Houston
| Houston | |
|---|---|
| — Thành phố — | |
| Vị trí tại Texas##Vị trí tại Hoa Kỳ | |
| Quốc gia | |
| Tiểu bang | |
| Quận | Harris, Fort Bend, Montgomery |
| Hợp nhất | 5 tháng 6 năm 1837 |
| Người sáng lập | Augustus Chapman Allen, John Kirby Allen |
| Đặt tên theo | Sam Houston |
| Chính quyền | |
| • Kiểu | Chính quyền thị trưởng-hội đồng mạnh |
| • Thị trưởng | John Whitmire (D) |
| • Cơ quan điều hành | Hội đồng Thành phố Houston |
| Diện tích[1] | |
| • Thành phố | 671,67 mi2 (1.740 km2) |
| • Đất liền | 640,44 mi2 (1.658,73 km2) |
| • Mặt nước | 31,23 mi2 (80,89 km2) |
| Độ cao | 80 ft (32 m) |
| Dân số (2020)[2] | |
| • Thành phố | 2.304.580 |
| • Ước tính (2025)[2] | 2.397.315 Tăng |
| • Thứ hạng | 6 tại Bắc Mỹ 4 tại Hoa Kỳ 1 tại Texas |
| • Mật độ | 3.613,38/mi2 (139,513/km2) |
| • Đô thị[3] | 5.853.575 (US: 5th) |
| • Mật độ đô thị | 3.339,8/mi2 (1.289,5/km2) |
| • Vùng đô thị[4] | 7.122.240 (US: 5) |
| Tên cư dân | Houstonian |
| GDP[5] | |
| • Vùng đô thị | 757,751 tỷ đô la Mỹ (2024) |
| • Mùa hè (DST) | CDT (UTC−5) |
| Mã bưu điện Hoa Kỳ | 770xx, 772xx (P.O. Boxes) |
| Mã điện thoại | 281, 832, 713 |
| Thành phố kết nghĩa | Karachi, Cairo, Istanbul, Irapuato, Huelva, City of Perth, Guayaquil, Tyumen, Luanda, Tampico, Chiba, Thành phố México, Abu Dhabi, Đài Bắc, Leipzig, Baku, Thâm Quyến, Stavanger, Aberdeen, Nam Kinh, Đại Liên, Monterrey |
| Mã FIPS | 48-35000[6] |
| GNIS feature ID | 1380948[7] |
| Website | www |
Houston (/ˈhjuːstən/ ⓘ HEW-stən) là thành phố đông dân nhất tại Texas và là thành phố đông dân thứ tư tại Hoa Kỳ. Theo thống kê dân số Hoa Kỳ năm 2020, dân số của Houston là 2,3 triệu người trong một diện tích đất 599,6 dặm vuông Anh (1.553 km2).[8][9] Houston là quận lỵ quận Harris, và khu vực đại đô thị Houston đông dân thứ năm tại Hoa Kỳ, với trên 6 triệu người.[10]
Houston được thành lập vào năm 1836 trên vùng đất gần bờ sông Buffalo Bayou[11][12] và được hợp nhất tổ chức thành một thành phố vào ngày 5 tháng 6 năm 1837. Thành phố được đặt tên theo Tướng Sam Houston, tổng thống Cộng hòa Texas. Phát triển kinh tế cảng và đường sắt, cộng thêm khám phá dầu thô vào năm 1901 khiến dân số thành phố liên tục tăng trưởng. Đến giữa thế kỷ 20, Houston trở thành nơi đặt trụ sở của Trung tâm Y tế Texas—trung tâm chăm sóc và nghiên cứu y tế lớn nhất thế giới—và Trung tâm vũ trụ Johnson của NASA.
Nền kinh tế Houston có nền tảng là các ngành năng lượng, chế tạo, hàng không, và vận tải. Houston cũng dẫn đầu trong lĩnh vực y tế và xây dựng hạ tầng mỏ dầu; và chỉ xếp sau Thành phố New York về số lượng trụ sở của các công ty trong Fortune 500.[13][14] Houston là một thành phố đa dân tộc, đa tôn giáo và là một cộng đồng mang tính quốc tế lớn và đang phát triển. Thành phố có nhiều thể chế và triển lãm văn hóa.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Vào giữa thập niên 1800, hai anh em - John Kirby Allen và Augustus Chapman Allen - là những người kinh doanh và khuếch trương địa ốc ở New York đi tìm một địa điểm mà họ có thể bắt đầu việc xây dựng "một trung tâm lớn của nhà nước và thương mại." Vào tháng 8 năm 1836, họ mua 6.642 acre (27 km²) đất từ T. F. L. Parrot, vợ góa của John Austin, với giá 9.428 Mỹ kim. Hai anh em nhà Allen đặt tên thành phố của họ theo tên của Sam Houston.
