Taylor Swift

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Taylor Swift
Taylor Swift Red Tour 2, 2013.jpg
Swift biểu diễn trong The Red Tour tại thành phố St. Louis, Missouri ngày 25 tháng 3 năm 2013
Sinh Taylor Alison Swift
13 tháng 12, 1989 (26 tuổi)
Reading, Pennsylvania, Hoa Kỳ
Công việc
  • Ca sĩ tự sáng tác nhạc
  • diễn viên
Tài sản 250 triệu đô-la Mỹ (ước tính tháng 6 năm 2016)
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ
Năm hoạt động 2004–nay
Hãng đĩa
Chữ ký
Taylor Swift autograph.png
Website
taylorswift.com

Taylor Alison Swift (sinh ngày 13 tháng 12 năm 1989) là nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ. Sinh ra và lớn lên tại Wyomissing, Pennsylvania, cô dời đến Nashville, Tennessee năm 14 tuổi để theo đuổi sự nghiệp âm nhạc đồng quê. Cô ký kết một hợp đồng cùng hãng thu âm độc lập Big Machine Records và trở thành nhạc sĩ trẻ tuổi nhất từng hợp tác với Sony/ATV Music Publishing. Vào năm 2006, Swift phát hành album đầu tay cùng tên với đĩa đơn "Our Song" giúp cô là nghệ sĩ tự sáng tác trẻ tuổi nhất có bài hát đạt quán quân bảng xếp hạng Hot Country Songs.

Album phòng thu thứ hai của Swift, Fearless (2008), mang về thành công cùng các đĩa đơn "Love Story" và "You Belong with Me", trở thành album bán chạy nhất năm 2009 tại Hoa Kỳ. Fearless giành 4 giải Grammy và giúp Swift là nghệ sĩ trẻ nhất đoạt giải "Album của năm". Cô tự sáng tác toàn bộ các bài hát trong album Speak Now (2010) và phát hành Red (2012) cùng hai đĩa đơn đạt thành công trên toàn cầu, "We Are Never Ever Getting Back Together" và "I Knew You Were Trouble". Album phòng thu thứ 5, 1989 (2014) mang thể loại pop chủ đạo, giúp Swift trở thành nghệ sĩ đầu tiên có 3 album bán hơn 1 triệu bản trong tuần đầu và lần thứ 2 đoạt giải Grammy cho "Album của năm". Các đĩa đơn "Shake It Off", "Blank Space" và "Bad Blood" đều dẫn đầu Billboard Hot 100. Chuyến lưu diễn quảng bá The 1989 World Tour vào năm 2015 lọt vào danh sách doanh thu cao nhất mọi thời đại.

Những bài hát tường thuật lại trải nghiệm cá nhân của Swift thu hút nhiều sự quan tâm của công chúng. Ở vai trò nhạc sĩ, cô từng được vinh danh bởi Hiệp hội tác giả NashvilleĐại sảnh Danh vọng Sáng tác. Các thành tựu khác của Swift bao gồm 10 giải Grammy, 5 Kỷ lục Guinness thế giới, 1 giải Emmy, 22 giải thưởng Âm nhạc Billboard, 11 giải thưởng Hiệp hội nhạc đồng quê, 8 giải Viện hàn lâm nhạc Đồng quê và 1 giải Brit. Cô là một trong những nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất mọi thời đại, với hơn 40 triệu album—bao gồm 27.1 triệu bản tại Hoa Kỳ—và 130 triệu đĩa đơn kỹ thuật số đã được tiêu thụ. Cô xuất hiện trong danh sách 100 người gây ảnh hưởng nhất thế giới của tạp chí Time (2010 và 2015); những người phụ nữ bội thu trong âm nhạc (2011–15), 100 người phụ nữ quyền lực nhất (2015) và Celebrity 100 (2016) của tạp chí Forbes. Cô còn tham gia trong loạt phim truyền hình CSI: Crime Scene Investigation và chương trình đêm khuya Saturday Night Live trong năm 2009, cùng bộ phim Valentine's Day (2010).

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1989–2003: Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Taylor Swift sinh ngày 13 tháng 12 năm 1989 tại Reading, Pennsylvania.[1] Cha cô là Scott Kingsley Swift, làm nghề môi giới chứng khoán và mẹ cô là Andrea Gardner (Finlay) Swift, làm nội trợ, từng là giám đốc tài chính cho quỹ hỗ trợ.[2] Swift còn có một người em trai tên là Austin.[3] Swift có một thời gian sống tại đồn điền cây thông Giáng sinh ở Cumru Township, Pennsylvania.[4] Cô bắt đầu đi nhà trẻ tại Trường Alvernia Montessori do những nữ tu sĩ dòng Fran-xít điều hành,[5] sau đó vào học Trường tư Wyndcroft.[6] Cả gia đình cô sau đó chuyển đến khu ngoại ô Wyomissing, Pennsylvania,[7] nơi cô theo học Trường Trung học Cơ sở/ Phổ thông Vùng Wyomissing.[8]

Năm lên 9, Swift trở nên thích thú trước sân khấu kịch nghệ và trình bày trong 4 chương trình của Học viện sân khấu Berks Youth.[9] Cô cũng thường xuyên đến thành phố New York để tham gia lớp luyện giọng và diễn xuất.[10] Swift sau đó bộc lộ đam mê đến dòng nhạc đồng quê bởi những bài hát của Shania Twain cứ khiến cô "muốn chạy nhảy quanh khu phố và mơ mộng về mọi thứ".[11] Cô dành thời gian cuối tuần để trình diễn tại hội chợ địa phương và các sự kiện khác.[12][13] Sau khi xem một đoạn phim tư liệu về Faith Hill, Swift quyết định đến Nashville, Tennessee để theo đuổi sự nghiệp âm nhạc.[14] Năm 11 tuổi, cô cùng mẹ đến Nashville để gửi băng thu thử đến các hãng thu âm, bao gồm các bản trình diễn karaoke bài hát của Dolly PartonDixie Chicks.[15] Sau khi bị nhiều nơi từ chối, cô nhận ra "mọi người ở đó đều có mục tiêu giống như tôi. Thế nên, tôi tự hỏi chính mình, tôi cần phải nghĩ ra một hướng đi khác biệt".[16]

Khi Swift 12 tuổi, một người thợ máy tính đã dạy cô chơi 3 hợp âm đàn guitar, giúp cô sáng tác nên bài hát đầu tiên "Lucky You".[17] Vào năm 2003, Swift và cha mẹ cô bắt đầu hợp tác cùng nhà quản lý âm nhạc Dan Dymtrow. Với sự hỗ trợ của Dymtrow, Swift làm người mẫu cho hãng Abercrombie & Fitch trong chiến dịch "Rising Stars", có một bài hát gốc xuất hiện trong CD tổng hợp của nhãn hàng Maybelline và tham gia nhiều cuộc họp cùng các hãng thu âm lớn.[18] Sau khi trình bày nhiều bài hát tự sáng tác cho RCA Records, hãng quyết định giữ cô trong một thỏa thuận phát triển nghệ sĩ và Swift bắt đầu thực hiện nhiều chuyến đi đến Nashville cùng mẹ.[19][20]

Nhằm giúp Swift thâm nhập vào ngành âm nhạc đồng quê, cha cô chuyển về văn phòng tại Nashville khi cô 14 tuổi và gia đình cô định cư tại một căn nhà bên hồ ở Hendersonville, Tennessee.[21][22] Tại Tennessee, Swift nhập học tại Trường trung học Hendersonville trong hai năm đầu.[23] Sau đó, cô chuyển về Aaron Academy, một ngôi trường Công giáo cho phép học tại nhà, để cùng lúc dàn xếp lịch lưu diễn. Cô đạt điểm trung bình 4.0 và hoàn tất 2 năm học cuối cấp trong vòng 12 tháng.[24]

2004–08: Khởi nghiệp và Taylor Swift[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Nashville, Swift làm việc cùng những tác giả nhiều kinh nghiệm từ Music Row như Troy Verges, Brett Beavers, Brett James, Mac McAnallyThe Warren Brothers.[25][26] Sau cùng, cô bắt tay với cộng tác viên lâu dài Liz Rose.[27] Cả hai gặp gỡ trong một buổi luyện sáng tác kéo dài 2 tiếng vào mỗi buổi chiều thứ Ba sau giờ học.[28] Rose chia sẻ một vài buổi tập luyện "là điều dễ dàng nhất tôi từng thực hiện. Tôi chỉ là người biên tập lại cho cô ấy. Cô bé viết về những gì diễn ra ở trường mỗi ngày. Cô có một tầm nhìn sáng sủa về những gì mình cố truyền đạt. Và cô ấy nghĩ ra những đoạn hook tuyệt vời." Swift ký kết với nhà xuất bản Sony/ATV Tree[29] nhưng rời khỏi RCA Records năm 14 tuổi.[13] Swift nhớ lại: "Tôi cảm thấy như mình sắp hết thời gian. Tôi muốn ghi dấu 3 năm cuộc đời bằng một album trong lúc chúng vẫn còn thể hiện những gì tôi đã trải qua."[30]

Taylor Swift, mặc một chiếc đầm trắng và đeo kính râm, chơi guitar cạnh bục microphone.
Swift trình diễn tại trụ sở Yahoo!Sunnyvale, California vào năm 2007

Trong một đêm diễn tại Bluebird Cafe, Nashville năm 2005, Swift thu hút sự chú ý của Scott Borchetta, giám đốc hãng DreamWorks Records, lúc ông chuẩn bị thành lập hãng thu âm độc lập Big Machine Records. Cô trở thành một trong những người đầu tiên ký kết cùng hãng, trong khi cha cô mua lại 3% cổ phần trong công ty còn non trẻ này với giá tiền ước tính 120.000 đô-la Mỹ.[31][32] Swift bắt đầu thực hiện album cùng tên đầu tay không lâu sau khi ký hợp đồng. Cô thuyết phục hãng Big Machine thuê lại nhà sản xuất các bản thu thử của cô, Nathan Chapman vì cảm thấy cả hai làm việc một cách "ăn ý".[13] Swift tự sáng tác 3 bài hát trong album, trong đó có 2 đĩa đơn và đồng sáng tác 8 bài hát còn lại cùng Rose, Robert Ellis Orrall, Brian Maher và Angelo Petraglia.[33] Taylor Swift ra mắt ngày 24 tháng 10 năm 2006.[34] Jon Caramanica từ The New York Times mô tả album là "một kiệt tác nhỏ bé của dòng nhạc đồng quê mang hơi hướng pop" cùng chất giọng "rắn chắc và truyền cảm" của Swift.[35] Tính đến tháng 8 năm 2016, album đã bán hơn 7.75 triệu bản trên toàn cầu.[36]

Hãng Big Machine Records vẫn còn trong giai đoạn hình thành trong lúc phát hành đĩa đơn đầu tay của Swift, "Tim McGraw" vào tháng 6 năm 2006, lúc cô và mẹ phải giúp "gói CD đĩa đơn vào phong bì để gửi đến trạm phát thanh".[37] Cô dành hầu hết năm 2006 để quảng bá Taylor Swift tại các trạm phát thanh và nhiều chương trình truyền hình.[38][39] Borchetta cho rằng quyết định hợp tác cùng một ca sĩ tự sáng tác mới 16 tuổi ban đầu gây nhiều sự tò mò từ giới thu âm nhưng Swift lại bước chân vào một thị trường chưa từng được khai thác trước đây: những cô gái thiếu niên thích nghe nhạc đồng quê.[21] Theo sau "Tim McGraw", 4 đĩa đơn khác cũng được phát hành trong năm 2007 và 2008 gồm "Teardrops on My Guitar", "Our Song", "Picture to Burn" và "Should've Said No". Tất cả đều đạt thành công trên bảng xếp hạng Billboard Hot Country Songs, riêng "Our Song" và "Should've Said No" giành được ngôi quán quân. "Our Song" giúp Swift trở thành người trẻ tuổi nhất có bài hát tự sáng tác vươn đến vị trí số 1 tại bảng xếp hạng này.[40] "Teardrops on My Guitar" trở thành bài hát pop ăn khách; vươn đến vị trí thứ 13 trên Billboard Hot 100.[41] Swift cũng phát hành một album Giáng sinh, Sounds of the Season: The Taylor Swift Holiday Collection vào tháng 10 năm 2007 và EP Beautiful Eyes vào tháng 7 năm 2008.[42][43] Cô còn quảng bá cho album này tại nhiều buổi hòa nhạc của nghệ sĩ khác.[44]

