, Ann (25 tháng 10 năm 2010). “Album review: Taylor Swift's 'Speak Now'. Los Angeles Times. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010. 
  169. ^ Weber, Theon (3 tháng 11 năm 2010). “The Iceberg Songs of Taylor Swift”. The Village Voice. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010. 
  170. ^ Speak Now (2010): Reviews. Metacritic. Retrieved on 2010-10-26.
  171. ^ Sheffield, Rob (26 tháng 10 năm 2010). “Speak Now by Taylor Swift”. Rolling Stone. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010. 
  172. ^ Sisario, Ben (3 tháng 11 năm 2010). “Taylor Swift Album Is a Sales Triumph”. The New York Times. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  173. ^ “Taylor Swift's '˜Speak Now' Moves Back to Number One on Billboard's Hot 200, Finishes Third for Year”. Yahoo! Voices. 25 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2012. 
  174. ^ Lewis, Randy (24 tháng 9 năm 2010). “Taylor Swift joins Kris Kristofferson, Vince Gill, Lionel Richie and Emmylou Harris at Country Hall of Fame benefit”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  175. ^ Willman, Chris (24 tháng 9 năm 2010). “Taylor Swift, Kris Kristofferson Bond at Country Music Hall of Fame Fundraiser”. CMT. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  176. ^ “Taylor Swift's New Single, "Mine", Shipped to Country Radio After Leak”. Country Music Television. 4 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2010. 
  177. ^ Grein, Paul (1 tháng 6 năm 2011). “Week Ending May 29, 2011. Albums: Gaga Goes On Sale”. Yahoo! Music. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2011. 
  178. ^ “Taylor Swift to Release SPEAK NOW WORLD TOUR – LIVE, Concert CD/DVD & CD/Blu-Ray Set, on November 21st”. PR Newswire. 21 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  179. ^ a ă Allen, Bob (29 tháng 3 năm 2012). “Hot Tours: Taylor Swift, George Strait, Cirque Du Soleil”. Billboard. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2012. 
  180. ^ Perpetua, Matthew. “Videos: Taylor Swift's Coast-to-Coast Cover Songs”. Rolling Stone. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  181. ^ Roland, Tom (2 tháng 12 năm 2011). “Taylor Swift: Billboard's Woman of the Year”. Billboard. tr. 2. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  182. ^ Glazer, Eliot (31 tháng 10 năm 2011). “Watch Taylor Swift Duet With Shawn Colvin”. New York. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  183. ^ Roland, Tom (2 tháng 12 năm 2011). “Taylor Swift: Billboard's Woman of the Year”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  184. ^ “Taylor Swift News and Blog”. Taylorswift.com. 21 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011. 
  185. ^ Wyland, Sarah (12 tháng 2 năm 2012). “Taylor Swift Takes Home Two GRAMMYs at Tribute-Filled Show”. Great American Country. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2012. 
  186. ^ Deerwester, Jayme (12 tháng 2 năm 2012). “Adoration for Adele: 6 Grammys”. USA Today. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  187. ^ Suddath, Claire (12 tháng 2 năm 2012). “Taylor Swift, "Mean" | The Best and Worst of the 2012 Grammys”. Time. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  188. ^ Shelburne, Craig (18 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift Named NSAI’s Songwriter-Artist of the Year”. CMT. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  189. ^ Smith, Hazel (24 tháng 10 năm 2011). “News: HOT DISH: Taylor Swift Sings Alan Jackson's Masterpiece at Nashville Songwriters Celebration”. CMT. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  190. ^ “Taylor Swift wins ACM entertainer of the year”. Yahoo! News. Associated Press. 1 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  191. ^ “CMA Awards 2011: Taylor Swift wins entertainer of the year”. CBS News. 9 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  192. ^ Kellogg, Jane (20 tháng 11 năm 2011). “AMAs 2011: Winners and Nominees Complete List”. Hollywood Reporter. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  193. ^ Roland, Tom (2 tháng 12 năm 2011). “Taylor Swift: Billboard's Woman of the Year”. Billboard. tr. 1. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  194. ^ Herrera, Monica (15 tháng 3 năm 2012). “Taylor Swift, Arcade Fire Talk 'Hunger Games'. Rolling Stone. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2012. 
  195. ^ Power, Ed. “Keep It Civil”. Hot Press. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2012. 
  196. ^ “Taylor Swift releases music video for 'Safe & Sound,' 'Hunger Games' single”. ABC. 23 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  197. ^ a ă “Swift's Poetry Turns into Globe-Nominated Tune”. Deadline.com. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  198. ^ Kim, Wook (11 tháng 2 năm 2013). “Grammys 2013: The Complete List of Winners”. Time. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  199. ^ Labrecque, Jeff (12 tháng 12 năm 2012). “Golden Globe nominations: 'Lincoln' leads with 7 nods”. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2012. 
  200. ^ “Country Chart News: Top 30 Digital Singles: The Week of April 11, 2012”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2014. 
  201. ^ Horowitz, Steven J. (20 tháng 4 năm 2012). “B.o.B Explains Origins of Taylor Swift Collaboration "Both of Us". HipHopDX. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  202. ^ Goldberg, Matt (17 tháng 3 năm 2011). “Taylor Swift Joins Voice Cast of THE LORAX; New Image Released”. Collider. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2011. 
