Fearless Tour

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Fearless Tour
Áp phích quảng bá vào năm 2009
Chuyến lưu diễn của Taylor Swift
Album Fearless
Ngày bắt đầu 23 tháng 4 năm 2009
Ngày kết thúc 5 tháng 6 năm 2010
Giai đoạn 4
Số buổi diễn 97 tại Bắc Mỹ
2 tại châu Âu
7 tại Úc
1 tại châu Á
107 tổng cộng
Doanh thu 63,7 triệu USD (67,89 triệu USD theo thời giá năm 2016[1])
Thứ tự tour của Taylor Swift
Fearless Tour
(2009-2010)
Speak Now World Tour
(2011)

Fearless Tour là chuyến lưu diễn đầu tiên của nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ Taylor Swift nhằm quảng bá album phòng thu thứ hai của cô, Fearless (2008).

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 11 năm 2008, Swift phát hành album Fearless thông qua hãng đĩa Big Machine Records.[2] Hầu hết các bài hát trong album đều do Swift sáng tác hoặc đồng sáng tác cùng nhiều ca-nhạc sĩ như Liz Rose, Hillary Lindsey, Colbie Caillat và John Rich. Nội dung album xoay quanh những câu chuyện về tình yêu tuổi teen trên nền nhạc pop đồng quê,[3] có phần trưởng thành hơn so với tác phẩm đầu tay của cô.[4] Album nhận được nhiều phản hồi tích cực từ các nhà phê bình và đạt thành công lớn về mặt thương mại khi đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200, đồng thời trở thành album đồng quê bán chạy nhất năm 2008.[5]

Ngày 30 tháng 1 năm 2009, Swift chính thức công bố chuyến lưu diễn mang tên Fearless Tour trên trang web chính thức của mình.[6] Lịch trình ban đầu đi qua 52 thành phố tại Hoa Kỳ và Canada, khởi động tại Evansville vào ngày 23 tháng 4 năm 2009 và kết thúc tại Minneapolis vào ngày 10 tháng 10 cùng năm.[7] Tham gia cùng Swift trong suốt chuyến lưu diễn là ban nhạc đồng quê Gloriana và thí sinh tham dự cuộc thi Thần tượng âm nhạc Mỹ Kellie Pickler. Tuy nhiên ban đầu, Swift vẫn chưa xác định được địa điểm tổ chức cụ thể tại mỗi thành phố,[6] ngoại trừ Los Angeles.[8] Giữa tháng 6 năm 2009, Swift ấn định ngày diễn tại Đấu trường Wembley, Luân Đôn.[9] Sau đó, cô tiếp tục thêm Manchester vào hành trình tại châu Âu, đồng thời xác nhận Justin Bieber sẽ tham gia mở màn cho cả hai đêm diễn ở Anh Quốc.[10] Ngày 30 tháng 9 năm 2009, lịch diễn cho khán giả Úc được công bố, gồm năm ngày diễn đấu trường.[11] Một tuần sau, Swift quyết định mở rộng chuyến lưu diễn đến tháng 6 năm 2010, bổ sung thêm 37 đêm diễn tại Bắc Mỹ,[12] và lần lượt xác nhận địa điểm tổ chức tại từng thành phố ngay từ tháng 10.[13] Tháng 12 năm 2009, Swift chọn sân vận động Gillette, bang Massachussets làm điểm dừng chân cuối cùng, khép lại chuyến lưu diễn vào ngày 5 tháng 6 năm 2010.[14] Đầu năm 2010, nữ ca sĩ thông báo buổi diễn châu Á đầu tiên, tổ chức tại Nhật Bản vào tháng 2 cùng năm.[15]

Trong khuôn khổ chuyến lưu diễn, Swift cũng xác nhận tham gia trình diễn tại nhiều lễ hội khắp Bắc Mỹ, bao gồm Cheyenne Frontier Days,[16] North Dakota State Fair,[17] Chippewa Valley Country Fest, Country USA Festival, Country Thunder Festival, We Fest,[18] BamaJam,[19] và Bayou Country Superfest 2010.[20] Cô còn tham gia mở màn cho 9 buổi diễn của Keith Urban trong chuyến lưu diễn Escape Together World Tour từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2009.[18][21]

Diễn biến thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Lượng vé bán[sửa | sửa mã nguồn]

Swift trình diễn tại Newark vào năm 2010, nơi cô bán hết cả hai buổi diễn trong vòng hai phút.