Houston bắt đầu như là một làng nhỏ. Gail và Thomas H. Borden đo đạc và vẽ bản đồ thành phố theo kiểu bàn cờ thông thường, với những con đường rộng chạy song song và vuông góc với hệ thống những nhánh sông trong vùng. Thành phố được phép thành lập vào ngày 5 tháng 6 năm 1837 và James S. Holman trở thành thị trưởng đầu tiên. Cùng năm đó, Houston cũng trở thành khu quản lý hành chính của quận Harrisburg, sau được đặt tên lại là quận Harris vào năm 1839. Vào lúc này, Nghị viện Texas chỉ định Houston như là thủ đô tạm thời của Cộng hòa Texas vừa thành lập. Thủ đô sau đó được di chuyển về Austin, lúc đó được biết đến như là Waterloo vào 14 tháng 1 năm 1839.
Vào năm 1900, dân số Houston vào khoảng 45.000 - thành phố lớn thứ 85 ở Hoa Kỳ. Việc phát hiện ra dầu hỏa tại Spindletop ở Beaumont vào năm 1901 đã làm thúc đẩy công nghiệp dầu hỏa, dần dần biến Houston thành một thành phố lớn. Vào năm 1902, Theodore Roosevelt chấp thuận dự án 1 triệu đôla để nâng cấp kênh đào tàu thủy Houston. Vào năm 1910, dân số Houston trở nên lớn hơn của Galveston. Tổng thống Woodrow Wilson khai trương Cảng Houston vào năm 1914, 74 năm sau việc đào xới bắt đầu. Vào 1914, kênh đào Houston được nạo vét để cho Houston một cảnh nước sâu, vượt qua khỏi cảng Galveston đã bị phá hoại một phần trong cơn bão Galveston vào năm 1900.
Khi Thế chiến thứ hai bắt đầu, lượng hàng hóa giảm và năm đường lưu chuyển bằng tàu thủy đã kết thúc các chuyến đến Houston, nhưng cuộc chiến đã đem lại một số lợi ích kinh tế cho thành phố. Sân bay Ellington, được xây trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, được tái sử dụng như là một trung tâm huấn luyện cho các phi công ném bom, và máy bay và đóng tàu trở thành công nghiệp chủ lực trên cả tiểu bang. Hiệp hội M. D. Anderson thành lập Trung tâm y khoa Texas vào năm 1945. Ngân hàng cũng phát triển lên vượt bậc trong cuối thập niên 1940. Sau chiến tranh, kinh tế Houston được chuyển ngược lại một nền kinh tế dựa vào cảng. Vào năm 1948, một số khu vực trống được cho thêm vào giới hạn của thành phố, và phạm vi Houston bắt đầu trải ra khắp thảo nguyên.
Công nghiệp đóng tàu trong suốt Thế chiến thứ hai đã thúc đẩy sự phát triển, cũng như là sự thiết lập năm 1961, của "Trung tâm phi thuyền có người điều khiển" của NASA (được đặt tên lại là Trung tâm vũ trụ Johnson vào năm 1973), tạo ra công nghiệp hàng không cho thành phố. Tháng 12 năm 1961 bão Carla quật vào thành phố. Astrodome (sau này gọi là Harris County Domed Stadium), là sân vận động trong nhà có mái vòm đầu tiên, mở ra vào năm 1965 và nhanh chóng được mệnh danh là "Kỳ quan thứ 8 của thế giới".
Cuối thập niên 1970 dân số bùng nổ do khủng hoảng dầu hỏa năm 1973 và do dân từ các tiểu bang vùng Rust Belt di chuyển với số lượng lớn vào Texas, đang hưởng lợi từ việc khan hiếm dầu hỏa. Nhưng sự phụ thuộc của Houston vào dầu hỏa như là nền của các ngành công nghiệp dẫn đến sự đi xuống của nó khi giá dầu suy giảm vào thập niên 1980. Từ đó, Houston đã cố gắng đa dạng hóa các ngành kinh tế của thành phố bằng cách tập trung vào công nghiệp hàng không và kỹ thuật sinh học, và làm giảm sự phụ thuộc của nó vào dầu hỏa.