Taylor Swift mang về cho Swift nhiều giải thưởng. Cô là một trong hai người nhận giải "Tác giả/Nghệ sĩ của năm" do Hiệp hội nhạc sĩ Nashville trao tặng vào năm 2007, trở thành người trẻ tuổi nhất giành được danh hiệu này.[45] Cô cũng giành giải Kinh nghiệm cho "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất" bởi Hiệp hội Âm nhạc đồng quê,[46] giải "Ca sĩ nữ mới hàng đầu" của Viện Hàn lâm Nhạc đồng quê[47] và "Nữ nghệ sĩ đồng quê được yêu thích" tại giải thưởng Âm nhạc Mỹ.[48] Năm 2008, cô được đề cử giải Grammy cho "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất".[49] Swift có mối quan hệ ngắn ngủi cùng Joe Jonas từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2008.[50][51]

2008–10: Fearless và diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu thứ hai của Swift, Fearless phát hành ngày 11 tháng 11 năm 2008.[34] Đĩa đơn đầu tiên, "Love Story" phát hành vào tháng 9 năm 2008, vươn đến vị trí thứ 4 trên Billboard Hot 100[52] và hạng nhất tại Úc.[53] Có 4 đĩa đơn khác được ra mắt trong năm 2008 và 2009 gồm "White Horse", "You Belong with Me", "Fifteen" và "Fearless". "You Belong with Me" là đĩa đơn xếp hạng cao nhất của album này, chạm đến vị trí thứ 2 trên Billboard Hot 100.[54] Fearless đạt vị trí số 1 trên Billboard 200, trở thành album bán chạy nhất năm 2009 tại Mỹ.[55] Để quảng bá cho album, Swift thực hiện chuyến lưu diễn đầu tiên mang tên Fearless Tour,[56] thu về 63 triệu đô-la Mỹ.[57] Bộ phim tài liệu lưu diễn Taylor Swift: Journey to Fearless lên sóng truyền hình và được ra mắt trên định dạng DVD và Blu-ray.[58] Ngoài ra, cô cũng trình diễn tại Escape Together World Tour của Keith Urban.[59]

Swift tại buổi công chiếu Hannah Montana: The Movie vào năm 2009

Tại mùa giải Video âm nhạc của MTV năm 2009, "You Belong with Me" giành giải "Video xuất sắc nhất của nữ ca sĩ".[60] Bài phát biểu nhận giải của cô bị rapper Kanye West cắt ngang.[61] Vụ việc nhận được sự chú ý của giới truyền thông và là hiện tượng lan truyền trên mạng xã hội.[62] James Montgomery của MTV cho rằng chính sự cố này và phản ứng của giới truyền thông biến Swift trở thành "một người nổi tiếng đầy thiện ý".[63]

Tại giải Grammy lần thứ 52, Fearless thắng giải "Album nhạc đồng quê của năm" và giúp Swift trở thành nghệ sĩ trẻ tuổi nhất giành giải "Album của năm", trong khi "White Horse" giành thêm 2 giải cho "Bài hát nhạc đồng quê xuất sắc nhất" và "Trình diễn nhạc đồng quê giọng nữ xuất sắc nhất".[64] Trong buổi trao giải, cô trình bày "You Belong with Me" và "Rhiannon" cùng Stevie Nicks. Giọng hát của cô nhận nhiều phản hồi tiêu cực và bị giới truyền thông chỉ trích.[63][65][66] Swift là nghệ sĩ trẻ nhất đoạt giải Hiệp hội âm nhạc đồng quê cho "Nhà giải trí của năm",[67] trong khi Fearless giành giải "Album của năm".[68] Giải thưởng Âm nhạc Mỹ vinh danh Swift trong hạng mục "Nghệ sĩ của năm" và "Album đồng quê được yêu thích nhất".[69] Billboard trao cho Swift giải "Nghệ sĩ của năm" 2009.[70]

Cô xuất hiện trong đĩa đơn "Half of My Heart" cùng John Mayer trong album phòng thu Battle Studies.[71] Cô đồng sáng tác và thu âm "Best Days of Your Life" với Kellie Pickler,[72] trong khi góp giọng trong đĩa đơn "Two Is Better Than One" của Boys Like Girls.[73] Swift cũng đồng sáng tác hai bài hát nữa cho nhạc phim Hannah Montana: The Movie—"You'll Always Find Your Way Back Home" và "Crazier"—lần lượt với Martin Johnson và Robert Ellis Orrall.[74] Cô đóng góp 2 bài hát—bao gồm "Today Was a Fairytale", đĩa đơn quán quân đầu tiên của cô tại Canadian Hot 100—trong album nhạc phim Valentine's Day.[75][76]

Swift chuyển sang truyền hình trong một tập phim năm 2009 của CSI: Crime Scene Investigation, vào vai một thiếu niên nổi loạn. The New York Times nhận thấy nhân vật này cho phép cô trở nên "nghịch ngợm đôi chút".[77] Cuối năm đó, cô chủ trì và trình diễn với vai trò khách mời trong một tập Saturday Night Live.[78] Entertainment Weekly gọi cô là "nhà chủ trì tuyệt nhất Saturday Night Live mùa này".[79] Trong lúc ghi hình cho Valentine's Day vào tháng 10 năm 2009—vai diễn điện ảnh đầu tiên của Swift—cô hẹn hò cùng nam diễn viên Taylor Lautner. Họ chia tay vào cuối năm đó.[80][81] Trong bộ phim hài lãng mạn này, Swift hóa thân vào một cô bạn gái thiếu niên ngốc nghếch, vai diễn mà Los Angeles Times cảm thấy "có tiềm năng hài hước rất lớn",[82] trong khi tờ Variety lại chỉ trích "diễn xuất hoàn toàn vô hướng" của cô.[83] Cuối năm 2010, cô hẹn hò với Jake Gyllenhaal.[84]

2010–14: Speak NowRed[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 2010, Swift phát hành "Mine", mở đầu tại Hoa Kỳ ở vị trí thứ 3, giúp Swift là nữ nghệ sĩ thứ hai trong lịch sử Hot 100 (sau Mariah Carey) có nhiều bài hát mở màn top 5 trong cùng một năm, cùng với "Today Was a Fairytale".[85] Bài hát này là đĩa đơn đầu tiên trích từ album phòng thu thứ ba, Speak Now bao gồm toàn bộ bài hát do cô tự sáng tác mà không có đồng tác giả.[86] Album phát hành ngày 25 tháng 10 năm 2010,[34] dẫn đầu Billboard 200 với doanh số mở màn 1 triệu bản, là album thứ 16 làm được điều này.[87] Sau đó, đây là album kỹ thuật số bán chạy nhất bởi một nữ nghệ sĩ với 278.000 lượt tải trong một tuần lễ. Với thành tích này, Swift góp mặt vào Sách Kỷ lục Guinness Thế giới 2010; cô còn xuất hiện trong quyển sách khi 10 bài hát của Speak Now lọt vào Billboard Hot 100, giúp cô là nữ nghệ sĩ đầu tiên nắm giữ danh hiệu này.[88][89] 3 trong số các đĩa đơn của album—"Mine", "Back to December" và "Mean"—vươn đến top 10 ở Canada.[76]

Tại giải Grammy lần thứ 54, "Mean" mang về cho Swift giải "Bài hát đồng quê xuất sắc nhất" và "Trình diễn đơn ca đồng quê xuất sắc nhất".[90] Cô cũng trình bày bài hát này trong lễ trao giải,[91] nơi Jayme Deerwester từ USA Today cảm thấy những lời chỉ trích từ năm 2010 dường như đã giúp cô "trở thành một nhạc sĩ và nhà trình diễn tốt hơn".[92] Swift còn giành nhiều giải thưởng khác cho Speak Now, được vinh danh là "Nhạc sĩ/Nghệ sĩ của năm" bởi Hiệp hội tác giả Nashville (2010 và 2011),[93][94] "Người phụ nữ của năm" bởi Billboard (2011),[95] "Nhà giải trí của năm" bởi Học viện Âm nhạc đồng quê (2011 và 2012)[96] và Hiệp hội Âm nhạc đồng quê (2011).[97] Tại giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2011, Swift thắng giải "Nghệ sĩ của năm" và "Album đồng quê được yêu thích nhất".[98]

Swift trình diễn trong Speak Now World Tour tại Sydney vào năm 2012

Swift lưu diễn trong Speak Now World Tour từ tháng 2 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012, thu về 123 triệu đô-la Mỹ.[99] Album trực tiếp đầu tiên của Swift, Speak Now World Tour: Live phát hành vào tháng 11 năm 2011.[100] Tháng sau, Swift đóng góp 2 bài hát cho album nhạc phim The Hunger Games "—"Safe & Sound" và "Eyes Open". "Safe & Sound", do cô đồng sáng tác và thu âm cùng The Civil WarsT-Bone Burnett, giành chiến thắng ở hạng mục "Bài hát sáng tác cho phương tiện truyền thông xuất sắc nhất" tại giải Grammy lần thứ 55[101] và mang về một đề cử giải Quả cầu vàng cho "Ca khúc trong phim hay nhất".[102] Sau khi góp giọng trong đĩa đơn "Both of Us" của B.o.B,[103] Swift hẹn hò với Conor Kennedy từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2012.[104] Tháng 8, Swift ra mắt "We Are Never Ever Getting Back Together"—đĩa đơn đầu tiên từ album phòng thu thứ tư, Red. Bài hát gặt hái thành công trên toàn cầu, đánh dấu vị trí quán quân đầu tiên của Swift ở Hoa Kỳ và New Zealand,[105][106] đồng thời đạt hạng nhất trên bảng xếp hạng iTunes chỉ sau 50 phút ra mắt, trở thành "Đĩa đơn bán chạy nhanh nhất lịch sử kỹ thuật số" trong quyển Sách Kỷ lục Guinness Thế giới.[107] Swift công bố đĩa đơn thứ hai, "Begin Again" vào tháng 10, đạt hạng 7 trên Billboard Hot 100.[108] Các đĩa đơn khác trích từ album bao gồm: "I Knew You Were Trouble", "22", "Everything Has Changed", "The Last Time" và "Red". "I Knew You Were Trouble" cũng là một thành công,[109] khi vươn đến hạng hai ở Hoa Kỳ.[108]

Red phát hành ngày 22 tháng 10 năm 2012.[34] Album đạt thành công về thương mại lẫn chuyên môn, sáp nhập nhiều thể loại mới, bao gồm heartland rock, dubstepdance-pop.[11] Red mở đầu tại vị trí quán quân Billboard 200 với 1.21 triệu bản, lượng doanh số ở tuần ra mắt cao nhất trong một thập niên, giúp Swift là nữ nghệ sĩ đầu tiên có hai album bán trên một triệu bản trong tuần lên kệ, một kỷ lục được ghi nhận trong Sách Kỷ lục Guinness Thế giới.[110][111] Để quảng bá cho album, cô thực hiện chuyến lưu diễn The Red Tour, kéo dài từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014, thu về 150 triệu đô-la Mỹ.[112] Red mang về nhiều giải thưởng, bao gồm 4 đề cử tại giải Grammy lần thứ 55.[113] "I Knew You Were Trouble" thắng giải "Video xuất sắc nhất của nữ nghệ sĩ" tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2013.[114] Giải thưởng Âm nhạc Mỹ vinh danh cô là "Nữ nghệ sĩ đồng quê xuất sắc nhất" vào năm 2012 và "Nghệ sĩ của năm" tại lễ trao giải năm 2013.[115][116] Swift thắng giải "Nhạc sĩ/Nghệ sĩ của năm" của Hiệp hội tác giả Nashville lần thứ 5 và 6 liên tiếp vào năm 2012 và 2013.[117] Hiệp hội còn trao Swift giải Pinnacle bởi những thành công "độc nhất" của cô, giúp cô trở thành người thứ hai nhận giải sau Garth Brooks.[118]

Trong năm 2013, Swift đồng sáng tác "Sweeter Than Fiction" cùng Jack Antonoff cho nhạc phim One Chance và giành một đề cử "Bài hát trong phim hay nhất" tại mùa giải Quả cầu vàng lần thứ 71.[119] Cô góp giọng trong bài hát "Highway Don't Care" của Tim McGraw cùng phần guitar của Urban.[120] Swift trình bày "As Tears Go By" với The Rolling Stones tại Chicago trong chuyến lưu diễn 50 & Counting.[121] Cô còn tham gia cùng Florida Georgia Line trên sân khấu Country Radio Seminar 2013 để trình diễn ca khúc "Cruise".[122] Bên cạnh âm nhạc, Swift lồng tiếng cho nhân vật Audrey trong The Lorax (2012),[123] xuất hiện trong loạt phim hài kịch tình huống New Girl (2013)[124] và tham gia bộ phim The Giver (2014).[125] Cô có mối quan hệ tình cảm cùng Harry Styles từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 1 năm 2013.[126]