  203. ^ “The Lorax”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2012. 
  204. ^ “The Lorax”. Metacritic. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2012. 
  205. ^ “Dr. Seuss' The Lorax (2012)”. Box Office Mojo. Internet Movie Database. 
  206. ^ “Taylor Swift Sings Along with Keith Urban and John Mayer – in the Audience!”. People. 27 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  207. ^ Anderson, Danielle (8 tháng 9 năm 2010). “RoundUp”. People. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  208. ^ Mary Margaret; Stephanie Rygorsky (8 tháng 5 năm 2008). “Taylor Swift on Her 'Stalker' Moment with John Mayer”. People. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  209. ^ Vena, Jocelyn (6 tháng 11 năm 2009). “John Mayer Talks Taylor Swift Collaboration 'Half of My Heart'. MTV. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  210. ^ “Taylor Swift, Jake Gyllenhaal Break Up: People.com”. PEOPLE. 
  211. ^ Hammel, Sara (4 tháng 1 năm 2011). “Taylor Swift & Jake Gyllenhaal Break Up: Source”. People. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  212. ^ West, Kay (20 tháng 1 năm 2011). “Taylor Swift & Jake Gyllenhaal: Back Together Again?”. People. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  213. ^ Hammel, Sara (28 tháng 2 năm 2011). “Taylor Swift, Jake Gyllenhaal's Oscar Run-In”. People. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  214. ^ Willman, Chris (13 tháng 6 năm 2012). “Scott Borchetta on Taylor, Tim, Martina, the Band Perry ... and the Personalized Machinery of Big Machine”. Yahoo! Music. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  215. ^ Mansfield, Brian (17 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift sees 'Red' all over”. USA Today. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  216. ^ Macpherson, Alex (18 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift: 'I want to believe in pretty lies'. The Guardian (London). Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  217. ^ “Taylor Swift: Red | Music Review”. Slant Magazine. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  218. ^ “Red Reviews, Ratings, Credits, and More”. Metacritic (CBS Interactive). Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  219. ^ Caramanica, Jon (24 tháng 10 năm 2012). “No More Kid Stuff for Taylor Swift”. The New York Times. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2013. 
  220. ^ Caramanica, Joe (12 tháng 12 năm 2012). “Bright Colors, Grown-Up Concerns and Bruises: Jon Caramanica's Top 10 Albums of 2012”. The New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2013. (cần đăng ký mua)
  221. ^ “Pop, Rock & Jazz, Oct 21”. The Sunday Times. 21 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. ...Swift’s see-saw vocal steals the show... Swift’s bare-all lyrics about exes are still sublime, but her relationship with her country-pop past is on shaky ground (cần đăng ký mua)
  222. ^ Dolan, Jon (ngày 18 tháng 10 năm 2012). “Review: Taylor Swift – Red”. Rolling Stone. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2012. 
  223. ^ Chuck Dauphin (29 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift Media Blitz: Over 70 Outlets in One Day”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  224. ^ Bernstein, Alyssa (16 tháng 10 năm 2012). "All Access Nashville with Katie Couric" A Special Edition of "20/20" Airs Friday, October 26 at 9 PM ET on ABC”. ABC News. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  225. ^ Tamar Anitai (6 tháng 9 năm 2012). “Taylor Swift Joined By Furry Friends For ‘Never Ever’ VMA Performance”. MTV. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  226. ^ Jocelyn Vena (20 tháng 2 năm 2013). “Taylor Swift Gets Into ‘Trouble’ During Brit Awards”. MTV. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  227. ^ Carly Wolkoff (12 tháng 11 năm 2012). “EMA 2012 Owned By Justin Bieber, Taylor Swift”. MTV. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  228. ^ Amy Sciarretto (28 tháng 1 năm 2013). “Taylor Swift Sings in French (For a Moment) at the NRJ Awards”. Tasteofcountry.com. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  229. ^ Sam Lansky (25 tháng 1 năm 2013). “Taylor Swift Performs "Love Story" & "We Are Never Ever Getting Back Together" At 40 Principales: Watch”. Idolator. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  230. ^ “Multi Award Winning Taylor Swift Confirmed To Perform At The 26th Annual Aria Awards!” (PDF). ARIA. 7 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  231. ^ Trust, Gary (22 tháng 8 năm 2012). “Taylor Swift Scores First Hot 100 No. 1”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2012. 
  232. ^ “Taylor Swift”. Official Charts Company. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  233. ^ “Taylor Swift's 'Red' Sells 1.21 Million; Biggest Sales Week for an Album Since 2002”. Billboard. 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2012. 
  234. ^ Adams, Cameron (9 tháng 5 năm 2013). “Taylor Swift to play stadiums on Australian Red tour”. The Advertiser (Adelaide). Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2013. 
  235. ^ a ă Allen, Bob (3 tháng 7 năm 2014). “Taylor Swift's Red Wraps as All-Time Country Tour”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  236. ^ “Taylor Swift Announces 2014 Red Tour Dates in Asia”. Theboot.com. 13 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. 
  237. ^ “Watch Nelly and Taylor Swift Perform in St. Louis”. Complex. 21 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013. 
  238. ^ Wyland, Sarah (8 tháng 7 năm 2014). “Taylor Swift’s RED Tour Breaks Another Record”. Great American Country. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2015. 