Năm 1990 chứng kiến Sân bay liên lục địa Houston xây dựng bởi hãng hàng không quốc tế Mickey Leland mở cửa. Nhà ga 12 cổng được đặt tên theo Mickey Leland. Vào cùng năm đó, Hội nghị G8 được tổ chức ở Houston. Lee P. Brown, thị trưởng người da đen đầu tiên của Houston, được bầu lên vào năm 1997.
Địa lý
[sửa | sửa mã nguồn]
Houston nằm trên vùng quần xã sinh vật thuộc đồng bằng ven vịnh biển, và thực vật được xếp vào loại đất cỏ ôn đới. Đa số thành phố được xây dựng trên đất rừng, vùng đầm lầy hay thảo nguyên - tất cả những thứ này vẫn còn được nhìn thấy ở các khu vực xung quanh.
Đa phần Houston rất bằng phẳng, làm lụt lội là vấn đề hàng năm đối với người dân ở đây. Khu trung tâm cao khoảng 50 foot trên mực nước biển - với đa phần thành phố thấp hơn 100 foot. Thành phố đã từng dựa vào mạch nước ngầm cho nhu cầu về nước, nhưng sự lún đất đã bắt buộc thành phố sử dụng các nguồn nước ở trên mặt như là hồ Houston.
Houston có bốn nhánh sông chính chảy qua thành phố: nhánh sông Buffalo, chảy qua khu trung tâm thành phố và kênh đào Houston; và ba nhánh nhỏ của nó: nhánh Brays, chảy dọc theo Trung tâm y tế Texas; nhánh White Oak, chảy qua vùng Heights và gần khu vực tây bắc; và nhánh Sims, chảy qua phí nam Houston và khu trung tâm Houston. Kênh tàu thủy đi qua Galveston và đổ vào Vịnh Mexico.
Địa chất
[sửa | sửa mã nguồn]Phía dưới bề mặt đất Houston là đất sét không vững chắc, đất sét từ đá phiến, và cát không dính chặt vào nhau sâu đến vài dặm. Địa chất của khu vực này phát triển từ các bồi đắp phù sa xói mòn từ dãy Rocky. Những lớp trầm tích này bao gồm một loạt đất cát và đất sét được dồn lên những chất hữu cơ phân hủy mà, qua thời gian, biến đổi thành dầu hỏa và khí đốt. Phía dưới những lớp này là một lớp đá muối mỏ ngậm nước. Những lớp xốp này được nén qua thời gian và được đẩy lên phía trên. Khi nó được đẩy lên phía trên, muối kéo theo những lớp trầm tích xung quanh tạo thành những hình mái vòm, thường chứa dầu và khí đốt thấm qua từ các lớp cát xốp xung quanh. Đất dày nhiều dầu này cũng cung cấp một môi trường tốt cho việc trồng lúa trong các khu ngoại ô thành phố tiếp tục phát triển gần khu Katy. Bằng chứng về việc trồng lúa trong quá khứ vẫn còn thấy rõ trong các khu vực phát triển bởi vì nơi đó vẫn còn lớp đất đen màu mỡ ở phía trên cùng.
Vùng Houston nhìn chung là không có động đất. Trong khi thành phố chứa 86 đứt đoạn địa chất được thống kê là từng hoạt động trong quá khứ với tổng độ dài là 149 dặm (240 km),[15] lớp đất sét bên dưới bề mặt ngăn chặn sự dồn nén độ ma sát tạo nên chấn động bề mặt khi có động đất. Những đứt đoạn này nhìn chung là di chuyển từ từ với một độ trơn và được gọi là "các đứt đoạn đang trườn đi".
Quang cảnh thành phố
[sửa | sửa mã nguồn]
Khi Houston được thiết lập vào năm 1837, các nhà thành lập thành phố - John Kirby Allen và Augustus Chapman Allen - đã chia nó ra thành nhiều quận hành chính gọi là "ward". Phân chia thành ward là các điểm khởi xướng cho các quận được chia bởi hội đồng thành phố hiện nay của Houston - tổng cộng có 9 quận.
Các địa điểm ở Houston nhìn chung được chia ra là hoặc bên trong hay bên ngoài Đường 610, được biết đến như là "Đường vòng 610" hay "Đường vòng". Bên trong đường vòng là khu vực thương mại trung tâm và nhiều khu nhà ở và các khu vực được chia ra từ trước Thế chiến thứ hai. Gần đây hơn, những phát triển đô thị dày đặc hơn đã tạo ra kết quả là một nếp sống và một nếp nghĩ đô thị hơn. Cách gọi "bên trong Houston" mang theo với nó những mong đợi của một cuộc sống kiểu đô thị.