Theo yêu cầu của Swift, vé tại phần lớn các thị trường trong năm 2009 tính luôn cả lệ phí địa phương bao gồm các mức giá 20 USD, 39.50 USD và 49.50 USD, ngoại trừ một số nơi như thành phố New York, Los Angeles, Las Vegas và Uncasville.[7][22] Sang năm 2010, giá vé có sự điều chỉnh, bắt đầu ở mức 25 USD.[12] Pollstar cho biết giá vé trung bình của chuyến lưu diễn trong năm 2010 tăng thêm nhiều so với năm 2009, lần lượt là 62,79 USD và 47,02 USD.[23][24] Vé cho hầu hết các đêm diễn đều được bán ngay trong năm 2009,[7][9][10][14] riêng tại Nhật Bản là từ cuối tháng 1 năm 2010.[15] Los Angeles là nơi bán vé đầu tiên, bắt đầu từ 10 giờ sáng ngày 6 tháng 2 thông qua Ticketmaster. Vé cho buổi diễn tại đây nhanh chóng hết sạch trong thời gian kỉ lục hai phút.[25] Tình trạng cháy vé tiếp tục xảy ra tại nhiều đấu trường khắp Bắc Mỹ trong các đợt bán vé sau,[26] bao gồm cả Madison Square Garden ở thành phố New York, nơi Swift bán hết buổi diễn trong vòng 60 giây.[27] Tại Jonesboro, lượng người mua vé trực tuyến quá cao cùng một lúc đã khiến cho hệ thống bán vé trở nên quá tải, khá nhiều người tỏ ra thất vọng vì không thể mua vé dù chờ đợi nhiều giờ liền.[28] Trên thị trường thứ cấp, vé bị hét giá rất cao, lên đến 1.100 USD, và một số vé thậm chí còn chưa mở bán chính thức. Chủ tịch tập đoàn AEG Live Louis Messina chia sẻ với Billboard rằng điều này đi ngược lại với mục đích giá cả phải chăng của ban tổ chức. Ông còn tiết lộ chuyện Swift ngay lập tức phản đối ý định bán đấu giá vé ba đêm diễn đầu tiên, bởi theo cô làm như vậy chẳng khác gì những người bán lại.[22]

Vé cho chặng Bắc Mỹ thứ hai và Úc bắt đầu mở bán từ hai tuần cuối tháng 10.[11][12] Chuyến lưu diễn gặp thành công lớn về mặt bán vé tại Hoa Kỳ khi bốn đêm diễn tại Newark và Uniondale nhanh chóng bán hết trong vòng hai phút, tiếp sau là 13 buổi diễn tại Philadelphia, Houston, Detroit, Washington D.C., Dallas, thành phố Kansas, Austin và Corpus Christi.[29] Tình trạng bán lại vé lại một lần nữa tái diễn. Country Standard Time cho biết có hơn 1.500 cuộc đấu giá vé trên eBay ngay trong ngày bán vé đầu tiên. Mức giá cao nhất được ghi nhận lên đến con số 8.100 USD.[29] Do nhu cầu cao từ khán giả, Swift thông báo thêm đêm diễn thứ hai tại Washington D.C., tổ chức vào ngày 1 tháng 6 năm 2010.[30] Nữ ca sĩ cũng tăng cường thêm hai đêm diễn khác tại Sydney và Melbourne,[31][32] nâng tổng số buổi diễn tại Úc lên 7 buổi so với ban đầu.[11][33] Vé tại Moline và Fresno được tẩu tán nhanh trong khoảng 10 phút theo ban tổ chức.[34] Swift trở thành một trong những nghệ sĩ hiếm hoi có khả năng bán hết vé tại Trung tâm Save Mart trong một thời gian ngắn.[35] Buổi diễn của cô tại lễ hội thường niên Country USA Festival thiết lập kỉ lục về số lượng người tham dự khi thu hút hơn 42.000 khán giả.[36] Swift còn là nữ nghệ sĩ hát đơn đầu tiên trong lịch sử trình diễn tại sân vận động Gillette, bán hết buổi diễn tại đây trong vòng 20 phút, đồng thời đánh dấu lần lưu diễn đầu tiên của cô tại một sân vận động của Giải Bóng bầu dục Quốc gia Hoa Kỳ.[37][38]