  239. ^ “Taylor Swift's "Sweeter Than Fiction": Hear The Shimmery, Jack Antonoff-Assisted Tune”. Music News, Reviews, and Gossip on Idolator.com. 
  240. ^ Labrecque, Jeff (12 tháng 12 năm 2013). '12 Years a Slave' and 'American Hustle' lead Golden Globe nominees”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2013. 
  241. ^ Bonaguro, Alison (25 tháng 1 năm 2013). “News: OFFSTAGE: Tim McGraw Wanted to Make Taylor Swift Duet an Event”. CMT. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  242. ^ “Dave Grohl, Jason Mraz join CMA Awards lineup, Taylor Swift to perform with Alison Krauss, Vince Gill & more | Tune in Music City”. The Tennessean. 21 tháng 10 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2013. 
  243. ^ Blistein, Doyle (4 tháng 6 năm 2013). “Taylor Swift Joins Rolling Stones for 'As Tears Go By'. Rolling Stone. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  244. ^ “Taylor Swift Joins Florida Georgia Line Onstage for 'Cruise'. Taste of Country. 2 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013. 
  245. ^ Lanford Beard (1 tháng 5 năm 2013). “Taylor Swift says 'I do' to 'New Girl' -- EXCLUSIVE FIRST LOOK”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013. 
  246. ^ Amy Wilkinson (14 tháng 5 năm 2013). “‘New Girl’ Season Finale: Taylor Swift, A Wedding And A Badger”. MTV News. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013. 
  247. ^ Lesley Goldberg (28 tháng 3 năm 2013). “Taylor Swift To Guest Star On 'New Girl' Season Finale”. Billboard. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013. 
  248. ^ Busis, Hillary (27 tháng 9 năm 2013). “Taylor Swift will co-star in long-awaited adaptation of 'The Giver'. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2013. 
  249. ^ The Giver. Rotten Tomatoes/Flixster. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2014. 
  250. ^ The Giver. Metacritic/CBS Interactive. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2014. 
  251. ^ “The Giver (2014) - Box Office Mojo”. 15 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2014. 
  252. ^ Jon Weisman (13 tháng 5 năm 2013). “Grammy Awards Set for Jan. 26”. Los Angeles Times (Tribune Publishing). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2013. 
  253. ^ Caramanica, Jon (7 tháng 11 năm 2013). “Country Awards Hold Swift Close”. The New York Times. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. 
  254. ^ Crouch, Ian. “Lifetime Achievements: Taylor Swift Says Goodbye to Country Music?”. The New Yorker. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. 
  255. ^ McGovern, Kyle (12 tháng 11 năm 2012). “MTV EMAs 2012: Taylor Swift Is Popular in Europe, Too”. Spin. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  256. ^ “VMAs: The 2013 Winner's List”. Entertainment Weekly. 25 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013. 
  257. ^ Gregoire, Carolyn (19 tháng 11 năm 2012). “Taylor Swift AMA Awards 2012: Pop Star Performs 'I Knew You Were Trouble' (VIDEO)”. The Huffington Post. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  258. ^ Chris Payne (25 tháng 11 năm 2013). “Taylor Swift & Justin Timberlake Win Big at American Music Awards”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  259. ^ Hackett, Vernell (8 tháng 10 năm 2012). “Nashville Songwriters Hall of Fame Adds Mary Chapin Carpenter and More”. The Boot. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  260. ^ Press, Associated (9 tháng 10 năm 2013). “Taylor Swift sets songwriting record”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  261. ^ “Taylor Swift and Conor Kennedy Breakup: Anatomy of a Split”. E! Online. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  262. ^ Taylor Swift (30 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift, Conor Kennedy Split; Couple Break Up”. People. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2012. 
  263. ^ mtv (3 tháng 12 năm 2012). “Taylor Swift And Harry Styles: Timeline To ‘Haylor’”. MTV. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  264. ^ “Taylor Swift & Harry Styles Split Up: Source”. PEOPLE. 
  265. ^ Jacqui Meddings. “Taylor Swift is our new cover goddess”. Cosmopolitan. 
  266. ^ “On the Road with Best Friends Taylor Swift and Karlie Kloss”. Vogue. 13 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  267. ^ 12/05/12 6:09pm 12/05/12 6:09pm (ngày 19 tháng 11 năm 2012). “Who Has Taylor Swift Dated: A Brief History of All The Men in the Universe”. Gawker.com. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2013. 
  268. ^ “The Taylor Swift Slut-Shaming Continues – The Cut”. New York. Ngày 28 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2013. 
  269. ^ Chang, Bee-Shyuan (ngày 15 tháng 3 năm 2013). “Taylor Swift Gets Some Mud on Her Boots”. The New York Times. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  270. ^ Mansfield, Brian (18 tháng 8 năm 2014). “Taylor Swift debuts 'Shake It Off,' reveals '1989' album”. USA Today. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014. 
  271. ^ 1989 (Compact disc liner notes). Taylor Swift. Big Machine Records. 2014. BMRBD0500A. 
  272. ^ Fusilli, Jim (28 tháng 10 năm 2014). “Don’t Like Your Image? Just ‘Shake It Off’”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015. 