2014–nay: 1989[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3 năm 2014, Swift chuyển đến Thành phố New York.[127] Trong thời gian này, cô thực hiện album phòng thu thứ 5, 1989 với các đồng sự Antonoff, Martin, Shellback, Imogen Heap, Ryan Tedder và Ali Payami.[128] Cô quảng bá album này trong nhiều chiến dịch, bao gồm những buổi nghe album dành cho người hâm mộ, mang tên "1989 Secret Sessions".[129] Được Swift mô tả là "album mang tư liệu pop chính thức đầu tiên", 1989 đánh dấu sự thay đổi so với những album nhạc đồng quê trước đây.[130] 1989 ra mắt ngày 27 tháng 12 năm 2014 cùng những đánh giá tích cực.[34][131]

Swift trình diễn trong The 1989 World Tour vào tháng 6 năm 2015

1989 bán được 1.287 triệu bản trong tuần đầu tại Hoa Kỳ và mở màn ở vị trí đầu tiên trên Billboard 200—giúp Swift là nghệ sĩ đầu tiên có 3 album bán hơn 1 triệu bản trong tuần lên kệ, xuất hiện trong Sách Kỷ lục Guinness Thế giới.[132][133] Tính đến tháng 2 năm 2015, 1989 tiêu thụ hơn 8.6 triệu bản trên toàn cầu.[134] Đĩa đơn đầu tiên, "Shake It Off" phát hành vào tháng 8 năm 2014 và mở đầu tại ngôi quán quân Billboard Hot 100.[135] Các đĩa đơn khác bao gồm "Blank Space" và "Bad Blood" (hợp tác với Kendrick Lamar) cùng giành được ngôi vị cao nhất tại Hoa Kỳ;[136] "Style" và "Wildest Dreams" đạt đến top 10 Billboard Hot 100;[137] "Out of the Woods" và "New Romantics".[138] "Shake It Off", "Blank Space" và "Bad Blood" cũng dẫn đầu tại Úc và Canada.[53][76] Video âm nhạc của "Blank Space" trở thành video đạt 1 tỷ lượt xem nhanh nhất trên hệ thống Vevo.[139] Video âm nhạc của "Bad Blood" thắng giải Grammy cho "Video âm nhạc xuất sắc nhất"[140] và 4 giải Video âm nhạc của MTV năm 2015, bao gồm hạng mục "Video của năm".[141] Từ tháng 5 đến tháng 12 năm 2015, Swift thực hiện chuyến lưu diễn The 1989 World Tour, thu về 250 triệu đô-la Mỹ và lọt vào danh sách đạt doanh thu cao nhất mọi thời đại.[142]

Vào năm 2014, Swift là nghệ sĩ đầu tiên 2 lần giành giải "Người phụ nữ của năm" của tạp chí Billboard[143] và được vinh danh giải Dick Clark for Excellence tại Giải thưởng Âm nhạc Mỹ.[144] "Shake It Off" mang về 3 đề cử tại giải Grammy lần thứ 57, trong đó có "Thu âm của năm" và "Bài hát của năm".[145] Tại giải Brit 2015, Swift thắng giải "Nữ nghệ sĩ quốc tế".[146] Cô cũng là một trong 8 nghệ sĩ được vinh danh Giải cột mốc 50 năm tại Giải thưởng Hàn lâm nhạc Đồng quê 2015.[147] Tại giải Grammy lần thứ 58, Swift thắng 3 giải cho 1989, trong đó có "Album của năm" và "Album giọng pop xuất sắc nhất". Cô trở thành người phụ nữ đầu tiên–và là người thứ năm trong lịch sử–thắng giải "Album của năm" hai lần.[148]

Trước khi ra mắt 1989, Swift nhấn mạnh tầm quan trọng của album đến nghệ sĩ và người hâm mộ.[149] Tháng 11 năm 2014, cô thu hồi lại toàn bộ các đĩa nhạc trên hệ thống Spotify, cho rằng dịch vụ truyền dữ liệu miễn phí có quảng cáo của hãng này làm tổn hại đến dịch vụ trả phí, cung cấp hoa hồng cao hơn cho các tác giả.[150] Vào tháng 6 năm 2015, Swift chỉ trích hãng Apple Music vì hãng không trả tiền hoa hồng cho nghệ sĩ trong thời gian 3 tháng dùng thử của khách hàng và khẳng định sẽ rút album 1989 ra khỏi hệ thống này.[151] Một ngày sau, Apple thông báo sẽ trả đầy đủ phí đến nghệ sĩ trong thời gian dùng thử[152] và Swift đồng ý đưa 1989 vào dịch vụ này.[153] Công ty cổ phần và quản lý quyền sở hữu trí tuệ của Swift, TAS Rights Management, công chứng 73 thương hiệu liên quan đến cô và 1989.[154]

Trong bữa tiệc Saturday Night Live 40th Anniversary Special, Swift trình bày "I Saw Her Standing There" và "Shake It Off" cùng Paul McCartney[155] và cùng Kenny Chesney hát "Big Star" trong đêm mở màn chuyến lưu diễn Big Revival Tour tại Nashville.[156] Tháng 3 năm 2015, Swift hẹn hò cùng DJ và nhà sản xuất người Scotland Calvin Harris.[157] Đến tháng 6 năm 2015, đây là cặp đôi người nổi tiếng được trả thù lao cao nhất năm do Forbes tổng hợp, với số tiền vượt 146 triệu đô-la Mỹ.[158] Tháng 8, Swift công bố về căn bệnh ung thư của mẹ mình và khuyến khích mọi người thực hiện kiểm tra sức khỏe.[159] Trước khi Swift và Harris chia tay vào tháng 6 năm 2016,[160] họ đồng sáng tác "This Is What You Came For", nơi cô tham gia dưới nghệ danh Nils Sjöberg.[161] Tháng 10, cô sáng tác "Better Man" cho album thứ bảy của nhóm Little Big Town, The Breaker.[162]

Phong cách nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc của Swift hòa trộn các yếu tố nhạc pop, pop rockđồng quê.[163] Cô tự nhận mình là một nghệ sĩ đồng quê cho đến khi phát hành 1989 (2014), được cô mô tả là một "album mang kết cấu giai điệu pop".[164] Rolling Stone cho rằng Swift "có thể được chơi trên trạm phát thanh đồng quê, nhưng cô ấy là một trong những ngôi sao nhạc rock thực thụ hiếm hoi hiện nay".[165] The New York Times nhận thấy "Âm nhạc của Swift không mấy liên quan đến dòng nhạc đồng quê—một vài tiếng gảy banjo, một đôi ủng cao bồi trên sân khấu cùng tiếng đàn guitar du dương—nhưng có chút gì đó khác biệt trong sự rạng rỡ của cô ấy, đôi chút mỏng manh mang nét khác biệt so với Nashville."[166] The New Yorker tin rằng cô "sáng tác những bài hát tường thuật với giai điệu trong trẻo và cường điệu hóa".[167]

Sophie Schillaci từ The Hollywood Reporter miêu tả giọng hát của Swift "ngọt ngào, nhưng mềm mại".[168] Trong phòng thu, Los Angeles Times chỉ ra giọng điệu mang tính "quyết định" của Swift nằm ở "câu hát ảm đạm như một tiếng thở dài mãn nguyện hay vút cao một cách bất ngờ, giúp cô giữ sự nữ tính đáng yêu trong không gian thân mật".[169] Rolling Stone, trong bài đánh giá Speak Now, có ghi nhận: "Giọng hát của Swift đủ chân thật để cho thấy sự lão luyện của cô trong vai trò ca sĩ; cô hạ thấp giọng ở những đoạn quan trọng, trong tâm trạng của một cô gái e ấp đang cố gắng nắm lấy uy quyền."[170] Trong một bài đánh giá khác, The Village Voice cho rằng cách phân nhịp trước đây của Swift "nhạt nhẽo và lộn xộn, nhưng mọi thứ đã thay đổi. [Giọng hát] Swift nghe có vẻ gượng gạo và mỏng manh, thường đi lạc vào một cao độ có thể khiến một vài người nghe nổi đóa; nhưng cô đã học được cách làm cho từ ngữ khi hát nghe một cách chuẩn xác".[171] Giọng hát trực tiếp của Swift được đánh giá là "ổn" nhưng không bằng nhiều đồng nghiệp của cô.[168] Một số nhà phê bình vào năm 2009 mô tả giọng Swift "nhàm chán, mỏng manh và đôi khi yếu ớt như một con ngựa mới sinh".[172][173] Tuy vậy, Swift lại nhận nhiều lời khen ngợi vì không sử dụng Auto-Tune để khắc phục cao độ khi trình diễn.[174][175]

Trong một cuộc phỏng vấn với The New Yorker, Swift mô tả bản thân chủ yếu là một nhạc sĩ: "Tôi viết bài hát, giọng hát của tôi chỉ là cách để truyền đạt chúng".[21][176] Borchetta thừa nhận vào năm 2010 rằng Swift "không phải là nghệ sĩ có kĩ thuật tốt nhất" nhưng mô tả cô là "người đại diện tốt nhất mà chúng tôi có được".[177] Giọng hát của Swift đôi lúc khiến cô lo lắng và phải cố gắng cải thiện rất nhiều.[178] Một báo cáo vào năm 2010 cho biết Swift vẫn tiếp tục học thanh nhạc.[179][180] Cô nói rằng mình chỉ cảm thấy lo lắng khi trình diễn "nếu như tôi không chắc khán giả nghĩ gì về mình, như trong một đêm trao giải chẳng hạn".[181]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Shania Twain (trái) và Stevie Nicks (phải) ảnh hưởng đến Swift

Một trong những kỷ niệm âm nhạc sơ khai nhất của Swift là lắng nghe bà ngoại Marjorie Finlay hát tại nhà thờ.[2]:1 Lúc nhỏ, Swift yêu thích các bài hát nhạc phim Disney: "Bố mẹ tôi để ý rằng, mỗi khi quên mất lời, tôi lại nghĩ ra nhiều câu của riêng mình."[182] Mẹ của Swift là người truyền đạt "niềm yêu thích đến việc sáng tác và kể chuyện"[183] và tạo dựng sự tự tin cho cô, thường giúp cô chuẩn bị trong những buổi thuyết trình ở lớp lúc còn nhỏ.[184] Cô nuôi dưỡng niềm yêu thích âm nhạc đồng quê[185] cùng "những nữ nghệ sĩ đồng quê vĩ đại của thập niên 90;... Shania, Faith, the Dixie Chicks".[186][187] Twain là nguồn ảnh hưởng lớn nhất đến cô, cả ở cương vị ca sĩ lẫn nhạc sĩ.[188] Hill là hình mẫu trong tuổi thơ của cô: "Mọi thứ cô ấy phát biểu, thực hiện, ăn mặc, tôi đều cố bắt chước chúng."[189] Swift tôn trọng thái độ khiêu khích và khả năng tự chơi nhạc cụ của Dixie Chicks.[190] "Cowboy Take Me Away" của nhóm là bài hát đầu tiên Swift học chơi trên guitar.[191]

Swift còn tiếp cận đến nhiều ngôi sao đồng quê gạo cội, bao gồm Patsy Cline, Loretta Lynn,[12] Dolly PartonTammy Wynette.[12] Cô tin rằng Parton là "một ví dụ hoàn hảo cho tất cả nữ nhạc sĩ".[192] Những nghệ sĩ alt-country như Ryan Adams,[193] Patty Griffin,[194]Lori McKenna cũng gây ảnh hưởng tới Swift.[195] Trước độ tuổi thiếu niên, cô còn yêu thích các nghệ sĩ bubblegum pop như HansonBritney Spears, người mà cô "tôn kính một cách trung thành".[196][197] Ở trường trung học, Swift nghe những ban nhạc rock như Dashboard Confessional,[198] Fall Out Boy,[199]Jimmy Eat World.[200] Cô cũng là người hâm mộ của những ca sĩ tự sáng tác đương đại như Michelle Branch,[200] Alanis Morissette,[201] Ashlee Simpson,[202] Fefe Dobson[200]Justin Timberlake;[203] cùng những nghệ sĩ thập niên 1960 như The Shirelles, Doris TroyThe Beach Boys.[204]

Swift liệt kê Paul McCartney, Bruce Springsteen, Emmylou Harris, Kris Kristofferson và Carly Simon là hình mẫu cho sự nghiệp âm nhạc của mình: "Họ biết nắm bắt cơ hội nhưng vẫn luôn là chính mình trong suốt sự nghiệp."[21][205] McCartney, ở cương vị đơn ca lẫn trong ban nhạc The Beatles, khiến Swift cảm thấy "muốn hiểu được trái tim và trí óc của ông [...] Bất kể một nhạc sĩ nào cũng mơ ước có một di sản như thế."[206] Cô yêu mến Springsteen vì ông "vẫn theo đà xu hướng âm nhạc sau một khoảng thời gian dài".[207] Cô còn mong muốn giống như Harris khi chín chắn hơn[208] và cho rằng Kristofferson "tỏa sáng trong vai trò sáng tác".[209] Cô trân trọng khả năng "sáng tác và [sự] chân thật" của Simon, "Cô ấy nổi tiếng là một người nhạy cảm nhưng cũng rất mạnh mẽ".[210] Album phòng thu thứ năm của Swift, 1989 lấy cảm hứng từ nhiều nghệ sĩ pop thập niên 1980 mà cô yêu thích, như Annie Lennox, Phil Collins và "Madonna thời kỳ Like a Prayer".[211]