Doanh thu phòng vé[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến giữa năm 2009, Fearless Tour thu về 9 triệu USD từ 194.149 vé sau 17 buổi diễn, đứng thứ 43 trong danh sách "2009 Mid-Year Top 100 North American Tours" của Pollstar.[39] Billboard bắt đầu tiết lộ doanh thu từng đêm diễn cụ thể từ tháng 7 năm 2009.[40] Ngày 15 tháng 10 năm 2009, tạp chí này công bố số liệu doanh thu của 24 đêm diễn tổ chức từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 11 tháng 10, nâng tổng doanh thu của chặng Bắc Mỹ đầu tiên lên 23 triệu USD (24,92 triệu USD theo thời giá năm 2016[1]) sau 42 đêm diễn cháy vé.[41] Trong các bảng xếp hạng của Pollstar vào cuối năm 2009, Fearless Tour lần lượt đứng ở vị trí thứ 36 trong "2009 Year-End Top 100 North American Tours" và thứ 48 trong "2009 Year-End Top 50 Worldwide Concert Tours". Doanh thu chuyến lưu diễn trên toàn cầu trong năm 2009 đạt 26,1 triệu USD (28,27 triệu USD theo thời giá năm 2016[1]) từ 555.082 vé tiêu thụ sau 52 buổi diễn tại 49 thành phố, trong đó 25,5 triệu USD (27,62 triệu USD theo thời giá năm 2016[1]) là từ Hoa Kỳ và Canada.[24][42]

Sau khi kết thúc vào tháng 6 năm 2010, Pollstar liệt kê Fearless Tour ở vị trí thứ 8 trong danh sách "2010 Mid-Year Top 100 Worldwide Tours" nhờ doanh thu đạt 40,4 triệu USD (43,06 triệu USD theo thời giá năm 2016[1]) từ 640.659 vé tiêu thụ tại 46 buổi diễn.[43] Riêng tại thị trường Bắc Mỹ, chuyến lưu diễn thu về hơn 34,2 triệu USD (36,45 triệu USD theo thời giá năm 2016[1]), đứng thứ 3 trong danh sách "2010 Mid-Year Top 100 North American Tours".[44] Các vị trí này lần lượt bị đẩy xuống vị trí thứ 28 và 20 trong các bảng xếp hạng tương ứng vào cuối năm. Pollstar cũng đính chính lại tổng số lượng vé bán trên toàn cầu là 643.414 vé, tiêu thụ từ 47 buổi diễn tại 36 thành phố.[45][46] Đến tháng 12, chuyến lưu diễn xuất hiện ở vị trí thứ 15 trong "Top 25 Tour of 2010" của Billboard, kiếm hơn 40,3 triệu USD (42,95 triệu USD theo thời giá năm 2016[1]) từ 643.168 vé sau 47 buổi diễn, trong đó có 45 buổi diễn cháy vé.[47] Tổng thể, Fearless Tour thu về 63,7 triệu USD (67,89 triệu USD theo thời giá năm 2016[1]), phục vụ 1.138.977 khán giả theo thống kê của Billboard Boxscore.[48] Còn theo các số liệu từ Pollstar, chuyến lưu diễn thu về 66,5 triệu USD (70,87 triệu USD theo thời giá năm 2016[1]) từ 1.198.496 vé tiêu thụ.[23][24]

Đêm diễn tại sân vận động Gillette ở Foxborough là nơi có doanh thu cao nhất trong chuyến lưu diễn, thu hút 56.868 khán giả và đem về hơn 3.7 triệu USD.[38] Foxborough cùng với các buổi diễn khác của Swift tại Toronto, Philadelphia, Washington D.C., Newark, Los Angeles, Uniondale, Auburn Hills và Denver lọt vào danh sách "2010 Mid-Year Top 100 Concert Grosses" của Pollstar.[49] Đến cuối năm 2010, ngoại trừ Denver, 7 đêm diễn còn lại tiếp tục xuất hiện trong dach sách "2010 Year-End Top 200 Concert Grosses" nhưng có sự thay đổi về thứ hạng.[50]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Craig Rosen từ The Hollywood Reporter khẳng định buổi diễn đã cho thấy "lý do tại sao [Swift] trở thành tân nữ hoàng của dòng nhạc đồng quê". Ông coi hai màn trình diễn "Fifteen" và "Tim McGraw" là điểm nhấn của chương trình, đồng thời khen ngợi "sự xuất hiện đáng yêu dù không quá rực rỡ và thậm chí có hơi vụng về" của Swift.[51] August Brown từ Los Angeles Times mô tả Swift khi đứng dưới thác nước trong phần hát lại có chút ít gì đó giống như "một ngôi sao nhạc Pop" nhưng cũng là một thiếu niên — ướt đẫm, ham chơi và những lời thanh minh khi cô về nhà sau giờ giới nghiêm". Ông nhận thấy "người hâm mộ của [Swift] không những tin vào những sáng tác hay và sự xuất hiện duyên dáng, quyến rũ của Swift mà họ còn coi cô như một người bạn."[52] Brandy McDonel từ The Oklahoman khẳng định âm nhạc của Swift một lần nữa chứng minh tài năng không thể phủ nhận của cô trong việc đề cập đến những ước vọng của giới trẻ.