  273. ^ Light, Alan (5 tháng 12 năm 2014). “Taylor Swift Cover Story on 1989, Writing Her Own Rules, Going Pop”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  274. ^ a ă “The Reinvention of Taylor Swift”. Rolling Stone. 8 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  275. ^ “Taylor Swift Reveals Five Things to Expect on '1989'. Rolling Stone. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2014. 
  276. ^ Aswad, Jem (ngày 24 tháng 10 năm 2014). “Album Review: Taylor Swift’s Pop Curveball Pays Off With ‘1989’”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2014. 
  277. ^ “Reviews for 1989 by Taylor Swift”. Metacritic. CBS Interactive. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2014. 
  278. ^ Petridis, Alexis. “Taylor Swift: 1989 review – leagues ahead of the teen-pop competition”. The Guardian. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2014. 
  279. ^ “Taylor Swift's New Album: 1989”. Rolling Stone. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014. 
  280. ^ “Watch Taylor Swift's '1989' Secret Sessions Behind The Scenes Video”. Billboard. 
  281. ^ Weber, Lindsey (29 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift, Queen of Celebrity Social-Media”. Vulture. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2014. 
  282. ^ Jason Lipshutz (23 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's 'Blank Space' Gets Dazzling Live Debut at 2014 American Music Awards”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015. 
  283. ^ Lee, Ashley (25 tháng 2 năm 2015). “Taylor Swift: Brit Awards Performance "Blank Space". Hollywood Reporter. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015. 
  284. ^ Kreps, Daniel (30 tháng 8 năm 2014). “Taylor Swift Joins 'The Voice' as Guest Mentor”. Rolling Stone. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2014. 
  285. ^ Trust, Gray (27 tháng 8 năm 2014). “Taylor Swift's 'Shake It Off' Debuts At No. 1 On Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2014. 
  286. ^ Gary Trust (27 tháng 5 năm 2015). “Taylor Swift's 'Bad Blood' Blasts to No. 1 on Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015. 
  287. ^ Gary Trust (11 tháng 3 năm 2015). “Mark Ronson & Bruno Mars Notch 10th Week Atop Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015. 
  288. ^ “The Weeknd at No. 1 on Hot 100, Shawn Mendes earns first Top 10”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2015. 
  289. ^ =Caulfield, Keith (4 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's "1989" debuts with 1.287 million copies sold”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2014. 
  290. ^ Caulfield, Keith. “Taylor Swift's '1989' Beats 'Frozen' As Top Selling Album of 2014”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2015. 
  291. ^ a ă “Taylor Swift named IFPI Global Recording Artist of 2014”. IFPI. 23 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  292. ^ Jordan Weissmann (7 tháng 7 năm 2014). “Taylor Swift Has Written an Op-Ed in the Wall Street Journal”. Slate. The Slate Group LLC. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2015. 
  293. ^ Knopper, Steve (8 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's Label Head Explains Spotify Removal”. Rolling Stone. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  294. ^ Peters, Mitchell (21 tháng 6 năm 2015). “Taylor Swift Pens Open Letter Explaining Why '1989' Won't Be on Apple Music”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015. 
  295. ^ Halperin, Shirley (21 tháng 6 năm 2015). “Apple Changes Course After Taylor Swift Open Letter: Will Pay Labels During Free Trial”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015. 
  296. ^ Rosen, Christopher (25 tháng 6 năm 2015). “Taylor Swift is putting 1989 on Apple Music”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2015. 
  297. ^ “Taylor Swift announces details of 1989 world tour”. The Guardian. 3 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2015. 
  298. ^ Freya Drohan (9 tháng 12 năm 2014). “Taylor Swift announces Irish date for highly anticipated 1989 World Tour”. Independent. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015. 
  299. ^ Mitchell Peters (1 tháng 2 năm 2015). “Taylor Swift Announces Haim as '1989' Tour Opener”. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  300. ^ “Taylor Swift Did Something In 2015 That No Female Musician Has Ever Done Before”. http://www.ibtimes.com/ (bằng tiếng Anh). January 8 2015. 
  301. ^ Bacle, Ariana (16 tháng 2 năm 2015). “Paul McCartney jams with Taylor Swift at 'SNL' afterparty”. EW. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  302. ^ Watts, Cindy (27 tháng 3 năm 2015). “Kenny Chesney tops 12 a.m. with Taylor Swift, Joe Walsh”. Tennessean.com. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  303. ^ Sepinwall, Alan (29 tháng 3 năm 2015). “Watch: Taylor Swift backed up Madonna at the iHeartRadio Music Awards”. Hitfix. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  304. ^ “Taylor Swift: 2014 Billboard Woman of the Year”. Billboard. 10 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  305. ^ Payne, Chris (23 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift Wins Dick Clark Award of Excellence at 2014, Presented by Diana Ross”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  306. ^ Leight, Elias (8 tháng 2 năm 2015). “Taylor Swift Talks Nominated 'Shake It Off' on the Grammys Red Carpet”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  307. ^ Jonze, Tim (25 tháng 2 năm 2015). “Taylor Swift wins international female solo artist at Brit awards 2015”. The Guardian. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  308. ^ “How We Pick the TIME 100”. MSN. 
  309. ^ Betts, Stephen L. (25 tháng 3 năm 2015). “2015 ACM Award Milestone Winners Include Swift, Lambert”. Rolling Stone. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  310. ^ “Taylor Swift dating Calvin Harris”. People. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2015. 