Khu vực nằm bên ngoài Houston, các sân bay và các vùng ngoại vi và phụ cận nằm bên ngoài đường vòng. Một đường vòng khác, State Highway Beltway 8 (cũng thường được biết đến một cách đơn giản là "Beltway"), bao quanh thành phố khoảng 5 dặm (8 km) xa hơn ra phía ngoài. Đường vòng thứ ba, State Highway 99 (cũng được biết đến như là Grand Parkway), đang trong quá trình xây dựng.
Houston, là một thành phố lớn nhất Hoa Kỳ không có những luật chia vùng, đã phát triển trong một cách thức không bình thường. Thay vì là một khu "đô thị" (downtown) như là trung tâm việc làm của thành phố, thêm năm khu kinh doanh đã phát triển bên trong thành phố: Uptown, Texas Medical Center, Greenway Plaza, Westchase và Greenspoint. Nếu những khu thương mại này được gộp lại, chúng sẽ tạo thành một khu downtown lớn thứ ba trên toàn nước Mỹ. Thành phố cũng có khu nhà chọc trời lớn thứ ba toàn quốc (sau Thành phố New York và Chicago), nhưng bởi vì nó trải dài vài dặm, những bức ảnh chỉ có thể cho thấy phần lớn khu vực trung tâm chính.
Khí hậu
[sửa | sửa mã nguồn]Khí hậu Houston được liệt kê như là cận nhiệt đới ẩm. Lượng mưa trung bình hàng năm là khoảng 48 inch (1.220 mm). Bão mùa xuân đôi khi đem lại lốc xoáy vào khu vực này. Gió thổi quanh năm từ miền nam và đông nam trong suốt phần lớn của năm, đem theo cái nóng từ các sa mạc của México và độ ẩm từ Vịnh Mexico.
Trong suốt các tháng mùa hè, nhiệt độ cao nhất trong ngày có thể lên đến 94 °F (34 °C) vào cuối tháng 7[16] vơí một trung bình khoảng 99 ngày mỗi năm có nhiệt độ trên 90 °F (32 °C).[17] Không khí có cảm giác như là đứng yên và độ ẩm (trung bình trên 90% độ ẩm tương đối vào buổi sáng trong mùa hè và khoảng 60 phần trăm bữa chiều[18]) tạo kết quả là một chỉ số nhiệt cao hơn nhiệt độ thật sự. Để đối phó với cái nóng, người ta sử dụng máy điều hòa không khí gần như trong mỗi xe hơi và mỗi tòa nhà trong thành phố. Mưa buổi chiều là phổ biến và trong hết các ngày mùa hè, các nhà khí tượng Houston dự định ít nhất là một vài khả năng có mưa.
Nhiệt độ nóng nhất được ghi nhận ở Houston là 109 °F (43 °C) vào ngày 4 tháng 9 năm 2000.[19]
Mùa đông ở Houston khá lạnh bắt đầu vào tháng 11 nhiệt độ giảm dần dưới 20 độ c thường là 16 và 14 độ và thường xuất hiện nhiều mưa và tháng này vì thế nhiệt độ có khi giảm xuống từ 3-6 độ c nếu có mây khoảng từ 10-12 độ c, khí lạnh của houston thường do gió thổi mang theo nên có cảm giác buốt (2015).[20] Tuyết không bao giờ nghe nói đến, và thông thường là đổ dồn lại khi tuyết được nhìn thấy. Cơn bão tuyết cuối cùng đổ vào Houston 4 - đêm tuyết rơi đầu tiên được ghi nhận ở thành phố vào dịp Giáng sinh. Nhiệt độ thấp nhất từng được ghi nhận ở Houston là 5 °F (−15 °C) vào 23 tháng 1 năm 1940.