Danh sách tiết mục[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch trình[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các buổi hòa nhạc, ngày, thành phố, quốc gia, địa điểm, nghệ sĩ mở màn, số lượng vé bán ra, số lượng vé có sẵn và doanh thu
Ngày Thành phố Quốc gia Địa điểm Nghệ sĩ mở màn Số người tham dự Doanh thu
Bắc Mỹ[18][61][62][63]
23 tháng 4 năm 2009 Evansville Hoa Kỳ Sân vận động Roberts Kellie Pickler
Gloriana
7.463 / 7.463 $360.617
24 tháng 4 năm 2009 Jonesboro Trung tâm Convocation 7.822 / 7.822 $340.328
25 tháng 4 năm 2009 St. Louis Trung tâm Scottrade 13.764 / 13.764 $650.420
30 tháng 4 năm 2009 Charleston North Charleston Coliseum 8.751 / 8.751 $398.154
1 tháng 5 năm 2009 Jacksonville Đấu trường Jacksonville Veterans Memorial 11.072 / 11.072 $507.012
2 tháng 5 năm 2009 Biloxi Mississippi Coast Coliseum 9.436 / 9.436 $437.313
14 tháng 5 năm 2009 Spokane Đấu trường Spokane 10.798 / 10.798 $482.146
15 tháng 5 năm 2009 Seattle KeyArena 12.061 / 12.061 $528.637
16 tháng 5 năm 2009 Portland Đấu trường Rose Garden 13.226 / 13.226 $613.284
17 tháng 5 năm 2009 Nampa Trung tâm Ford Idaho 8.970 / 8.970 $413.622
21 tháng 5 năm 2009 Glendale Đấu trường Jobing.com 13.052 / 13.052 $647.923
22 tháng 5 năm 2009 Los Angeles Trung tâm Staples 13.648 / 13.648 $720.940
23 tháng 5 năm 2009 Las Vegas Trung tâm Sự Kiện Mandalay Bay 8.311 / 8.311 $551.051
24 tháng 5 năm 2009 San Diego Trung tâm Valley View Casino 10.174 / 10.174 $502.689
26 tháng 5 năm 2009 Thành phố Salt Lake Đấu trường EnergySolutions 13.042 / 13.042 $555.207
4 tháng 6 năm 2009[a] Enterprise BamaJam không có không có không có
11 tháng 6 năm 2009 Columbia Merriweather Post Pavilion Kellie Pickler
Gloriana
17.619 / 17.619 $608.438
12 tháng 6 năm 2009 Greensboro Greensboro Coliseum 14,641 / 14,641 $690.959
24 tháng 6 năm 2009[b] Oshkosh Country USA Festival không có không có không có
25 tháng 6 năm 2009[c] Cadott Chippewa Valley Country Fest
8 tháng 7 năm 2009 Calgary Canada Pengrowth Saddledome
10 tháng 7 năm 2009[d] Craven Craven Country Jamboree
11 tháng 7 năm 2009 Winnipeg Trung tâm MTS Kellie Pickler
Gloriana
11.369 / 11.369 $512.487
16 tháng 7 năm 2009[e] Twin Lakes Hoa Kỳ Country Thunder Festival không có không có không có
17 tháng 7 năm 2009 Columbus Đấu trường Nationwide
18 tháng 7 năm 2009 Charleston Trung tâm Charleston Civic
23 tháng 7 năm 2009[f] Cheyenne Cheyenne Frontier Days
24 tháng 7 năm 2009 Thành phố Rapid Trung tâm Rushmore Plaza Civic
25 tháng 7 năm 2009[g] Minot North Dakota State Fair
7 tháng 8 năm 2009[h] Detroit Lakes We Fest
9 tháng 8 năm 2009 Omaha Trung tâm Qwest Kellie Pickler
Gloriana
13.892 / 13.892 $675.455
27 tháng 8 năm 2009 Thành phố New York Madison Square Garden 13.597 / 13.597 $976.062
28 tháng 8 năm 2009 Uncasville Đấu trường Mohegan không có không có không có
29 tháng 8 năm 2009 University Park Trung tâm Bryce Jordan
30 tháng 8 năm 2009 Louisville Freedom Hall
3 tháng 9 năm 2009 Duluth Arena at Gwinnett Center
4 tháng 9 năm 2009 Greenville Đấu trường Bon Secours Wellness
5 tháng 9 năm 2009 Charlotte Đấu trường Time Warner Cable
9 tháng 9 năm 2009[i] Lafayette Cajundome
10 tháng 9 năm 2009[j] Thành phố Bossier CenturyTel Center
11 tháng 9 năm 2009[k] Birmingham Birmingham–Jefferson Convention Complex
12 tháng 9 năm 2009 Nashville Trung tâm Sommet Kellie Pickler
Gloriana
14.269 / 14.269 $642.387
25 tháng 9 năm 2009 Dallas Trung tâm American Airlines 13.794 / 13.794 $628.062
26 tháng 9 năm 2009 North Little Rock Verizon Arena 13.978 / 13.978 $654.089
27 tháng 9 năm 2009 Tulsa Trung tâm BOK không có không có không có
1 tháng 10 năm 2009 Pittsburgh Đấu trường Mellon
2 tháng 10 năm 2009 Grand Rapids Đấu trường Van Andel