  311. ^ Rhodan, Maya (25 tháng 6 năm 2015). “Taylor Swift and Calvin Harris Are the Highest-Paid Celebrity Couple”. Time. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015. 
  312. ^ “News: CMT Insider Interview: Taylor Swift (Part 1 of 2)”. CMT. 26 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  313. ^ “Taylor's grandma's obituary – Rare Taylor Swift”. Raretaylorswift.webs.com. 7 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2013. 
  314. ^ Cairns, Dan (5 tháng 3 năm 2009). “Swift rise of the anti-diva”. The Australian. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2012. 
  315. ^ Bonaguro, Alison (26 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift Says to Love What You Loved When You Were 6”. CMT. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  316. ^ Lane, Mary M. (2 tháng 5 năm 2012). “James Taylor Talks About Songwriting, Addiction and His New Friend Taylor Swift – The Wall Street Journal. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  317. ^ Bream, Jon (7 tháng 12 năm 2007). “Music: OMG! Taylor's senior year”. Star Tribune. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  318. ^ McCafferty, Dennis (13 tháng 4 năm 2008). “Taylor's Swift rise”. USA Weekend. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012. 
  319. ^ “Swift starts world tour in Asia, pushes "Speak Now' in NY”. Countrystandardtime.com. 23 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  320. ^ “Interview with Taylor Swift”. Time. 23 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  321. ^ “Taylor Swift Style: Singer Won't Take Her Clothes Off, Wants People To Focus On Music”. The Huffington Post. 23 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2015. 
  322. ^ a ă â Roland, Tom (2 tháng 12 năm 2011). “Taylor Swift: Billboard's Woman of the Year”. Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  323. ^ “InStyle meets country singing sensation Taylor Swift”. Instyle.co.uk. 26 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  324. ^ Bonaguro, Alison (25 tháng 7 năm 2011). “News: OFFSTAGE: Taylor Swift Plays Dixie Chicks for a Dixie Chick”. CMT. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  325. ^ Blender, April 2008, page 52
  326. ^ “Taylor Swift, Miranda Lambert a contrast in country styles – Las Vegas Sun News”. Lasvegassun.com. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  327. ^ “Taylor Swift Covered Back of Your Hand by Dwight Yoakam 10/11/11”. YouTube. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  328. ^ Reuter, Annie (7 tháng 3 năm 2012). “Taylor Swift Interview – Taylor Swift Q&A”. Marie Claire. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  329. ^ Rasmussen, Tracy (4 tháng 7 năm 2004). “Moving swiftly towards stardom”. Reading Eagle. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2012. 
  330. ^ Hirschberg, Lynn (23 tháng 11 năm 2009). “Little Miss Sunshine”. The New York Times. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  331. ^ Lewis, Randy (6 tháng 2 năm 2008). “Ready to take wing”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  332. ^ “Taylor Swift's lessons learned from Brad Paisley – Los Angeles Times. Los Angeles Times. 27 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  333. ^ “Taylor Swift Goes Record Shopping with EW”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  334. ^ “Taylor Swift's Favorite Music”. Oprah.com. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  335. ^ Widdicombe, Lizzie. “Taylor Swift Makes Primness Lucrative”. The New Yorker. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  336. ^ Vena, Jocelyn (26 tháng 1 năm 2009). “Taylor Swift Blogs About 'Life-Changing' Cameo On 'CSI,' Britney Spears Poster”. MTV. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  337. ^ “Taylor Swift Loves Hanson”. Fox.com.au. 9 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  338. ^ “Taylor Swift Tweets Her Love of Dashboard Confessional”. Tasteofcountry.com. 1 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  339. ^ Bonaguro, Alison (10 tháng 8 năm 2011). “News: OFFSTAGE: Taylor Swift Covers Fall Out Boy”. CMT. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  340. ^ a ă â “See Taylor Swift's List of Music You Should Hear”. Amazon.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  341. ^ “Celine Dion – At Seventeen (LIVE in HDTV)”. YouTube. 7 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  342. ^ Townsend, Allie (28 tháng 3 năm 2011). “Taylor Swift – The 140 Best Twitter Feeds of 2011”. Time. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  343. ^ a ă “Taylor Swift talks about Red”. Chicago Tribune. 18 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  344. ^ Us Weekly: Taylor Swift Inside My World, "What's on my iPod?", page 24
  345. ^ a ă â “Taylor Swift is listening to ...”. USA Today. 12 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  346. ^ “Taylor Swift: TIME 100 Gala”. Shine on Media. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  347. ^ a ă “Taylor Swift Talks About Women Who Rock”. K955fm.com. 24 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  348. ^ Dickinson, Chrissie (18 tháng 10 năm 2012). 'Stakes are higher now' for Taylor Swift on 'Red'. Chicago Tribune. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  349. ^ Scaggs, Austin (4 tháng 2 năm 2010). “Taylor Swift Opens Up About Her Biggest Year Yet | Music News”. Rolling Stone. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  350. ^ “Taylor Swift Goes Record Shopping with EW”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  351. ^ Roland, Tom (15 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift: The Billboard Cover Story”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  352. ^ Widdicombe, Lizzie. “Taylor Swift Makes Primness Lucrative”. The New Yorker. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  353. ^ Mansfield, Brian (23 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift learns to 'Speak Now,' reveal her maturity”. USA Today. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  354. ^ a ă Adams, Cameron (16 tháng 5 năm 2013). “Taylor Swift is happy to be your break-up musician”. News.com.au. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  355. ^ “Rolling in the Trophies? – Adele”. People. 6 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  356. ^ “Taylor Swift Goes Record Shopping with EW”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  357. ^ “Our Interview with Taylor Swift | Channel Guide Magazine”. Channelguidemagblog.com. 2 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  358. ^ Van, Jonathan. “Taylor Swift: The Single Life – Magazine”. Vogue. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  359. ^ “Taylor Swift | Bio, Pictures, Videos”. Rolling Stone. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  360. ^ Powers, Ann (25 tháng 10 năm 2010). “Album review: Taylor Swift's 'Speak Now' – Los Angeles Times. Los Angeles Times. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  361. ^ a ă â Cooper, Peter (26 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift reaches a turning point with '1989'. The Tennessean. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  362. ^ Mclean, Craig (24 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift: 'Maybe I should just lighten up' – Features – Music”. The Independent (London). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  363. ^ “Women Who Rock: The 50 Greatest Albums of All Time: Taylor Swift, 'Speak Now'. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  364. ^ “Pop and Rock Listings July 22 – 28”. The New York Times. 21 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2012. 