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Swift dùng những trải nghiệm đời thực làm cảm hứng cho tác phẩm của mình,[212] nơi cô thường đề cập đến "những mối tình đơn phương vô danh thời trung học" và người nổi tiếng.[213] Cô cũng nhiều lần nhắc đến những người tình cũ một cách gièm pha.[214] The Village Voice bình luận về sáng tác của cô, "tuy không phải lời thú tội, nhưng vô cùng kịch tính."[215] Dù vậy, New York tin rằng sự săm soi của giới truyền thông, muốn cô "tận dụng đời tư cho âm nhạc... là phân biệt giới tính, khi nhiều nam đồng nghiệp khác không bị bắt bẻ bởi những điều tương tự".[216] Chính Swift cũng thừa nhận rằng không phải bài hát nào cũng là chuyện có thật mà đôi khi dựa trên quan sát trong cuộc sống để sáng tác.[217] Ngoài những manh mối trên bìa ghi chú, Swift cố gắng không nhắc đến chủ đề bài hát một cách trực tiếp, "vì đây là những người có thật. Bạn phải cố gắng truyền đạt suy nghĩ của mình một cách tế nhị mà không dẫm đạp người khác".[218]

"Khi một người phụ nữ viết về cảm nhận của bản thân, nhưng lại được xem là một cô bạn gái rùng rợn, điên rồ, tuyệt vọng, cầu xin bạn để được kết hôn và có con với cô ta, tôi nghĩ điều đó bôi nhọ những gì cần phải được tôn trọng – một người phụ nữ kể về cảm xúc của mình theo một cách tự nhiên – rồi xuyên tạc, biến nó thành một điều gì đó, mà đôi khi rất phân biệt giới tính."

— Swift đáp trả trước sự chỉ trích về tác phẩm của mình[219]

The Guardian khen ngợi những sáng tác tuổi thiếu niên "với một kiểu tiếc nuối, một nỗi nhớ mang màu sắc sepia" trong hai album đầu tiên của Swift.[167] New York nhận thấy nhiều ca–nhạc sĩ đã thực hiện nhiững bản thu tuyệt vời lúc còn thiếu niên, nhưng "chưa một ai tạo những bản thu tuyệt vời một cách công khai về lứa tuổi thiếu niên của họ." Tạp chí còn so sánh tác phẩm của cô với Janis Ian.[220] Trong Fearless, Swift sử dụng hình ảnh cổ tích và khám phá sự trái ngược "giữa những câu chuyện cổ tích và thực tế của tình yêu".[221] Các album sau này của cô chứa đựng nhiều mối quan hệ trưởng thành hơn.[205] Ngoài tình yêu và sự lãng mạn, các bài hát của Swift cũng bàn luận về mối quan hệ giữa bố mẹ-con cái, tình bạn,[222][223] mối bất hòa, danh vọng và tham vọng sự nghiệp.[183] Swift thường đưa vào "một cụm từ bất cần kể về những điều to tát và lớn lao không liên quan đến bài hát, nhằm nhấn mạnh hoặc phá vỡ lối tường thuật chính".[224]

Rolling Stone mô tả cô là "một nhạc sĩ uyên bác cùng tài năng nhạy bén với cấu trúc lời chính-điệp khúc-chuyển tiếp cuối bài".[225] Theo The Village Voice, cô thường xuyên đảo chiều quan điểm ở đoạn thứ ba của mỗi bài hát.[224] Xét về mặt hình ảnh, sự lặp lại thể hiện rõ trong sáng tác của Swift. The Guardian mỉa mai rằng "cô dành quá nhiều thời gian để hôn dưới mưa, tới nỗi mọi người không hiểu tại sao cô vẫn chưa bị cóng chân".[167] Slant Magazine nói thêm, "để ghi nhận Swift, cô đã khai phá một mô-típ trữ tình mới trong [album thứ tư của mình]".[226] Trong lúc đánh giá các sáng tác của Swift "gần như đồng nhất một cách tích cực", The New Yorker cho biết cô thường được mô tả như là "một nhạc sĩ có tay nghề nhiều hơn là một người có tầm nhìn kiểu Dylanesque".[21]

Hình tượng công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Đời sống tình cảm của Swift là chủ đề thu hút giới truyền thông.[227] Ben Phelps của World Book Club gọi cô là "bộ mặt lẳng lơ của ngày tận thế Mỹ" trong khi Abercrombie & Fitch quảng cáo áo phông với slogan chỉ trích đời tư ám chỉ Swift.[228] Tờ The New York Times khẳng định "tình sử của cô bắt đầu khuấy động những gì khiến ta cảm thấy như khởi đầu của một phản ứng dữ dội" và băn khoăn liệu Swift có đang trong "cuộc khủng hoảng nhị tuần."[229] Dù vậy, Swift tuyên bố mình chưa sẵn sàng để bàn cãi về đời tư trước công chúng,[227] điều mà cô tin rằng có thể biến thành "một điểm yếu trong sự nghiệp" của mình.[230]

Swift tại Time 100 Gala vào năm 2010, nơi cô được vinh danh

Rolling Stone bình luận về cách cư xử tế nhị của cô: "Nếu đây là trò chơi chủ lực của Swift, cô đã thành công vì điều đó không bao giờ phai nhạt."[231] Vào năm 2012, tờ báo này gọi Swift "thân thiện một cách dễ chịu"[31] trong khi The Hollywood Reporter mô tả cô là "người tuyệt nhất kể từ Bill Clinton".[232] Vào năm 2012, Swift được Michelle Obama ghi nhận công việc thiện nguyện của mình, khen ngợi cô là người "vươn đến ngôi đầu của ngành công nghiệp âm nhạc nhưng vẫn mang nhận thức rõ ràng, người đã phá vỡ mọi kỳ vọng mà một người ở tuổi 22 có thể đạt được".[233] Swift sau đó gọi bà là "một hình tượng lý tưởng".[234] Swift là một trong những người được theo dõi nhiều nhất trên mạng xã hội và nổi tiếng bởi những tương tác một cách thân thiện với người hâm mộ.[235][236] Cô cho rằng mình "có trách nhiệm" ý thức về ảnh hưởng của mình đến cộng đồng người hâm mộ trẻ tuổi[237] và gọi họ là "mối quan hệ đẹp và lâu dài nhất của tôi".[238]

Bloomberg L.P. gọi Swift là một biểu tượng gợi cảm[239] nhưng không giống như những người đương thời, cô xuất hiện một cách khiêm tốn hơn.[14][240] Vogue vinh danh cô là "Biểu tượng của phong cách Mỹ" năm 2011.[241] Vào năm 2014, cô dẫn đầu danh sách ăn mặc đẹp thường niên của tạp chí People.[242] Năm 2015, Swift giành giải Elle Style Awards cho "Người phụ nữ của năm"[243]Maxim xếp cô ở vị trí quán quân trong danh sách Hot 100 của năm.[244]

Swift xuất hiện trong danh sách 100 người gây ảnh hưởng nhất thế giới của tạp chí Time vào năm 2010 và 2015.[245][246] Từ 2011–15, cô nằm trong top 3 những người phụ nữ bội thu trong âm nhạc của tạp chí Forbes, với thu nhập lần lượt là 45 triệu, 57 triệu, 55 triệu, 64 triệu và 80 triệu đô-la Mỹ.[247] Năm 2015, cô là nhân vật trẻ nhất góp mặt trong danh sách 100 người phụ nữ quyền lực nhất của Forbes, ở vị trí thứ 64.[248] Trong năm 2016, cô dẫn đầu danh sách 100 người nổi tiếng được trả thù lao cao nhất của Forbes, với 170 triệu đô-la Mỹ—cô lọt vào top 10 trong các năm 2011, 2013 và 2015.[249] Tháng 6 năm 2016, Forbes ước tính tổng tài sản của Swift đạt 250 triệu đô-la Mỹ.[250]

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Do Something và Dịch vụ Thiên tai Tennessee đã công nhận nhiều nỗ lực từ thiện của Swift.[251][252] Cô được trao tặng giải thưởng Big Help vì những "cống hiến giúp đỡ người khác" và "tạo cảm hứng cho mọi người thông qua hành động",[253] cùng giải Ripple of Hope vì "những cống hiến tích cực ở độ tuổi trẻ như vậy [..] Taylor là mẫu người mà chúng tôi muốn con gái của mình noi theo."[254] Năm 2008, cô ủng hộ 100.000 đô-la Mỹ cho Hội chữ Thập Đỏ để giúp đỡ các nạn nhân trong trận lụt ở bang Iowa.[255] Nữ ca sĩ trình diễn ở nhiều chương trình gây quỹ từ thiện như buổi hòa nhạc Sound Relife tổ chức tại Sydney vào năm 2009.[256] Cô cũng thu âm một bài hát cho album Hope for Haiti Now.[257] Swift gửi 500.000 đô-la Mỹ cho một chương trình từ thiện do WSMV tổ chức để giúp đỡ các nạn nhân trong trận lụt ở bang Tennessee vào tháng 5 năm 2010.[258] Trong năm 2011, Swift dùng buổi diễn tập cùng trang phục trong chuyến lưu diễn Speak Now World Tour để gây quỹ hỗ trợ cho các nạn nhân bị ảnh hưởng bởi vòi rồng ở nhiều bang đông nam Hoa Kỳ, quyên góp được hơn 750.000 đô-la Mỹ.[259] Năm 2012, cô hỗ trợ chương trình từ thiện Restore the Shore MTV do tổ chức Architecture for Humanity khởi xướng nhằm khắc phục những hậu quả do cơn bão Sandy để lại.[260] Năm 2016, cô ủng hộ 1 triệu đô-la Mỹ cho các nạn nhân bị ảnh hưởng bởi trận lụt ở bang Louisiana.[261]

Vào năm 2010, Swift gửi 75.000 đô-la Mỹ cho Trường trung học Hendersonville của Nashville để giúp trường tân trang lại thính phòng.[262] Cô cam kết tài trợ 4 triệu đô-la Mỹ để xây dựng một trung tâm giáo dục mới tại Bảo tàng Country Music Hall of Fame and Museum ở Nashville vào năm 2012.[263] Cũng trong năm này, Swift hợp tác với công ty cho thuê sách giáo khoa Chegg nhằm ủng hộ 60.000 đô-la Mỹ cho các khoa âm nhạc thuộc sáu trường cao đẳng ở Hoa Kỳ.[264] Swift cũng khuyến khích việc nâng cao trình độ học vấn của trẻ em. Năm 2009, cô gửi tặng 250.000 đô-la Mỹ đến nhiều trường học khác nhau khắp Hoa Kỳ để cải thiện giáo dục.[265] Nữ ca sĩ còn ủng hộ 6.000 sách Scholastic đến Thư viện công cộng Reading ở bang Pennsylvania,[266] 14.000 sách cho Thư viện công cộng Nashville,[267] 2.000 sách cho chương trình học chữ tại Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe trẻ em của Bệnh viện Reading,[268] và 25.000 sách đến các trường học trong thành phố New York.[269]

Vào năm 2007, Swift khởi động một chiến dịch bảo vệ trẻ em khỏi những mối nguy trực tuyến cùng Hiệp hội Các trưởng Cảnh sát bang Tennessee.[270] Năm 2009, cô thu âm một thông báo cộng đồng của Sound Matters để giúp các thính giả nhận biết được tầm quan trọng của việc lắng nghe "có ý thức" nhằm ngăn chặn sự suy giảm thính giác.[271] Swift đã tặng nhiều vật dụng cho các cuộc bán đấu giá do nhiều tổ chức từ thiện khởi xướng như Quỹ Elton John AIDS, Dự án nước sạch cho trẻ em của UNICEF, MusiCares, và Feeding America.[272] Sau khi nhận giải Nghệ sĩ của năm của Viện Hàn lâm nhạc Đồng quê, Swift tặng 25.000 đô-la Mỹ đến Bệnh viện Nghiên cứu của Trẻ em St. Jude.[273] Trong năm 2012, nữ ca sĩ tham gia chương trình từ thiện Stand Up to Cancer và trình diễn "Ronan", một bài hát do chính cô sáng tác nhằm tưởng nhớ đến một cậu bé bốn tuổi đã mất vì căn bệnh u nguyên bào thần kinh. Swift phát hành bài hát này dưới dạng kĩ thuật số và toàn bộ số tiền thu về đã được gửi đến các tổ chức từ thiện chống ung thư.[274] Năm 2014, cô ủng hộ 100.000 đô-la Mỹ đến Quỹ Nghiên cứu Ung thư V,[275] và 50.000 đô-la Mỹ đến Bệnh viện Nhi Philadelphia.[276] Nữ ca sĩ cũng đến nhiều bệnh viện để thăm hỏi các bệnh nhân và hỗ trợ cho họ.[277] Swift còn khuyến khích những người trẻ tuổi tham gia vào các hoạt động cộng đồng tại địa phương nhằm hưởng ứng Ngày Thanh niên Phục vụ Toàn cầu.[278]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc bầu cử Tổng thống 2008, Swift ủng hộ chiến dịch Every Woman Counts, mang mục tiêu đưa phụ nữ vào quá trình chính trị và là một trong nhiều ngôi sao nhạc đồng quê xuất hiện trong sự kiện thông báo công khai cho chiến dịch Vote (For Your) Country.[279] Cô phát biểu: "Tôi không nghĩ mình có khả năng cố gắng và gây ảnh hưởng đến cách mà mọi người nên bỏ phiếu."[12] Sau khi Tổng thống Barack Obama nhậm chức, cô chia sẻ trên Rolling Stone: "Tôi chưa từng thấy quốc gia này hạnh phúc về một quyết định chính trị nhiều đến thế. Tôi rất vui mừng vì đây là lần bầu cử đầu tiên của tôi."[280]