3 tháng 10 năm 2009 Cleveland Đấu trường Quicken Loans Kellie Pickler
Gloriana
15.524 / 15.524 $743.492
8 tháng 10 năm 2009 Indianapolis Conseco Fieldhouse 13.373 / 13.373 $634.876
9 tháng 10 năm 2009 Rosemont Đấu trường Allstate 26.265 / 26.265 $1.150.896
10 tháng 10 năm 2009
11 tháng 10 năm 2009[l] Minneapolis Trung tâm Target 13.563 / 13.563 $623.975
châu Âu[9][10][66]
23 tháng 11 năm 2009 Luân Đôn Anh Đấu trường Wembley Justin Bieber không có không có
24 tháng 11 năm 2009 Manchester Đấu trường MEN
Châu Đại Dương[61]
4 tháng 2 năm 2010 Brisbane Úc Brisbane Entertainment Centre Gloriana 11.334 / 11.334 $956.505
6 tháng 2 năm 2010 Sydney Đấu trường Acer 27.030 / 27.030 $2.030.640
7 tháng 2 năm 2010
8 tháng 2 năm 2010 Newcastle Trung tâm Giải trí Newcastle 7.180 / 7.180 $555.396
10 tháng 2 năm 2010 Melbourne Đấu trường Rod Laver 23.493 / 23.493 $1.627.510
11 tháng 2 năm 2010
12 tháng 2 năm 2010 Adelaide Trung tâm Giải trí Adelaide 8.376 / 9.066 $585.352
Châu Á[15]
17 tháng 2 năm 2010 Tokyo Nhật Bản Zepp không có không có không có
Bắc Mỹ[20][67]
4 tháng 3 năm 2010 Tampa Hoa Kỳ St. Pete Times Forum Kellie Pickler
Gloriana
13.861 / 13.861 $793.049
5 tháng 3 năm 2010 Orlando Đấu trường Amway 11.101 / 11.101 $598.581
7 tháng 3 năm 2010 Sunrise Trung tâm BankAtlantic 13.453 / 13.453 $777.442
10 tháng 3 năm 2010 Austin Trung tâm Frank Erwin 11.928 / 11.928 $642.705
11 tháng 3 năm 2010 Dallas American Airlines Center 14.022 / 14.022 $742.954
12 tháng 3 năm 2010 Corpus Christi Trung tâm American Bank 8.423 / 8.423 $501.169
18 tháng 3 năm 2010 Philadelphia Trung tâm Wachovia 30.360 / 30.360 $2.002.321
19 tháng 3 năm 2010
20 tháng 3 năm 2010 Charlottesville Đấu trường John Paul Jones 11.858 / 11.858 $664.305
26 tháng 3 năm 2010 Auburn Hills The Palace of Auburn Hills 29.125 / 29.125 $1.711.591
27 tháng 3 năm 2010
28 tháng 3 năm 2010 Cincinnati Đấu trường U.S. Bank 11.208 / 11.208 $645.592
31 tháng 3 năm 2010 Thành phố Oklahoma Trung tâm Ford 11.795 / 11.795 $675.184
1 tháng 4 năm 2010 Wichita Đấu trường Intrust Bank 11.208 / 11.208 $610.801
2 tháng 4 năm 2010 Thành phố Kansas Trung tâm Sprint 13.781 / 13.781 $761.110
6 tháng 4 năm 2010 Denver Trung tâm Pepsi 25.991 / 25.991 $1.497.135
7 tháng 4 năm 2010
10 tháng 4 năm 2010 Fresno Trung tâm Save Mart 11.706 / 11.706 $649.488
11 tháng 4 năm 2010 San Jose HP Pavilion 12.744 / 12.744 $716.726
15 tháng 4 năm 2010 Los Angeles Trung tâm Staples 27.518 / 27.518 $1.736.197
16 tháng 4 năm 2010
29 tháng 4 năm 2010 Lexington Đấu trường Rupp 17.966 / 17.966 $1.024.223
30 tháng 4 năm 2010 Columbia Đấu trường Colonial Life Arena 13.429 / 13.429 $755.475
1 tháng 5 năm 2010 Raleigh Trung tâm RBC 13.895 / 13.895 $752.303
6 tháng 5 năm 2010 Des Moines Đấu trường Wells Fargo 13.264 / 13.264 $738.280
7 tháng 5 năm 2010 St. Paul Trung tâm Xcel Energy 14.914 / 14.914 $846.111
8 tháng 5 năm 2010 Moline Trung tâm iWireless 10.641 / 10.641 $610.668
12 tháng 5 năm 2010 Newark Trung tâm Prudential 26.065 / 26.065 $1.742.669
13 tháng 5 năm 2010
14 tháng 5 năm 2010 Uniondale Nassau Coliseum 25.831 / 25.831 $1.713.529
15 tháng 5 năm 2010
20 tháng 5 năm 2010 Ottawa Canada Scotiabank Place 13.376 / 13.376 $873.206
21 tháng 5 năm 2010 Toronto Trung tâm Air Canada 30.458 / 30.458 $2.497.690
22 tháng 5 năm 2010
25 tháng 5 năm 2010 Houston Hoa Kỳ Trung tâm Toyota 23.493 / 23.493 $1.290.926
26 tháng 5 năm 2010
29 tháng 5 năm 2010[m] Baton Rouge Sân vận động LSU Tiger không có không có không có
1 tháng 6 năm 2010 Washington, D.C. Trung tâm Verizon Kellie Pickler
Gloriana
27.290 / 27.290 $1.824.743
2 tháng 6 năm 2010
5 tháng 6 năm 2010 Foxborough Sân vận động Gillette Justin Bieber
Gloriana
Kellie Pickler
56.868 / 56.868 $3.726.157