  365. ^ Petridis, Alexis (6 tháng 3 năm 2009). “Taylor Swift: Fearless”. The Guardian (London). Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012. 
  366. ^ “Taylor Swift's appeal soars with her album sales | Tune in Music City”. The Tennessean. 30 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2012. 
  367. ^ Stein, Jeannine; For, / (18 tháng 11 năm 2011). “Taylor Swift weighs in on being a role model”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  368. ^ Rolling Stone, March 2009
  369. ^ Kreps, Daniel (17 tháng 2 năm 2009). “Taylor Swift: The Story Behind Rolling Stone's Cover Story”. Rolling Stone. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  370. ^ Willman, Chris (17 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift Tapes VH1 'Storytellers'. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  371. ^ Tucker, Jeremiah (2 tháng 11 năm 2012). “Jeremiah Tucker: Adulthood takes toll on Swift's songwriting » Lifestyles » The Joplin Globe, Joplin, MO”. Joplinglobe.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  372. ^ Van Meter, Jonathan (17 tháng 1 năm 2012). “Taylor Swift: The Single Life – Magazine”. Vogue. tr. 1. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  373. ^ “Lana, Taylor, and Michelle – Hollywood Prospectus Blog”. Grantland. 1 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012. 
  374. ^ a ă Bonner, Mehera (18 tháng 6 năm 2014). “Taylor Swift Has Been Writing Comments All Over Fan's Instagram Pics, Because She's THE GREATEST”. Seventeen. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  375. ^ Giana Ciapponi (18 tháng 8 năm 2014). “Behind the Scenes of Taylor Swift's New Music Video, "Shake It Off". ravishly.com. ravishly.com. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2015. 
  376. ^ “Taylor Swift's Gift Giving of 2014” (Video upload). Taylor Swift on YouTube. Google Inc. 31 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2015. 
  377. ^ Duboff, Josh (17 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift Invited Hundreds of Fans into Her Home for Cookies and Dancing”. Vanity Fair. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  378. ^ “Billboard Music Awards: Taylor Swift thanks her fans for being her 'longest and best relationship'. Metro. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2015. 
  379. ^ “Taylor Swift Tracked Down a Fan at the GRAMMYs and Brought Her Backstage”. ET. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2015. 
  380. ^ “The Amazing Thing Taylor Swift Did for Two Fans at the iHeartRadio Awards is Just Taylor Being Taylor”. Seventeen. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2015. 
  381. ^ Erin Strecker (27 tháng 1 năm 2015). “Read Taylor Swift's Sweet Message to Bullied Fan”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2015. 
  382. ^ a ă â Widdicombe, Lizzie. “Taylor Swift Makes Primness Lucrative”. The New Yorker. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012. 
  383. ^ Hackett, Vernell (29 tháng 7 năm 2009). “Taylor Swift Talks Daydreams Come to Life”. The Boot. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  384. ^ Van, Jonathan (17 tháng 1 năm 2012). “Taylor Swift: The Single Life – Magazine”. Vogue. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012. 
  385. ^ “Behind the Scenes: Taylor Swift Cover Shoot – Video”. Vogue. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012. 
  386. ^ Holt, Emily (1 tháng 7 năm 2011). “American Idols: Icons of Stateside Style – Vogue Daily”. Vogue. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012. 
  387. ^ “People’s Best Dressed, Taylor Swift Best Dressed 2014”. People. 17 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  388. ^ Hannah Lyons Powell (24 tháng 2 năm 2015). “Taylor Swift wins Woman Of The Year award – ELLE Style Awards 2015”. Elle Uk. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  389. ^ Jessica Roy (18 tháng 5 năm 2015). “Taylor Swift Tops the 2015 Maxim Hot 100”. Maxim. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  390. ^ “Taylor Swift for L.E.I Jeans – StyleList”. Main.stylelist.com. 15 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  391. ^ “Taylor Swift at Top for Fourth Week”. Great American Country. 20 tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  392. ^ “Taylor Swift Launches Sundress Line – Ready-to-Wear and Sportswear – Media”. Women's Wear Daily. 29 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  393. ^ “Taylor Swift to have greeting card line”. USA Today. 18 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  394. ^ Serpe, Gina (29 tháng 10 năm 2008). “Taylor Swift Gets All Dolled Up”. E!. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2010. 