Trong một bài phỏng vấn vào năm 2012, Swift khẳng định mình không "bàn chuyện chính trị vì có thể gây ảnh hưởng đến người khác".[281] Swift có thời gian gần gũi với gia tộc Kennedy[282] và thể hiện lòng mến mộ đến Ethel Kennedy.[209] Swift còn là một nhà hoạt động theo chủ nghĩa nữ quyền.[283] Swift phản đối nạn phân biệt đối xử với người đồng tính luyến ái. Sau vụ sát hại Larry King vào năm 2008, cô thu âm một thông báo cộng đồng của Gay, Lesbian and Straight Education Network nhằm chống lại tội ác căm thù.[284] Trong kỷ niệm 1 năm ngày mất của King, Swift chia sẻ với Seventeen rằng cha mẹ cô dạy "không bao giờ được đánh giá người khác dựa trên bất kỳ tình cảm, màu da hay tín ngưỡng nào".[285] Vào năm 2011, Swift thực hiện video âm nhạc "Mean" nhằm thể hiện nạn ghê sợ đồng tính luyến ái ở trường trung học; video được đề cử "Giải thưởng hoạt động xã hội" tại giải Video âm nhạc của MTV.[286][287] The New York Times tin rằng cô là một phần trong "làn sóng phụ nữ trẻ tuổi (và hầu hết là người dị tính) ngày nay, đang xây dựng một thế hệ người hâm mộ là người đồng tính nhằm giữ gìn nhận dạng bản thân trong thời điểm của nhiều thông điệp văn hóa gây hỗn loạn và khó hiểu".[286]

Quảng bá nhãn hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi quảng bá album đầu tay, Swift là gương mặt của chiến dịch Mobile Music do hãng Verizon Wireless tổ chức.[288] Trong kỷ nguyên Fearless, cô quảng cáo loại đầm dây cho hãng L.e.i. tại Wal-Mart,[289] thiết kế thiệp American Greetings và búp bê Jakks Pacific.[290][291] Cô là đại sứ cho nhãn hàng Nashville Predators của NHL và máy chụp ảnh kỹ thuật số Sony Cyber-shot.[292][293] Cô trình bày trong quảng cáo trò chơi điện tử Band Hero, cùng Rivers Cuomo, Pete WentzTravis Barker trong ban nhạc hỗ trợ.[294][295] Trong kỷ nguyên Speak Now, cô phát hành một phiên bản đặc biệt của album này thông qua Target.[296] Swift trở thành đại sứ của nhãn hàng CoverGirl,[297] ra mắt hai nhãn hiệu nước hoa Elizabeth Arden, WonderstruckWonderstruck Enchanted.[298]

Trong khi quảng bá album phòng thu thứ 4 Red, Swift thực hiện quảng bá độc quyền thông qua Target,[299] Papa John's Pizza[300]Walgreens.[301] Cô là đại diện cho nhãn hàng Diet Coke và giày thể thao Keds,[302] ra mắt dòng nước hoa Elizabeth Arden thứ 3 mang tên Taylor by Taylor Swift,[303] và tiếp tục hợp tác cùng Sony Electronics và American Greetings.[304][305] Swift cũng hợp tác với AirAsia[306]Qantas[307] trong vai trò hãng hàng không chính thức trong chặng lưu diễn Red Tour tại Úc và châu Á, trong khi Cornetto quảng bá cô trong chặng lưu diễn tại châu Á.[308] Trong lúc quảng bá 1989, Swift xuất hiện trong nhiều quảng cáo của Subway, Keds, Target và Diet Coke.[309] Vào năm 2014, Swift phát hành nhãn hiệu nước hoa thứ 4 Incredible Things.[310]

Giải thưởng và thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

Swift trình diễn trong Speak Now World Tour tại Heinz Field, Pittsburgh năm 2011

Trong xuyên suốt sự nghiệp, Swift đã giành 10 giải Grammy,[311] 19 giải thưởng Âm nhạc Mỹ[312] 11 giải Hiệp hội nhạc đồng quê, 8 giải Viện hàn lâm nhạc Đồng quê[313] và 1 giải Emmy.[314] Ở vai trò nhạc sĩ, cô từng 7 lần được vinh danh là "Nhạc sĩ/Ca sĩ của năm" bởi Hiệp hội tác giả Nashville[45][315] và xuất hiện trong Đại sảnh Danh vọng Sáng tác.[316]