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Buổi diễn này là một phần của lễ hội BamaJam.
  2. ^ Buổi diễn này là một phần của lễ hội Country USA Festival.
  3. ^ Buổi diễn này là một phần của lễ hội Chippewa Valley Country Fest.
  4. ^ Buổi diễn này là một phần của lễ hội Craven Country Jamboree.
  5. ^ Buổi diễn này là một phần của lễ hội Country Thunder Festival.
  6. ^ Buổi diễn này là một phần của Cheyenne Frontier Days.
  7. ^ Buổi diễn này là một phần của lễ hội North Dakota State Fair.
  8. ^ Buổi diễn này là một phần của lễ hội We Fest.
  9. ^ Buổi diễn tại Lafayette ban đầu định diễn ra vào ngày 10 tháng 9 năm 2009,[18] nhưng đã được dời đến ngày 9 tháng 9 năm 2009 sau khi Swift thêm Nashville vào hành trình.[62]
  10. ^ Buổi diễn tại thành phố Bossier ban đầu định diễn ra vào ngày 11 tháng 9 năm 2009,[18] nhưng đã được dời đến ngày 11 tháng 9 năm 2009 sau khi Swift thêm Nashville vào hành trình.[62]
  11. ^ Buổi diễn tại Birmingham ban đầu định diễn ra vào ngày 12 tháng 9 năm 2009,[64] nhưng đã được dời đến ngày 11 tháng 9 năm 2009 sau khi Swift thêm Nashville vào hành trình.[62]
  12. ^ Buổi diễn tại Minneapolis định diễn ra vào ngày 10 tháng 10 năm 2009,[6] nhưng đã được dời đến ngày 11 tháng 10 năm 2009[65] sau khi Swift tăng cường thêm một đêm diễn tại Rosemont.[63]
  13. ^ Buổi diễn này là một phần của lễ hội Bayou Country Superfest.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê Consumer Price Index (estimate) 1800–2014. Federal Reserve Bank of Minneapolis. Retrieved February 27, 2014.
  2. ^ Solin, Jennifer (10 tháng 8 năm 2016). “Taylor Swift New Album Release Date Postponed; Is She Laying Low After Kim Kardashian, Kanye West Drama?”. International Business Times. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016. 
  3. ^ Erlewine, Stephen Thomas. “Fearless - Taylor Swift”. AllMusic. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2010. 
  4. ^ Rosen, Jody (13 tháng 11 năm 2008). “Taylor Swift: Fearless”. Rolling Stone. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2016. 
  5. ^ Cohen, Jonathan (19 tháng 11 năm 2008). “Taylor Swift Soars To No. 1 Debut”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2016. 
  6. ^ a ă â “TAYLOR SWIFT, BILLBOARD’S BEST-SELLING ARTIST OF 2008, ANNOUNCES “FEARLESS 2009” HEADLINING TOUR”. TaylorSwift.com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2016. 
  7. ^ a ă â CMT.com Staff (30 tháng 1 năm 2009). “Taylor Swift Announces First National Tour as Headliner”. Country Music Television. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2016. 
  8. ^ Martens, Todd (30 tháng 1 năm 2009). “Taylor Swift gets Staples Center gig”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2016. 
  9. ^ a ă â Fletcher, Alex (17 tháng 6 năm 2009). “Taylor Swift announces Wembley show”. Digital Spy. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2016. 
  10. ^ a ă â “Taylor Swift announces Manchester show”. Manchester Evening News Arena. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2016. 
  11. ^ a ă â “TAYLOR SWIFT BRINGS HER FEARLESS TOUR DOWN UNDER THIS SUMMER!”. TaylorSwift.com. 30 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2016. 
  12. ^ a ă â Herrera, Monica (8 tháng 10 năm 2009). “Taylor Swift Announces Second Leg Of 'Fearless' Tour”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2016. 
  13. ^ Lustig, Jay (15 tháng 10 năm 2009). “Taylor Swift schedules two shows at Newark's Prudential Center”. NJ.com. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2016. 
  14. ^ a ă “Taylor Swift - Fearless Tour 2010 - Gillette Stadium”. Gillette Stadium Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2016. 
  15. ^ a ă â “テイラー・スウィフト、1夜限りの来日公演が決定!” (bằng tiếng Nhật). CD Journal. 6 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016. 
  16. ^ cmt.com staff (26 tháng 11 năm 2008). “Kenny Chesney, George Strait, Taylor Swift to Play Cheyenne Frontier Days”. Country Music Television. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016. 