  395. ^ “Taylor Swift: NHL's New Spokesperson”. NHL FanHouse. 3 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2010. 
  396. ^ “Sony Electronics News and Information”. Sony. 26 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  397. ^ Vena, Jocelyn (4 tháng 8 năm 2009). “Taylor Swift Shares Her Rock-Star Life In 'Band Hero' – Music, Celebrity, Artist News”. MTV. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  398. ^ Garcia, Jennifer (27 tháng 10 năm 2009). “Photo: Taylor Swift Rocks Out for Band Hero”. People. 
  399. ^ “Target lands Taylor Swift exclusive – Minneapolis / St. Paul Business Journal”. The Business Journals. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  400. ^ Anne Bratskeir (3 tháng 5 năm 2010). “Taylor Swift, a new CoverGirl”. Newsday. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  401. ^ Nika, Colleen (3 tháng 7 năm 2012). “Taylor Swift to Launch Second Fragrance, 'Wonderstruck Enchanted'. Rolling Stone. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  402. ^ “First Look Taylor Swift Flies High in New Target Commercial”. E!. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. 
  403. ^ “Taylor Swift Plans TV Appearances For 10/22 Launch Of "Red" Album, Paid Song Downloads Top 3.8 Million In Advance Of Release”. PR Newswire. 17 tháng 10 năm 2012. 
  404. ^ Hampp, Andrew (9 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift Teams With Walgreens For Exclusive Store To Promote 'Red'. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  405. ^ “Diet Coke Signs Taylor Swift As Brand Ambassador | News – Advertising Age”. Adage.com. 25 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  406. ^ Gregory DelliCarpini Jr. (29 tháng 5 năm 2013). “Taylor Swift Reveals Third Fragrance: Taylor by Taylor Swift”. Billboard. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  407. ^ Amy Sciarretto (24 tháng 12 năm 2012). “Taylor Swift Is Photogenic in Sony Camera Commercial”. Taste Of Country.com. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  408. ^ “American Greetings Sends Taylor Swift Greeting Card Mobile App Abroad”. PR Newswire. 24 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  409. ^ Irene Corosu (17 tháng 6 năm 2014). “AirAsia unveiled as the official airline of Taylor Swift’s RED Tour throughout South East Asia”. PHAR Partnerships. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  410. ^ “Qantas named exclusive official airline for Australia and New Zealand leg of Taylor Swift’s The RED Tour”. Qantas News Room. 21 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  411. ^ Chris Reed (25 tháng 11 năm 2015). “Taylor Swift melts Cornetto’s brand image in Asia”. Campaign Asia. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  412. ^ “Taylor Swift”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2014. 
  413. ^ Marianne Mychaskiw (1 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift Is Launching Her Fourth Fragrance!”. InStyle. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  414. ^ Stephen L. Betts (10 tháng 10 năm 2008). “Reba, Martina,Taylor Making Sure Every Woman Counts”. The Boot. 
  415. ^ Grigoriadis, Vanessa (5 tháng 3 năm 2009). “The Very Pink, Very Perfect Life of Taylor Swift”. Rolling Stone. 
  416. ^ Moss, Hilary (2 tháng 4 năm 2012). “Michelle Obama Honors Taylor Swift, Taylor Swift So Honored”. New York. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  417. ^ Pacella, Megan (15 tháng 4 năm 2012). “Taylor Swift Reflects on Meeting First Lady Michelle Obama”. Taste of Country. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2012. 
  418. ^ Macsai, Dan (October 19, 2012). "Taylor Swift on Going Pop, Ignoring the Gossip and the Best (Worst) Nickname She's Ever Had". Time.
  419. ^ “Taylor Swift: Kennedys Should Be So Lucky to Have Her in the Family, Says Boyfriend Conor's Grandmother”. E! Online. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  420. ^ Van Meter, Jonathan (14 tháng 1 năm 2012). “Taylor Swift: The Single Life – Magazine”. Vogue. tr. 6. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2012. 
  421. ^ CELEBScom (31 tháng 1 năm 2012). “Ethel & Rory Kennedy talk Taylor Swift and "Ethel" at the Celebs.com Studio at Sundance”. YouTube. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2012. 
  422. ^ Hoby, Hermione (23 tháng 8 năm 2014). “Taylor Swift: 'Sexy? Not on my radar'. The Guardian. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2015. 
  423. ^ Selby, Jenn (20 tháng 5 năm 2015). “Taylor Swift changes her stance on feminism: 'Misogyny is ingrained in people from the time they are born'. The Independent (London). Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2015. 
  424. ^ “Portia Joins Ellen To Stop The Hate”. E!. 10 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2012. 