Đến đầu năm 2016, Swift đã bán hơn 40 triệu album, 130 triệu đĩa đơn kỹ thuật số và là một trong 5 nghệ sĩ âm nhạc có lượng đĩa kỹ thuật số lớn nhất thế giới.[134] Tại Hoa Kỳ, mỗi album phòng thu của Swift đều vượt 4 triệu bản: Taylor Swift (5.5 triệu), Fearless (7.0 triệu),[317] Speak Now (4.5 triệu), Red (4.1 triệu) và 1989 (5.4 triệu).[318]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Taylor Swift Biography: Singer (1989–)”. FYI. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2015. 
  2. ^ a ă Jepson, Louisa (2013). Taylor Swift. Simon and Schuster. tr. 1. ISBN 978-1-4711-3087-8. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2016. 
  3. ^ Roth, Madeline (19 tháng 5 năm 2015). “Taylor Swift's Brother Had The Most Epic Graduation Weekend Ever”. MTV News. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2016. 
  4. ^ Raab, Scott (20 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift Interview”. Esquire. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  5. ^ “Photos Students at Alvernia Montessori School sending Taylor Swift a valentine”. Reading Eagle. 13 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  6. ^ Hatza, George (8 tháng 12 năm 2008). “Taylor Swift: Growing into superstardom”. Reading Eagle. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012. 
  7. ^ Mennen, Lauren (12 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's Wyomissing childhood home on the market for $799,500”. Philadelphia Daily News. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2016. 
  8. ^ “Taylor Swift Returns to Reading Pennsylvania as Maid of Honor in Friend's Wedding”. WCAU. 22 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2016. 
  9. ^ “Taylor Swift, Age 12”. New York Daily News. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2016. 
  10. ^ Cooper, Brittany Joy (15 tháng 4 năm 2012). “Taylor Swift Opens Up About a Future in Acting and Admiration for Emma Stone”. Taste of Country. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012. 
  11. ^ a ă MacPherson, Alex (18 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift: 'I want to believe in pretty lies'. The Guardian. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  12. ^ a ă â b “Interview: The Unabridged Taylor Swift”. Rolling Stone. 2 tháng 12 năm 2008. 
  13. ^ a ă â Morris, Edward (1 tháng 12 năm 2006). “When She Thinks 'Tim McGraw', Taylor Swift Savors Payoff: Hardworking Teen to Open for George Strait Next Year”. CMT. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2010. 
  14. ^ a ă Diu, Nisha Lilia (3 tháng 4 năm 2011). “Taylor Swift: 'I won't do sexy shoots'. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012. 
  15. ^ “News: CMT Insider Interview: Taylor Swift (Part 1 of 2)”. CMT. 26 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  16. ^ “Taylor Swift: The Garden In The Machine”. American Songwriter. 2 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  17. ^ Martino, Andy (10 tháng 1 năm 2015). “Exclusive: The real story of Taylor Swift's guitar 'legend'. Daily News (New York). Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  18. ^ “americanbar.org PDF” (PDF). Americanbar.org. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  19. ^ “On tour with Taylor Swift – Dateline NBC”. MSNBC. 31 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  20. ^ Castro, Vicky (6 tháng 2 năm 2015). “How to Succeed as an Entrepreneur, Taylor Swift Style”. Inc. (Monsueto Ventures). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2015. 
  21. ^ a ă â b c Widdicombe, Lizzie (10 tháng 10 năm 2011). “You Belong With Me”. The New Yorker. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2011. 
  22. ^ Jo, Nancy (2 tháng 1 năm 2014). “Taylor Swift and the Growing of a Superstar: Her Men, Her Moods, Her Music”. Vanity Fair. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  23. ^ “News: Taylor Swift's High School Names Auditorium in Her Honor”. CMT. 23 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  24. ^ Grigoriadis, Vanessa (5 tháng 3 năm 2009). “The Very Pink, Very Perfect Life of Taylor Swift”. Rolling Stone. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2012. 
  25. ^ “Taylor Swift: The Garden In The Machine”. American Songwriter. 2 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  26. ^ “Songwriter Taylor Swift Signs Publishing Deal With Sony/ATV”. Broadcast Music, Inc. 12 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012. 
  27. ^ Kosser, Michael (3 tháng 6 năm 2010). “Liz Rose: Co-Writer to the Stars”. American Songwriter. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012. 
  28. ^ Leahey, Andrew (24 tháng 10 năm 2014). “Songwriter Spotlight: Liz Rose”. Rolling Stone. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2016. 
  29. ^ DeLuca, Dan (11 tháng 11 năm 2008). “Focused on 'great songs' Taylor Swift isn't thinking about "the next level" or Joe Jon as gossip”. Philadelphia Daily News. tr. 1. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012. 
  30. ^ Preston, John (26 tháng 4 năm 2009). “Taylor Swift: the 19-year-old country music star conquering America – and now Britain”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  31. ^ a ă Hiatt, Brian (25 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift in Wonderland”. Rolling Stone. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016. 
  32. ^ Greenburg, Zack O'Malley (26 tháng 6 năm 2013). “Toby Keith, Cowboy Capitalist: Country's $500 Million Man”. Forbes. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016. 
  33. ^ Taylor Swift (CD). Taylor Swift. Big Machine Records. 2006. BMR120702. 
  34. ^ a ă â b c Solin, Jennifer (10 tháng 8 năm 2016). “Taylor Swift New Album Release Date Postponed; Is She Laying Low After Kim Kardashian, Kanye West Drama?”. International Business Times. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016. 
  35. ^ Caramanica, Jon (5 tháng 9 năm 2008). “A Young Outsider's Life Turned Inside Out”. The New York Times. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016. 
  36. ^ “Taylor Swift Total Album Sales”. Statistic Brain Research Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016. 
  37. ^ Willman, Chris (5 tháng 2 năm 2008). “Taylor Swift's Road to Fame”. Entertainment Weekly. tr. 3. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  38. ^ Cowling, Lauren (12 tháng 11 năm 2014). “5 of Taylor Swift's Most Country Performances”. Country Outfitter Life. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  39. ^ “Taylor Swift Joins Rascal Flatts Tour”. CMT. 18 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2010. 
  40. ^ “Taylor Swift No. 1 on iTunes”. Great American Country. 19 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2010. 
  41. ^ “Teardrops on My Guitar”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010. 
  42. ^ “Taylor Swift owns top of country chart”. Country Standard Time. 23 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2008. 
  43. ^ “Wal-Mart "Eyes" New Taylor Swift Project”. Great American Country. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2008. 
  44. ^ Rosa, Christopher (24 tháng 3 năm 2015). “Opening Acts Who Became Bigger Than The Headliner”. VH1. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  45. ^ a ă “Taylor Swift Youngest Winner of Songwriter/Artist Award”. Great American Country. 16 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  46. ^ “Photos: All Taylor Swift Pictures: Horizon Award Winner Poses in the Pressroom”. Country Music Television. 7 tháng 9 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  47. ^ “Photos: 43rd Annual ACM Awards – Onstage: Winners: Acceptance Speech”. CMT. 18 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  48. ^ “Taylor Swift, Rascal Flatts, Carrie Underwood Score at 2008 AMA Awards” (Blog). Roughstock.com. 24 tháng 11 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  49. ^ “Amy Winehouse Wins Best New Artist, Kanye West Pays Tribute to Mom – Grammy Awards 2008, Grammy Awards”. People. 2 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  50. ^ Caplan, David (8 tháng 9 năm 2008). “Scoop”. People. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  51. ^ Rizzo, Monica (24 tháng 11 năm 2008). “Scoop – Couples, Camilla Belle, Joe Jonas”. People. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  52. ^ “Love Story – Taylor Swift”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2011. 
  53. ^ a ă “Discography Taylor Swift”. ARIA Charts. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  54. ^ Ben-Yehuda, Ayala (13 tháng 8 năm 2009). “Black Eyed Peas, Jason Mraz Tie Records on Billboard Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2010. 
  55. ^ Grein, Paul (16 tháng 3 năm 2012). “Chart Watch Extra: Top Albums Of Last 10 Years” (Blog). Yahoo! Music. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2011. 
  56. ^ Herrera, Monica (8 tháng 10 năm 2009). “Taylor Swift's "Fearless" Tour Returns March 2010”. Rolling Stone. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  57. ^ Mapes, Jillian (23 tháng 11 năm 2010). “Taylor Swift Announces 'Speak Now' World Tour”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  58. ^ Weiss, Dan (12 tháng 12 năm 2011). “Taylor Swift: Journey To Fearless DVD”. American Songwriter. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  59. ^ Ryan, Sarah (10 tháng 8 năm 2009). “Taylor Swift Pranks Keith Urban” (Blog). Great American Country. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  60. ^ “Kanye calls Taylor Swift after 'View' appearance”. MSNBC. 15 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2009. 
  61. ^ “Taylor Swift Thanks "Gracious" Beyonce for Inviting Her Onstage After Kanye Stunt at VMAs”. Rolling Stone. 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  62. ^ Anderson, Kyle (16 tháng 9 năm 2009). “Kanye West's VMA Interruption Gives Birth To Internet Photo Meme”. MTV. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2009. 
  63. ^ a ă Montgomery, James (2 tháng 2 năm 2010). “Why You Shouldn't Hate on Taylor Swift”. MTV. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  64. ^ Kreps, Daniel (1 tháng 2 năm 2010). “Beyonce, Taylor Swift Dominate 2010 Grammy Awards”. Rolling Stone. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2012. 
  65. ^ Kreps, Daniel (4 tháng 2 năm 2010). “Taylor Swift's Label Lashes Out at Critics of Grammy Performance”. Rolling Stone. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  66. ^ Caramanica, Jon (1 tháng 2 năm 2010). “For Young Superstar Taylor Swift, Big Wins Mean Innocence Lost”. The New York Times. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  67. ^ Kaufman, Gil (12 tháng 11 năm 2009). “Taylor Swift Dominates CMA Awards”. MTV News. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2016. 
  68. ^ “Taylor Swift Wins Album of the Year at Academy of Country Music Awards”. Big Machine Records. 6 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2009 – qua PR Newswire. 
  69. ^ Ditzian, Eric (2009). “Taylor Swift, Michael Jackson Big Winners at American Music Awards”. MTV. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  70. ^ “2009 Artists of the Year”. Billboard. 10 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  71. ^ Vena, Jocelyn (6 tháng 11 năm 2009). “John Mayer Talks Taylor Swift Collaboration 'Half of My Heart'. MTV. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  72. ^ “Kellie Pickler Has Her 'Best Days' Thanks To Taylor Swift”. MTV. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  73. ^ “Boys Like Girls Dish on Taylor Swift”. Seventeen. 15 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  74. ^ “Hannah Montana: The Movie (Original Motion Picture Soundtrack) by Hannah Montana”. iTunes Store. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  75. ^ Vena, Jocelyn (28 tháng 12 năm 2009). “New Taylor Swift Song Included In 'Valentine's Day' Featurette”. MTV. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015. 
  76. ^ a ă â “Taylor Swift – Chart history on Canadian Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  77. ^ Caramanica, Jon (6 tháng 3 năm 2009). “OMG! Taylor Swift Does 'CSI'!”. The New York Times (Blog). Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2012. 
  78. ^ Strecker, Erin (2 tháng 1 năm 2015). “Remember When Taylor Swift Shined as 'Saturday Night Live' Host?”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2015. 
  79. ^ Barrett, Annie (8 tháng 11 năm 2009). “Taylor Swift hosted the best 'Saturday Night Live' of the season so far ... really!?!”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2012. 
  80. ^ Park, Michael Y.; Sia, Nicole (29 tháng 12 năm 2009). “Taylor & Taylor Romance Was Overblown, Says Source”. People. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  81. ^ “Billboard Bits: Taylor Swifts Offers 'Apology' To Taylor Lautner, Christina Aguilera Confirms Split”. Billboard. 10 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  82. ^ Sharkey, Betsy (12 tháng 2 năm 2010). “Review: 'Valentine's Day' – Page 2”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  83. ^ McCarthy, Todd (7 tháng 2 năm 2010). “Valentine's Day – Film Reviews”. Variety. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  84. ^ Hammel, Sara (4 tháng 1 năm 2011). “Taylor Swift & Jake Gyllenhaal Break Up: Source”. People. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2012. 
  85. ^ Pietroluongo, Silvio (11 tháng 8 năm 2010). “Taylor Swift Makes Sparkling Hot 100 Entrance”. Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2016. 
  86. ^ Caramanica, Jon (20 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift, Angry on 'Speak Now'. The New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2010. 
  87. ^ Kaufman, Gil (3 tháng 11 năm 2010). “Taylor Swift's Speak Now Tops 1 Million In First Week”. MTV News. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2016. 
  88. ^ “Fastest-selling digital album in the US by a female artist”. Guinness World Records. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  89. ^ “Most simultaneous US hot 100 hits by a female”. Guinness World Records. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  90. ^ Wyland, Sarah (12 tháng 2 năm 2012). “Taylor Swift Takes Home Two GRAMMYs at Tribute-Filled Show” (Blog). Great American Country. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2012. 
  91. ^ Suddath, Claire (12 tháng 2 năm 2012). “Taylor Swift, "Mean" | The Best and Worst of the 2012 Grammys”. Time. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  92. ^ Deerwester, Jayme (12 tháng 2 năm 2012). “Adoration for Adele: 6 Grammys”. USA Today. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  93. ^ Shelburne, Craig (18 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift Named NSAI's Songwriter-Artist of the Year”. CMT. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  94. ^ Smith, Hazel (24 tháng 10 năm 2011). “News: Hot Dish: Taylor Swift Sings Alan Jackson's Masterpiece at Nashville Songwriters Celebration”. CMT. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  95. ^ Roland, Tom (2 tháng 12 năm 2011). “Taylor Swift: Billboard's Woman of the Year”. Billboard. tr. 1. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  96. ^ “Taylor Swift wins ACM entertainer of the year”. Yahoo!. Associated Press. 1 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  97. ^ “CMA Awards 2011: Taylor Swift wins entertainer of the year”. CBS News. 9 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  98. ^ Kellogg, Jane (20 tháng 11 năm 2011). “AMAs 2011: Winners and Nominees Complete List”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  99. ^ Allen, Bob (29 tháng 3 năm 2012). “Hot Tours: Taylor Swift, George Strait, Cirque Du Soleil”. Billboard. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2012. 
  100. ^ “Taylor Swift News and Blog”. taylorswift.com. 21 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011. 
  101. ^ Herrera, Monica (15 tháng 3 năm 2012). “Taylor Swift, Arcade Fire Talk 'Hunger Games'. Rolling Stone. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2012. 
  102. ^ Labrecque, Jeff (12 tháng 12 năm 2012). “Golden Globe nominations: 'Lincoln' leads with 7 nods”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2012. 
  103. ^ Horowitz, Steven J. (20 tháng 4 năm 2012). “B.o.B Explains Origins of Taylor Swift Collaboration "Both of Us". HipHopDX. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  104. ^ Toomedy, Alyssa. “Taylor Swift and Conor Kennedy Breakup: Anatomy of a Split”. E!. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  105. ^ Trust, Gary (22 tháng 8 năm 2012). “Taylor Swift Scores First Hot 100 No. 1”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2012. 
  106. ^ “Discography Taylor Swift”. New Zealand Charts. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2016. 