  17. ^ “Taylor Swift, Motley Crue among North Dakota State Fair 2009”. Grand Forks Herald. 25 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016. 
  18. ^ a ă â b c Vena, Jocelyn (12 tháng 3 năm 2009). “Taylor Swift Announces Tour Dates”. MTV. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2016. 
  19. ^ Ronnie Gilley Properties (29 tháng 5 năm 2009). “Taylor Swift, Kid Rock, Brooks & Dunn, Alan Jackson, The Black Crowes, Los Lonely Boys, Robert Randolph Set to Rock the Verizon Wireless BamaJam Music & Arts Festival” (Thông cáo báo chí). Enterprise, Ala: PR Newswire. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016. 
  20. ^ a ă Calvin Gilbert (21 tháng 10 năm 2009). “Kenny Chesney, Taylor Swift Booked for Louisiana Music Festival”. Country Music Television. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2016. 
  21. ^ Jepson, Louisa (2013). Taylor Swift. London: Simon & Schuster. tr. 115. ISBN 1471130878. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2016. 
  22. ^ a ă Waddel, Ray (21 tháng 3 năm 2009). "Fearless" Scalpers”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc.) 121 (11). ISSN 0006-2510. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2016. 
  23. ^ a ă “2010 Year-End Top 50 Worldwide Tours” (PDF). Pollstar. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016. 
  24. ^ a ă â “2009 Year-End Top 50 Worldwide Tours” (PDF). Pollstar. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016. 
  25. ^ Big Machine Records (6 tháng 2 năm 2009). “Taylor Swift Sells Out LA's Staples Center in 2 Minutes” (Thông cáo báo chí). Nashville, Tennessee: PR Newswire. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016. 
  26. ^ Staff Report (13 tháng 2 năm 2009). “Taylor Swift tickets gone in a flash”. Evansville Courier Press. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016. 
  27. ^ Duckett, Jodi (31 tháng 3 năm 2009). “Taylor, Taylor everywhere”. The Morning Call. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016. 
  28. ^ “Taylor Swift Concert Tickets Sell Swiftly”. KAIT. ABC. 2009. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016. 
  29. ^ a ă “Taylor Swift sells out fast”. Country Standard Time. 23 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2016. 
  30. ^ “2009's hottest touring artist Taylor Swift adds second date at Verizon Center on Tuesday, June 1st with special guest Kellie Pickler”. Verizon Center Official Website. 7 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2016. 
  31. ^ “Taylor Swift: Event: Acer Arena”. TaylorSwift.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2016. 
  32. ^ “Taylor Swift: Upcoming Shows”. TaylorSwift.com. 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2010. 
  33. ^ Reuters (26 tháng 10 năm 2010). “Taylor Swift Dates Sell Out In Minutes”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2016. 
  34. ^ Burke, David (6 tháng 11 năm 2009). “Tickets to Taylor Swift concert sell out in 10 minutes”. The Quad-City Times. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016. 
  35. ^ “Taylor Swift tickets sell out in minutes”. The Fresno Bee. 5 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2016. 
  36. ^ cmt.com staff (26 tháng 6 năm 2009). “Taylor Swift Sets Attendance Records at Country USA Festival”. Country Music Television. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2016. 
  37. ^ “A Swift sell-out for Gillette Stadium concert next June”. The Sun Chronicle. 6 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2016. 
  38. ^ a ă Allen, Bob (17 tháng 6 năm 2010). “Hot Tours: Taylor Swift, Vasco Rossi, Rod Stewart”. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2016. 
  39. ^ “2009 Mid-Year Top 100 North American Tours” (PDF). Pollstar. 28 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016. 
  40. ^ “Billboard Boxscore: Concert Gross”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc) 121 (27): 9. 11 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016. 