  425. ^ Koday, Dan. “Taylor Swift's Mission: Take a Stand Against Hate! – Seventeen”. Seventeen.com. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  426. ^ a ă Hawgood, Alex (5 tháng 11 năm 2010). “For Gays, New Songs of Survival”. The New York Times. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  427. ^ “Is Taylor Swift's New Anti-Bullying Video Simply "Gay-washing" For Pink Dollars? / Queerty”. Queerty.com. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  428. ^ “MTV adds social activism category to VMAs”. Reuters. 4 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  429. ^ “Grammy Awards 2010 Winners & Nominees”. People. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  430. ^ “Grammy Awards 2012: Complete Winners And Nominees List”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  431. ^ Zack O'Malley Greenburg (11 tháng 2 năm 2013). “Grammy Winners 2013: The Full List”. Forbes. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  432. ^ “Grammys 2014: The complete list of nominees and winners”. Los Angeles Times. 26 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  433. ^ “Grammys awards 2016: full list of winners”. The Guardian. 16 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2016. 
  434. ^ “2007 American Music Awards Nominees and Winners”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  435. ^ Fleeman, Mike (23 tháng 11 năm 2008). “Chris Brown Dominates American Music Awards – American Music Awards, Chris Brown”. People. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  436. ^ “A Complete List of 2009 AMA Winners”. CBS News. 23 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  437. ^ Rovenstine, Dalene (21 tháng 11 năm 2010). “American Music Awards”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  438. ^ “American Music Awards 2011: Full list of winners”. ABC. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  439. ^ “American Music Awards 2012: Complete Winners List”. MTV. 18 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  440. ^ “American Music Awards 2014 Winners – AMAs The Complete List”. ABC. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  441. ^ “See all the winners from the 2015 AMAs”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2015. 
  442. ^ “Taylor Swift Nashville Tickets”. Excite. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  443. ^ a ă “Fastest-selling digital album in the US by a female artist”. Guinness World Records. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  444. ^ “Most simultaneous US hot 100 hits by a female”. Guinness World Records. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  445. ^ a ă Greenwald, David (6 tháng 9 năm 2013). “Taylor Swift, Rihanna, Justin Bieber Among 2014 Guinness Record-Setters”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  446. ^ Lynch, Kevin (4 tháng 9 năm 2013). “Calvin Harris trumps Michael Jackson feat to join Taylor Swift, Rihanna and One Direction in Guinness World Records™ 2014 book”. Guinness World Records. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  447. ^ a ă Swatman, Rachel (31 tháng 8 năm 2016). “Taylor Swift enters Guinness World Records 2016 with yet another record-breaking achievement”. Guinness World Records. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2015. 
  448. ^ “HIstory of NSAI”. Nashville Songwriters Association International. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  449. ^ Craig Shelburne (18 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift Named NSAI's Songwriter-Artist of the Year”. CMT. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  450. ^ “Songwriters Hall of Fame”. Songwriters Hall of Fame. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  451. ^ Edmondson Ph.D., Jacqueline (3 tháng 10 năm 2013). Music in American Life: An Encyclopedia of the Songs, Styles, Stars, and Stories That Shaped Our Culture. ABC-CLIO. tr. 308. ISBN 978-0-313-39348-8. 
  452. ^ “Grammy Album of the Year winners”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2015. 
  453. ^ Kreps, Daniel (1 tháng 2 năm 2010). “Beyonce, Taylor Swift Dominate 2010 Grammy Awards”. Rolling Stone. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2012. 
  454. ^ “Grammy Rewind: 52nd Annual Grammy Awards”. Grammy Award. 10 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2015. 
  455. ^ Lynch, Joe (6 tháng 2 năm 2015). “Here's the Last 30 Album of the Year Grammy Winners By Age”. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2015. 
  456. ^ Bixby, Scott (16 tháng 2 năm 2016). “Taylor Swift wins best album at Grammys while Adele struggles”. The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2016. 
  457. ^ “Taylor Swift Named 2014 Billboard Woman of the Year”. Billboard. 10 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  458. ^ “TOP ARTISTS (DIGITAL SINGLES)”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2016.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  459. ^ Caulfield, Keith (13 tháng 3 năm 2015). “Taylor Swift's '1989' Has Outsold Her Last Two Albums”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015. 
  460. ^ Keith Caulfield (4 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's "1989" debuts with 1.287 million copies sold”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2014. 
  461. ^ “Taylor Swift’s ‘Fearless’ Surpasses 7 Million Sold in U.S.: Billboard 200 Chart Moves”. Billboard. 
  462. ^ Caulfield, Keith (27 tháng 10 năm 2015). “Taylor Swift's '1989' Only Fifth Album to Spend First Year in Billboard 200's Top 10”. [Billboard.com]. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2015. 
  463. ^ Gary Trust (19 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift makes Hot 100 History”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2014. 
  464. ^ http://www.billboard.com/articles/news/6737360/taylor-swift-blank-space-vevo-record-most-views?mobile_redirection=false
  465. ^ “Taylor Swift's 'Blank Space' the Fastest Video to Reach 1 Billion Views on Vevo”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2015. 
  466. ^ “Blank Space on the Wayback Machine on July 3, 2015, 07:31:43 (UTC)”. Wayback Machine. 3 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2015. 
  467. ^ “Blank Space on the Wayback Machine on July 3, 2015, 13:43:12 (UTC)”. Wayback Machine. 3 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2015. 
  468. ^ Christina Lee (13 tháng 4 năm 2014). “Taylor Swift Interrupts Seth Rogen During 'SNL' Monologue: Watch”. Idolator. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]