  107. ^ Lynch, Kevin (4 tháng 9 năm 2013). “Calvin Harris trumps Michael Jackson feat to join Taylor Swift, Rihanna and One Direction in Guinness World Records™ 2014 book”. Guinness World Records. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  108. ^ a ă “Taylor Swift – Chart history”. Billboard. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2016. 
  109. ^ Apodaca, Joseph. “Billboard names Taylor Swift 2014's No. 1 music Money Maker — see who made the top 10”. KABC-TV. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2016. 
  110. ^ “Taylor Swift's 'Red' Sells 1.21 Million; Biggest Sales Week for an Album Since 2002”. Billboard. 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2012. 
  111. ^ Greenwald, David (6 tháng 9 năm 2013). “Taylor Swift, Rihanna, Justin Bieber Among 2014 Guinness Record-Setters”. Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2016. 
  112. ^ Allen, Bob (3 tháng 7 năm 2014). “Taylor Swift's Red Wraps as All-Time Country Tour”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  113. ^ “Grammys 2014: The complete list of nominees and winners”. Los Angeles Times. 26 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2015. 
  114. ^ “VMAs: The 2013 Winner's List”. Entertainment Weekly. 25 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013. 
  115. ^ Gregoire, Carolyn (19 tháng 11 năm 2012). “Taylor Swift AMA Awards 2012: Pop Star Performs 'I Knew You Were Trouble' (Video)”. The Huffington Post. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  116. ^ Payne, Chris (25 tháng 11 năm 2013). “Taylor Swift & Justin Timberlake Win Big at American Music Awards”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  117. ^ “NSAI Songwriter/Artists of the Year”. Nashville Songwriters Association International. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  118. ^ Caramanica, Jon (7 tháng 11 năm 2013). “Country Awards Hold Swift Close”. The New York Times. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. 
  119. ^ Labrecque, Jeff (12 tháng 12 năm 2013). '12 Years a Slave' and 'American Hustle' lead Golden Globe nominees”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2013. 
  120. ^ Bonaguro, Alison (25 tháng 1 năm 2013). “News: Offstage: Tim McGraw Wanted to Make Taylor Swift Duet an Event”. CMT. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  121. ^ Blistein, Doyle (4 tháng 6 năm 2013). “Taylor Swift Joins Rolling Stones for 'As Tears Go By'. Rolling Stone. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  122. ^ “Taylor Swift Joins Florida Georgia Line Onstage for 'Cruise'. Taste of Country. 2 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013. 
  123. ^ Collin, Robbie (26 tháng 7 năm 2012). “The Lorax, review”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  124. ^ Beard, Lanford (1 tháng 5 năm 2013). “Taylor Swift says 'I do' to 'New Girl'. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2016. 
  125. ^ Busis, Hillary (27 tháng 9 năm 2013). “Taylor Swift will co-star in long-awaited adaptation of 'The Giver'. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  126. ^ “Taylor Swift's Boyfriend Timeline: 10 Relationships & Their Songs”. Billboard. 30 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2016. 
  127. ^ Peterson, Price (31 tháng 3 năm 2014). “Taylor Swift Moves into NYC Apartment Built Over Mysterious River of Pink Slime”. The Atlantic. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016. 
  128. ^ 1989 (ghi chú CD). Taylor Swift. Big Machine Records. 2014. BMRBD0500A. 
  129. ^ Stutz, Colin (16 tháng 10 năm 2014). “Watch Taylor Swift's '1989' Secret Sessions Behind The Scenes Video”. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  130. ^ Mansfield, Brian (18 tháng 8 năm 2014). “Taylor Swift debuts 'Shake It Off,' reveals '1989' album”. USA Today. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2014. 
  131. ^ “1989 by Taylor Swift”. Metacritic. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016. 
  132. ^ Caulfield, Keith (4 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's "1989" debuts with 1.287 million copies sold”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2014. 
  133. ^ Swatman, Rachel (31 tháng 8 năm 2015). “Taylor Swift enters Guinness World Records 2016 with yet another record-breaking achievement”. Guinness World Records. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016. 
  134. ^ a ă “Taylor Swift named IFPI Global Recording Artist of 2014”. International Federation of the Phonographic Industry. 23 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  135. ^ Trust, Gray (27 tháng 8 năm 2014). “Taylor Swift's 'Shake It Off' Debuts At No. 1 On Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2014. 
  136. ^ Trust, Gary (27 tháng 5 năm 2015). “Taylor Swift's 'Bad Blood' Blasts to No. 1 on Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015. 
  137. ^ Trust, Gary (11 tháng 3 năm 2015). “Mark Ronson & Bruno Mars Notch 10th Week Atop Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015. 
  138. ^ “The Weeknd at No. 1 on Hot 100, Shawn Mendes earns first Top 10”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2015. 
  139. ^ Strecker, Erin (6 tháng 7 năm 2015). “Taylor Swift's 'Blank Space' the Fastest Video to Reach 1 Billion Views on Vevo”. Billboard. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  140. ^ “Grammy Nominations 2016: See the Full List of Nominees”. Billboard. Prometheus Global Media. 7 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2015. 
  141. ^ Stutz, Colin (21 tháng 7 năm 2015). “2015 MTV Video Music Awards Nominees Revealed: Taylor Swift, Kendrick Lamar, Ed Sheeran & More”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016. 
  142. ^ “Live Music's $20 Billion Year: The Grateful Dead's Fare Thee Well Reunion, Taylor Swift, One Direction Top Boxscore's Year-End”. Billboard. 
  143. ^ “Taylor Swift: 2014 Billboard Woman of the Year”. Billboard. 10 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  144. ^ Payne, Chris (23 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift Wins Dick Clark Award of Excellence at 2014, Presented by Diana Ross”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  145. ^ Leight, Elias (8 tháng 2 năm 2015). “Taylor Swift Talks Nominated 'Shake It Off' on the Grammys Red Carpet”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  146. ^ Jonze, Tim (25 tháng 2 năm 2015). “Taylor Swift wins international female solo artist at Brit awards 2015”. The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  147. ^ Betts, Stephen L. (25 tháng 3 năm 2015). “2015 ACM Award Milestone Winners Include Swift, Lambert”. Rolling Stone. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  148. ^ Lynch, Joe (19 tháng 2 năm 2016). “Taylor Swift Joins Elite Club to Win Grammy Album of the Year More Than Once: See the Rest”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016. 
  149. ^ Weissmann, Jordan (7 tháng 7 năm 2014). “Taylor Swift Has Written an Op-Ed in the Wall Street Journal”. Slate (Blog). Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2015. 
  150. ^ Knopper, Steve (8 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's Label Head Explains Spotify Removal”. Rolling Stone. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  151. ^ Peters, Mitchell (21 tháng 6 năm 2015). “Taylor Swift Pens Open Letter Explaining Why '1989' Won't Be on Apple Music”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015. 
  152. ^ Halperin, Shirley (21 tháng 6 năm 2015). “Apple Changes Course After Taylor Swift Open Letter: Will Pay Labels During Free Trial”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015. 
  153. ^ Rosen, Christopher (25 tháng 6 năm 2015). “Taylor Swift is putting 1989 on Apple Music”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2015. 
  154. ^ Daly, Thomas J. (13 tháng 1 năm 2016). “Taylor Swift's Trademark Play”. The National Law Review. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2016. 
  155. ^ Bacle, Ariana (16 tháng 2 năm 2015). “Paul McCartney jams with Taylor Swift at 'SNL' afterparty”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  156. ^ Watts, Cindy (27 tháng 3 năm 2015). “Kenny Chesney tops 12 a.m. with Taylor Swift, Joe Walsh”. The Tennessean. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  157. ^ Lara, Maria Mercedes. “Calvin Harris Spends the Night at Taylor Swift's LA Home”. People. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2015. 
  158. ^ Rhodan, Maya (25 tháng 6 năm 2015). “Taylor Swift and Calvin Harris Are the Highest-Paid Celebrity Couple”. Time. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015. 
  159. ^ Schillaci, Sophie (18 tháng 8 năm 2015). “Taylor Swift Tearfully Addresses Mom's Cancer Battle as She Performs 'Ronan'. Entertainment Tonight. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2016. 
  160. ^ Chiu, Melody (1 tháng 6 năm 2016). “Taylor Swift and Calvin Harris Split After 15 Months Together”. People. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016. 
  161. ^ Spanos, Brittany (13 tháng 7 năm 2016). “Taylor Swift Co-Wrote Calvin Harris' Smash Hit 'This Is What You Came For'. Rolling Stone. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016. 
  162. ^ Bailey, Alyssa (1 tháng 11 năm 2016). “Which Ex Is This New Taylor Swift Song "Better Man" About?”. Elle. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016. 
  163. ^ “Taylor Swift Biography”. Rolling Stone. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  164. ^ Cooper, Peter (26 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift reaches a turning point with '1989'. The Tennessean. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  165. ^ “Women Who Rock: The 50 Greatest Albums of All Time: Taylor Swift, 'Speak Now'. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  166. ^ “Pop and Rock Listings July 22 – 28”. The New York Times. 21 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2012. 
  167. ^ a ă â Petridis, Alexis (6 tháng 3 năm 2009). “Taylor Swift: Fearless”. The Guardian (London). Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012. 
  168. ^ a ă Schillaci, Sophie A. (25 tháng 8 năm 2011). “Taylor Swift at Staples Center: Concert Review”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  169. ^ Powers, Ann (25 tháng 10 năm 2010). “Album review: Taylor Swift's 'Speak Now'. Los Angeles Times. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010. 
  170. ^ Sheffield, Rob (26 tháng 10 năm 2010). “Speak Now”. Rolling Stone. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012. 
  171. ^ Weber, Theon (3 tháng 11 năm 2010). “The Iceberg Songs of Taylor Swift”. The Village Voice. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010. 
  172. ^ Serjeant, Jill (17 tháng 11 năm 2009). “Taylor Swift – "Fearless" or tone-less?”. Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2012. 
  173. ^ Tucker, Ken (12 tháng 11 năm 2009). “CMA Awards best and worst, starring Taylor Swift, the ghost of Kanye West, and Carrie Underwood's purple sequined hot-pants”. Entertainment Weekly. 
  174. ^ Reed, James (24 tháng 10 năm 2010). “Swift's ascent continues with arrival of new album”. Boston Globe. 
  175. ^ “Taylor Swift's dream year brings out naysayers”. Reuters. 20 tháng 11 năm 2009. 
  176. ^ DeLuca, Dan (11 tháng 11 năm 2008). “Focused on 'great songs' Taylor Swift isn't thinking about "the next level" or Joe Jonas gossip”. Philadelphia Daily News. tr. 3. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012. 
  177. ^ “Taylor Swift gets mixed reviews at Grammys”. The Tennessean. 1 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012. 
  178. ^ Roland, Tom (15 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift: The Billboard Cover Story”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  179. ^ Caramanica, Jon (20 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift Is Angry, Darn It”. The New York Times. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012. 
  180. ^ Kelly, James (26 tháng 8 năm 2009). “Taylor Swift: Writing her own songs – and rules”. The Atlanta Journal-Constitution. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  181. ^ “Taylor Swift in Her Own Words: Teen Vogue Cover Shoot”. Teen Vogue. Tháng 8 năm 2011. ISSN 1540-2215. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2016. 
  182. ^ Cairns, Dan (5 tháng 3 năm 2009). “Swift rise of the anti-diva”. The Australian. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2012. 
  183. ^ a ă Newman, Melinda (19 tháng 12 năm 2008). “Taylor Swift Sessions Interview”. AOL. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2011. 
  184. ^ Bream, Jon (7 tháng 12 năm 2007). “Music: OMG! Taylor's senior year”. Star Tribune. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  185. ^ “Swift starts world tour in Asia, pushes "Speak Now' in NY”. Country Standard Time. 23 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  186. ^ “News: 20 Questions With Taylor Swift”. CMT. 12 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  187. ^ McCafferty, Dennis (13 tháng 4 năm 2008). “Taylor's Swift rise”. USA Weekend. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012. 
  188. ^ “Interview with Taylor Swift”. Time. 23 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  189. ^ “Taylor Swift Style: Singer Won't Take Her Clothes Off, Wants People To Focus On Music”. The Huffington Post. 23 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2015. 
  190. ^ “InStyle meets country singing sensation Taylor Swift”. InStyle UK. 26 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  191. ^ Bonaguro, Alison (25 tháng 7 năm 2011). “News: Offstage: Taylor Swift Plays Dixie Chicks for a Dixie Chick”. CMT. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  192. ^ Roland, Tom (2 tháng 12 năm 2011). “Taylor Swift: Billboard's Woman of the Year”. Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  193. ^ “Taylor Swift Goes Record Shopping with EW”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  194. ^ “Taylor Swift's Favorite Music”. The Oprah Winfrey Show. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  195. ^ Widdicombe, Lizzie. “Taylor Swift Makes Primness Lucrative”. The New Yorker. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  196. ^ Vena, Jocelyn (26 tháng 1 năm 2009). “Taylor Swift Blogs About 'Life-Changing' Cameo On 'CSI,' Britney Spears Poster”. MTV. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  197. ^ “Taylor Swift Loves Hanson”. Fox.com.au. 9 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  198. ^ “Taylor Swift Tweets Her Love of Dashboard Confessional”. Taste of Country. 1 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  199. ^ Bonaguro, Alison (10 tháng 8 năm 2011). “News: Offstage: Taylor Swift Covers Fall Out Boy”. CMT. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  200. ^ a ă â “See Taylor Swift's List of Music You Should Hear”. Amazon.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  201. ^ “Taylor Swift talks about Red”. Chicago Tribune. 18 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  202. ^ Us Weekly: Taylor Swift Inside My World, "What's on my iPod?", page 24
  203. ^ Kaufman, Gil (4 tháng 4 năm 2016). “Taylor Swift Calls Justin Timberlake 'Hero' & 'All Time Fav' After iHeartRadio Music Awards”. Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2016. 
  204. ^ Austin Scaggs (18 tháng 8 năm 2011). “Q&A: Taylor Swift by Austin Scaggs”. Rolling Stone. tr. 28. 
  205. ^ a ă Mansfield, Brian (23 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift learns to 'Speak Now,' reveal her maturity”. USA Today. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  206. ^ “Rolling in the Trophies? – Adele”. People. 6 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  207. ^ “Taylor Swift Goes Record Shopping with EW”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  208. ^ “Our Interview with Taylor Swift”. Channelguidemagblog.com. 2 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  209. ^ a ă Van Meter, Jonathan (17 tháng 1 năm 2012). “Taylor Swift: The Single Life”. Vogue. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  210. ^ Adams, Cameron (16 tháng 5 năm 2013). “Taylor Swift is happy to be your break-up musician”. News.com.au. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  211. ^ Eells, Josh (8 tháng 9 năm 2014). “The Reinvention of Taylor Swift”. Rolling Stone. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2016. 
  212. ^ Farley, Christopher John (22 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift's Solo Act”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2012. 
  213. ^ Caramanica, Jon (20 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift Is Angry, Darn It”. The New York Times. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2012. 
  214. ^ “John Mayer: Taylor Swift's 'Dear John' Song 'Humiliated Me'. Rolling Stone. 6 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012. 