| Dữ liệu khí hậu của Houston (Sân bay liên lục địa George Bush 1981−2010 | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Cao kỉ lục °F (°C) | 88 (31) |
91 (33) |
97 (36) |
95 (35) |
99 (37) |
108 (42) |
106 (41) |
109 (43) |
109 (43) |
99 (37) |
90 (32) |
84 (29) |
109 (43) |
| Trung bình ngày tối đa °F (°C) | 63.0 (17.2) |
66.4 (19.1) |
73.0 (22.8) |
79.5 (26.4) |
86.4 (30.2) |
91.4 (33.0) |
93.7 (34.3) |
94.5 (34.7) |
89.8 (32.1) |
82.0 (27.8) |
72.5 (22.5) |
64.2 (17.9) |
79.7 (26.5) |
| Tối thiểu trung bình ngày °F (°C) | 43.2 (6.2) |
46.6 (8.1) |
52.5 (11.4) |
59.4 (15.2) |
67.6 (19.8) |
73.6 (23.1) |
75.0 (23.9) |
74.8 (23.8) |
69.8 (21.0) |
61.0 (16.1) |
52.2 (11.2) |
44.6 (7.0) |
60.1 (15.6) |
| Thấp kỉ lục °F (°C) | 5 (−15) |
7 (−14) |
21 (−6) |
30 (−1) |
43 (6) |
52 (11) |
63 (17) |
54 (12) |
45 (7) |
28 (−2) |
19 (−7) |
7 (−14) |
5 (−15) |
| Lượng Giáng thủy trung bình inches (mm) | 3.38 (85.9) |
3.20 (81.3) |
3.41 (86.6) |
3.31 (84.1) |
5.09 (129.3) |
5.93 (150.6) |
3.79 (96.3) |
3.76 (95.5) |
4.12 (104.6) |
5.70 (144.8) |
4.34 (110.2) |
3.74 (95.0) |
49.77 (1.264,2) |
| Số ngày giáng thủy trung bình (≥ 0.01 in) | 9.6 | 9.2 | 8.8 | 6.8 | 8.0 | 10.6 | 9.1 | 8.3 | 8.0 | 7.9 | 8.2 | 9.5 | 104.0 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 143.4 | 155.0 | 192.5 | 209.8 | 249.2 | 281.3 | 293.9 | 270.5 | 236.5 | 228.8 | 168.3 | 148.7 | 2.577,9 |
| Nguồn: NOAA (sun 1961–1990)[21][22][23] | |||||||||||||
Kinh tế
[sửa | sửa mã nguồn]
Công nghiệp năng lượng của Houston là một khu năng lượng lớn của thế giới (đặc biệt là dầu hỏa), nhưng nghiên cứu về y khoa, hàng không và kênh cho tàu thủy cũng chiếm phần lớn của phần công nghiệp cơ sở của thành phố. Khu đô thị Houston bao gồm khu vực sản xuất hóa chất lọc dầu lớn nhất thế giới, bao gồm cho cả cao su tổng hợp, thuốc trừ sâu và phân bón. Khu vực này cũng là trung tâm lớn nhất trên thế giới trong việc đóng các trang thiết bị cho giàn khoan. Đa số sự thành công của Houston như là một khu công nghiệp hóa dầu là do sự nhộn nhịp trên kênh đào cho tàu cho qua lại, Cảng Houston.[24] Cảng này xếp đầu toàn quốc trong thương mại quốc tế là cảng lớn thứ sáu trên thế giới. Trong các cảng khác của Mỹ, nó là nơi bận rộn nhất tình theo số lượng hàng nước ngoài và xếp thứ hai trong tổng số hàng hóa. Bởi vì những buôn bán kinh tế này, nhiều người dân đã di cư đến Houston từ các tiểu bang khác của Mỹ, cũng như là từ hàng trăm nước trên thế giới. Không giống như các nơi khác, khi giá xăng dầu lên cao được xem là có hại cho nền kinh tế, chúng nhìn chung là được xem là có lợi cho Houston bởi vì nhiều người ở đây làm việc cho công nghiệp năng lượng.
Theo lịch sử, Houston đã có một vài đột phá trong phát triển kinh tế (và một vài suy thoái kinh tế thảm hại gắn liền với công nghiệp dầu hỏa. Sự khám phá ra dầu hỏa gần Houston vào năm 1901 đã dẫn đến sự đột phá phát triển đầu tiên - cho đến thập niên 1920, Houston đã phát triển đến vào khoảng 140.000 người. Công nghiệp hàng không đang phát triển của thành phố đã kéo theo sự đột phá kinh tế lần thứ hai, được làm tăng thêm với khủng hoảng dầu hỏa 1973. Nhu cầu dầu hỏa từ Texas tăng lên, và nhiều người từ đông bắc di cư đến Houston để hưởng lợi từ những thương mại đó. Khi việc cấm vận được bãi bỏ, sự phát triển hầu như là đứng lại. Tuy vậy, Pasadena vẫn còn các nhà máy lọc dầu của nó, và Cảng Houston vẫn là một trong những nơi bận rộn nhất trên thế giới.