  41. ^ Allen, Bob (15 tháng 10 năm 2009). “Hot Tours: U2, Taylor Swift, Ruben Blades”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016. 
  42. ^ “2009 Year-End Top 100 North American Tours” (PDF). Pollstar. 2009. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016. 
  43. ^ “2010 Mid-Year Top 100 Worldwide Tours” (PDF). Pollstar. 2010. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016. 
  44. ^ “2010 Mid-Year Top 100 North American Tours” (PDF). Pollstar. 2010. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016. 
  45. ^ “2010 Year-End Top 50 Worldwide Tours” (PDF). Pollstar. 2010. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016. 
  46. ^ “2010 Year-End Top 100 North American Tours” (PDF). Pollstar. 2010. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016. 
  47. ^ “Top 25 Tours of 2010”. Billboard. 8 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016. 
  48. ^ Mapes, Jillian (23 tháng 11 năm 2010). “Taylor Swift Announces 'Speak Now' World Tour”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016. 
  49. ^ “2010 Mid-Year Top 100 Concert Grosses” (PDF). Pollstar. 2010. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2016. 
  50. ^ “2010 Year-End Top 200 Concert Grosses” (PDF). Pollstar. 2010. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2016. 
  51. ^ Rosen, Craig (26 tháng 5 năm 2009). “Taylor Swift at Staples Center -- Concert Review”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2016. 
  52. ^ Brown, August (25 tháng 5 năm 2009). “Pop Music Review”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2016. 
  53. ^ Soeder, John (4 tháng 10 năm 2009). “Country-pop star Taylor Swift ignites a new love affair during sold-out show at The Q”. The Plain Dealer. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2016. 
  54. ^ K.Wiebe, Crystal (5 tháng 4 năm 2010). “Taylor Swift at Sprint Center”. Kansas City Pitch. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016. 
  55. ^ a ă “Taylor Swift opens solo tour”. Country Standard Time. 24 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016. 
  56. ^ Burke, David (9 tháng 5 năm 2010). “Taylor goes over the top in Q-C concert”. The Quad-City Times. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016. 
  57. ^ Brown, August (25 tháng 5 năm 2009). “Pop Music Review”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016. 
  58. ^ Finan, Eileen (13 tháng 9 năm 2009). “Taylor Swift’s Homecoming Night”. People. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016. 
  59. ^ Adickman, Erika Brooks (16 tháng 4 năm 2010). “Taylor Swift Sings ‘Hot N Cold’ With Katy Perry, Proves She Can Share A Spotlight”. Idolator. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016. 
  60. ^ S. Semon, Craig (7 tháng 6 năm 2010). “Taylor Swift proves worthy as queen of country music”. Telegram & Gazette. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016. 
  61. ^ a ă “Billboard Boxscore (Subscriber's only)”. Billboard (Thành phố New York). 18 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2016. 
  62. ^ a ă â b Verizon Wireless (28 tháng 4 năm 2009). “Taylor Swift Goes Mobile With Verizon Wireless To Kick Off Her First U.S. Headline Tour” (Thông cáo báo chí). PR Newswire. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016. 
  63. ^ a ă “Taylor Swift - Concert Schedule”. Pollstar. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016. 
  64. ^ Colurso, Mary (2 tháng 2 năm 2009). “Taylor Swift readies 'Fearless' tour -- and Birmingham's on her list - Scene blog - al.com”. The Birmingham News (blog). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016. 
  65. ^ “Taylor Swift”. Target Center. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016. 
  66. ^ Archive Kyle Anderson (24 tháng 11 năm 2009). “Justin Bieber Breaks Foot At London Concert”. MTV. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016. 
  67. ^ Doanh thu phòng vé các đêm diễn tại Bắc Mỹ trong năm 2010

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]