  215. ^ Weber, Theon (3 tháng 11 năm 2010). “The Iceberg Songs of Taylor Swift – Page 1 – Music – New York”. The Village Voice. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  216. ^ “Stop Asking Taylor Swift to Apologize for Writing Songs About Ex-Boyfriends – The Cut”. New York. 16 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  217. ^ “Her Song: Talking Taylor Swift – Post Rock”. The Washington Post. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  218. ^ Dominus, Susan (16 tháng 11 năm 2012). “The Many Insecurities of Taylor Swift”. The New York Times. 
  219. ^ “Cover Preview: Taylor Swift Fights Back About Her Love Life, the Hyannis Port House—and Has Words for Tina Fey and Amy Poehler”. Vanity Fair. 5 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  220. ^ Willman, Chris (10 tháng 10 năm 2010). “Princess Crossover”. New York. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  221. ^ Kelly, James (26 tháng 8 năm 2009). “Taylor Swift: Writing her own songs – and rules”. The Atlanta Journal-Constitution. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  222. ^ “Microwaving a tragedy: The marriage of romance and romanticism in '00s pop”. Las Vegas Weekly. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  223. ^ Rotman, Natalie (9 tháng 1 năm 2009). “Colbie Caillat has 'Breakthrough' with sophomore CD”. Reading Eagle. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  224. ^ a ă Weber, Theon (3 tháng 11 năm 2010). “The Iceberg Songs of Taylor Swift”. The Village Voice. New York. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2012. 
  225. ^ Rosen, Jody (13 tháng 11 năm 2008). “Fearless”. Rolling Stone. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  226. ^ “Taylor Swift: Red | Music Review”. Slant Magazine. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  227. ^ a ă Meddings, Jacqui (31 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift is our new cover goddess”. Cosmopolitan. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  228. ^ “The Taylor Swift Slut-Shaming Continues – The Cut”. New York. 28 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2013. 
  229. ^ Chang, Bee-Shyuan (15 tháng 3 năm 2013). “Taylor Swift Gets Some Mud on Her Boots”. The New York Times. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  230. ^ “On the Road with Best Friends Taylor Swift and Karlie Kloss”. Vogue. 13 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  231. ^ Grigoriadis, Vanessa (5 tháng 3 năm 2009). “The Very Pink, Very Perfect Life of Taylor Swift”. Rolling Stone. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2016. 
  232. ^ Willman, Chris (17 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift Tapes VH1 'Storytellers'. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  233. ^ Moss, Hilary (2 tháng 4 năm 2012). “Michelle Obama Honors Taylor Swift, Taylor Swift So Honored”. New York. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  234. ^ Pacella, Megan (15 tháng 4 năm 2012). “Taylor Swift Reflects on Meeting First Lady Michelle Obama”. Taste of Country. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2012. 
  235. ^ Berg, Madeline (18 tháng 11 năm 2015). “Taylor Swift Vs. Katy Perry: Which Star Rules Social Media?”. Forbes. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2016. 
  236. ^ Strecker, Erin (27 tháng 1 năm 2015). “Read Taylor Swift's Sweet Message to Bullied Fan”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2015. 
  237. ^ Stein, Jeannine; For (18 tháng 11 năm 2011). “Taylor Swift weighs in on being a role model”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  238. ^ “Billboard Music Awards: Taylor Swift thanks her fans for being her 'longest and best relationship'. Metro. 20 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2015. 
  239. ^ Kessler, Zara (5 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift's Sexual Temptation”. Bloomberg L.P. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2016. 
  240. ^ Maresca, Rachel (4 tháng 2 năm 2014). “Taylor Swift: 'I find it relatively easy to keep my clothes on'. Daily News (New York). Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2016. 
  241. ^ Holt, Emily (1 tháng 7 năm 2011). “American Idols: Icons of Stateside Style – Vogue Daily”. Vogue. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012. 
  242. ^ “People's Best Dressed, Taylor Swift Best Dressed 2014”. People. 17 tháng 9 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  243. ^ Powell, Hannah Lyons (24 tháng 2 năm 2015). “Taylor Swift wins Woman Of The Year award – ELLE Style Awards 2015”. Elle. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  244. ^ Roy, Jessica (18 tháng 5 năm 2015). “Taylor Swift Tops the 2015 Maxim Hot 100”. Maxim. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  245. ^ Nicks, Stevie (29 tháng 4 năm 2010). “The 2010 Time 100: Taylor Swift”. Time. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  246. ^ Vena, Jocelyn (16 tháng 4 năm 2015). “Taylor Swift, Kanye West, Kim Kardashian Make Time's 100 Most Influential People List”. Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016. 
  247. ^ Greenburg, Zack O'Malley (14 tháng 12 năm 2011). “The Top-Earning Women In Music 2011”. Forbes. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
    Greenburg, Zack O'Malley (12 tháng 12 năm 2012). “The Top-Earning Women In Music 2012”. Forbes. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
    Greenburg, Zack O'Malley (11 tháng 12 năm 2013). “The Top-Earning Women In Music 2013”. Forbes. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
    Greenburg, Zack O'Malley (4 tháng 11 năm 2014). “The Top-Earning Women In Music 2014”. Forbes. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
    Greenburg, Zack O'Malley (4 tháng 11 năm 2015). “The World's Highest-Paid Women In Music 2015”. Forbes. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2015. 
  248. ^ “#8 Taylor Swift”. Forbes. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015. 
  249. ^ “Celebrity 100 2011”. Forbes. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016. 
    Schumann, Rebecka (26 tháng 5 năm 2013). “Forbes Lists Top 100 Most Powerful Celebrities in 2013: Oprah Winfrey Takes Number One Spot [Full list]”. International Business Times. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016. 
    Greenburg, Zack O'Malley (29 tháng 6 năm 2015). “Celebrity 100: The World's Highest-Paid Superstars Of 2015”. Forbes. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016. 
    Greenburg, Zack O'Malley (11 tháng 7 năm 2016). “Taylor Swift Is The World's Top-Earning Celebrity With $170 Million In 2016”. Forbes. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  250. ^ Greenburg, Zack O'Malley (2 tháng 6 năm 2016). “Taylor Swift's Net Worth: $250 Million In 2016”. Forbes. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2016. 
  251. ^ Couch, Robbie (2 tháng 3 năm 2015). “Taylor Swift Named Most Charitable Celeb For Supporting Feminist Causes, Education, More”. The Huffington Post. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  252. ^ Pacella, Megan (13 tháng 6 năm 2012). “Taylor Swift Receives Star of Compassion Award”. Taste Of Country. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2015. 
  253. ^ “Taylor Swift to Receive 'Big' Honor From Michelle Obama at Kids' Choice Awards”. Taste of Country. 27 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  254. ^ “Taylor Swift Honored With RFK Center's Ripple of Hope Award”. PR Newswire. 4 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  255. ^ “Taylor Swift donates $100,000 to victims of Iowa Flood”. People. 9 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2009. 
  256. ^ “Kylie to play at Sound Relief with Coldplay, Midnight Oil”. The Daily Telegraph (Úc). 8 tháng 3 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009. 
  257. ^ Vena, Jocelyn (26 tháng 1 năm 2010). “Better Than Ezra 'Honored' By Taylor Swift's Performance Of 'Breathless' At Haiti Telethon – Music, Celebrity, Artist News”. MTV. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  258. ^ Talbott, Chris (7 tháng 5 năm 2010). “Taylor Swift Donates $500,000 to Nashville Flood Relief”. CNS News. 
  259. ^ Lewis, Randy (23 tháng 5 năm 2011). “Taylor Swift benefit concert raises more than $750,000 for tornado victims”. Los Angeles Times (Blog). Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  260. ^ “Taylor Swift Sends 'Love and Support' to Hurricane Sandy Victims, Asks Fans to Help 'Restore the Shore'. Taste of Country. 13 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2014. 
  261. ^ “Taylor Swift gives $1m to help Louisiana flood relief efforts”. The Guardian. 17 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016. 
  262. ^ “Taylor Swift becomes namesake of Hendersonville High School auditorium”. The Tennessean (Blog). 23 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2011. 
  263. ^ Mckinley, James C. (17 tháng 5 năm 2012). “Taylor Swift to Donate $4 Million to the Country Hall of Fame”. The New York Times (Blog). Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  264. ^ Golden, Zara (1 tháng 10 năm 2012). “And The Taylor Swift VH1 Storytellers Contest Winner Is ... Harvey Mudd College! – | VH1 Tuner”. VH1. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2014. 
  265. ^ Sanz, Cynthia (14 tháng 12 năm 2009). “Taylor Swift Gives Big as She Turns 20 – Good Deeds, Taylor Swift”. People. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  266. ^ “Taylor Swift donates 6,000 books to Reading Library”. Reading Eagle. 14 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  267. ^ “Taylor Swift Donates 14,000 Books to Nashville Public Library”. Taste of Country. 2 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  268. ^ “Taylor Swift, Scholastic donate books to Reading Hospital | Regional: Berks – Home”. Wfmz.com. 18 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  269. ^ Zhu, Danielle (17 tháng 11 năm 2015). “Taylor Swift partners with Scholastic to donate 25,000 books”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  270. ^ “Taylor Swift Helps With 'Delete Online Predators' Campaign”. Nash Country Weekly. 18 tháng 9 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2015. 
  271. ^ “Sound Matters – Taylor Swift”. Sound Matters. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2015. 
  272. ^ Nguồn
  273. ^ “Taylor Swift and ACM Lifting Lives present $50,000 donation to St. Jude”. The Tennessean (Blog). 13 tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  274. ^ “New and Hot Video: Taylor Swift Debuts 'Ronan' at Stand Up To Cancer Benefit”. Rolling Stone. 8 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. 
  275. ^ “Dick Vitale holds annual fundraiser for pediatric cancer”. Tampa Bay Times. 17 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2014. 
  276. ^ “Taylor Swift donates $50K to CHOP to help teens with cancer”. The Business Journals (Blog). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2014. 
  277. ^ Nguồn
  278. ^ Hardiman, Tim (20 tháng 4 năm 2007). “Taylor Swift Encourages Teen Volunteers”. CMT. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. 
  279. ^ Stephen L. Betts (10 tháng 10 năm 2008). “Reba, Martina,Taylor Making Sure Every Woman Counts”. The Boot. 
  280. ^ Grigoriadis, Vanessa (5 tháng 3 năm 2009). “The Very Pink, Very Perfect Life of Taylor Swift”. Rolling Stone. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  281. ^ Macsai, Dan (19 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift on Going Pop, Ignoring the Gossip and the Best (Worst) Nickname She's Ever Had”. Time. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  282. ^ “Taylor Swift: Kennedys Should Be So Lucky to Have Her in the Family, Says Boyfriend Conor's Grandmother”. E!. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  283. ^ Hoby, Hermione (23 tháng 8 năm 2014). “Taylor Swift: 'Sexy? Not on my radar'. The Guardian. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2015. 
  284. ^ “Portia Joins Ellen To Stop The Hate”. E!. 10 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2012. 
  285. ^ Koday, Dan. “Taylor Swift's Mission: Take a Stand Against Hate! – Seventeen”. Seventeen. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  286. ^ a ă Hawgood, Alex (5 tháng 11 năm 2010). “For Gays, New Songs of Survival”. The New York Times. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  287. ^ “MTV adds social activism category to VMAs”. Reuters. 4 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  288. ^ “Taylor Swift at Top for Fourth Week”. Great American Country. 20 tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  289. ^ “Taylor Swift Launches Sundress Line – Ready-to-Wear and Sportswear – Media”. Women's Wear Daily. 29 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  290. ^ “Taylor Swift to have greeting card line”. USA Today. 18 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  291. ^ Serpe, Gina (29 tháng 10 năm 2008). “Taylor Swift Gets All Dolled Up”. E!. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2010. 
  292. ^ “Taylor Swift: NHL's New Spokesperson”. AOL. 3 tháng 2 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2010. 
  293. ^ “Sony Electronics News and Information”. Sony. 26 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  294. ^ Vena, Jocelyn (4 tháng 8 năm 2009). “Taylor Swift Shares Her Rock-Star Life In 'Band Hero'. MTV. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  295. ^ Garcia, Jennifer (27 tháng 10 năm 2009). “Photo: Taylor Swift Rocks Out for Band Hero”. People. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2016. 
  296. ^ “Target lands Taylor Swift exclusive – Minneapolis / St. Paul Business Journal”. The Business Journals. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  297. ^ Bratskeir, Anne (3 tháng 5 năm 2010). “Taylor Swift, a new CoverGirl”. Newsday. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2012. 
  298. ^ Nika, Colleen (3 tháng 7 năm 2012). “Taylor Swift to Launch Second Fragrance, 'Wonderstruck Enchanted'. Rolling Stone. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  299. ^ “First Look Taylor Swift Flies High in New Target Commercial”. E!. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. 
  300. ^ “Taylor Swift Plans TV Appearances For 10/22 Launch Of "Red" Album, Paid Song Downloads Top 3.8 Million In Advance Of Release”. PR Newswire. 17 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  301. ^ Hampp, Andrew (9 tháng 10 năm 2012). “Taylor Swift Teams With Walgreens For Exclusive Store To Promote 'Red'. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  302. ^ “Diet Coke Signs Taylor Swift As Brand Ambassador”. Advertising Age. 25 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2015. 
  303. ^ DelliCarpini Jr., Gregory (29 tháng 5 năm 2013). “Taylor Swift Reveals Third Fragrance: Taylor by Taylor Swift”. Billboard. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  304. ^ Sciarretto, Amy (24 tháng 12 năm 2012). “Taylor Swift Is Photogenic in Sony Camera Commercial”. Taste Of Country. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  305. ^ “American Greetings Sends Taylor Swift Greeting Card Mobile App Abroad”. PR Newswire. 24 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  306. ^ Corosu, Irene (17 tháng 6 năm 2014). “AirAsia unveiled as the official airline of Taylor Swift's Red Tour throughout South East Asia”. PHAR Partnerships. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  307. ^ “Qantas named exclusive official airline for Australia and New Zealand leg of Taylor Swift's The Red Tour”. Qantas. 21 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  308. ^ Reed, Chris (25 tháng 11 năm 2015). “Taylor Swift melts Cornetto's brand image in Asia”. Campaign Asia. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  309. ^ “Taylor Swift”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2014. 
  310. ^ Mychaskiw, Marianne (1 tháng 10 năm 2014). “Taylor Swift Is Launching Her Fourth Fragrance!”. InStyle. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  311. ^ “Taylor Swift”. Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  312. ^ “Winners of 3 American Music Awards”. taylorswift.com. 22 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  313. ^ “Taylor Swift Nashville Tickets”. Excite. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  314. ^ Friedlander, Whitney (10 tháng 9 năm 2015). “Taylor Swift, Jimmy Fallon Among Juried Emmy Award Winners”. Variety. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  315. ^ Shelburne, Craig (18 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift Named NSAI's Songwriter-Artist of the Year”. CMT. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  316. ^ “Songwriters Hall of Fame”. Songwriters Hall of Fame. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  317. ^ Caulfield, Keith (23 tháng 12 năm 2015). “Taylor Swift's 'Fearless' Surpasses 7 Million Sold in U.S.: Billboard 200 Chart Moves”. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  318. ^ Partridge, Kenneth (11 tháng 2 năm 2016). “Taylor Swift's '1989': Grammy Album of the Year Spotlight”. Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]