Houston chỉ đứng thứ hai sau Thành phố New York trong số tổng hành dinh của các công ty Fortune 500. Thành phố này đã cố gắng xây dựng công nghiệp ngân hàng, nhưng các công ty nguyên xuất phát từ Houston từ lúc đó đã hợp nhất với các công ty khác toàn quốc. Ngân hàng, tuy vậy, vẫn là thiết yếu đối với vùng này.
Tổng sản lượng khu vực (GAP) của khu đô thị Houston–Sugar Land–Baytown trong năm 2005 là $308,7 tỷ, tăng 5,4% từ 2004 trong số đô la - chỉ một ít lớn hơn tổng sản lượng quốc gia (GDP) của nước Áo. Chỉ có 28 nước khác với Hoa Kỳ có GDP vượt khỏi tổng sản lượng khu vực Houston.[25] Khai mỏ, mà trong Houston hoàn toàn là thăm dò và sản xuất dầu hỏa và khí đốt, chiếm đến 11% của GAP của Houston - giảm từ 21% so với gần đây nhất là năm 1985. Sự suy giảm trong vai trò của dầu khí trong GAP của Houston phản ánh sự phát triển nhanh chóng của các ngành khác - chẳng hạn như là dịch vụ về công nghệ, dịch vụ sức khỏe và sản xuất.[26]
Bốn mươi nhà nước ngoại quốc duy trì các văn phòng giao dịch quốc tế và ngoại thương ở đây và thành phố có 23 tổ chức hiệp hội thương mại nước ngoài.[27] Hai mươi ngân hàng nước ngoài đại diện cho mười nước hoạt động ở Houston và cung cấp giúp đỡ về tài chính cho cộng đồng quốc tế.
Trong 10 khu vực đô thị đông dân nhật, Houston xếp thứ hai trong tỉ lệ tăng trưởng số việc làm và xếp thứ 4 trong phát triển việc làm.[28] Vào năm 2006, khu vực đô thị Houston xếp thứ 1 ở Texas và thứ 3 trên toàn nước Mỹ trong thể loại "Những nơi tốt nhất cho kinh doanh và sự nghiệp" bởi Forbes.[29]
Nhân khẩu
[sửa | sửa mã nguồn]| Lịch sử dân số | |||
|---|---|---|---|
| Thống kê dân số | Số dân | %± | |
| 1850 | 2.396 | — | |
| 1860 | 4.845 | 102,2% | |
| 1870 | 9.382 | 93,6% | |
| 1880 | 16.513 | 76,0% | |
| 1890 | 27.557 | 66,9% | |
| 1900 | 44.633 | 62,0% | |
| 1910 | 78.800 | 76,6% | |
| 1920 | 138.276 | 75,5% | |
| 1930 | 292.352 | 111,4% | |
| 1940 | 384.514 | 31,5% | |
| 1950 | 596.163 | 55,0% | |
| 1960 | 938.219 | 57,4% | |
| 1970 | 1.232.802 | 31,4% | |
| 1980 | 1.595.138 | 29,4% | |
| 1990 | 1.630.553 | 2,2% | |
| 2000 | 1.953.631 | 19,8% | |
| 2010 | 2.099.451 | 7,5% | |
| 2020 | 2.304.580 | 9,8% | |
| 2025 (ước tính) | 2.397.315 | [30] | 4,0% |
| U.S. Decennial Census[31] 1850–1900[32] 1910[33] 1920[34] 1930[35] 1940[36] 1950[37] 1960[38] 1970[39] 1980[40] 1990[41] 2000[42] 2010[43] | |||
Theo kết quả thống kê dân số Hoa Kỳ năm 2020, dân số của Houston là 2.304.580 người.[2] Năm 2017, dân số thống kê ước tính là 2.312.717 người, và vào năm 2018 dân số ước tính là 2.325.502 người.[2] Ước tính 600.000 người nhập cư bất hợp pháp sinh sống tại khu vực Houston vào năm 2017,[44] chiếm gần 9% dân số vùng đô thị của thành phố.[45]
Dân tộc và chủng tộc
[sửa | sửa mã nguồn]| Thành phần chủng tộc và dân tộc | 2020[46] | 2010[47] | 2000[48] | 1990[49] | 1970[49] |
|---|---|---|---|---|---|
| Người Mỹ gốc Hispano và Latino (chủng tộc bất kỳ) | 47.0% | 43.8% | 37.4% | 27.6% | 11.3%[50] |
| Người Mỹ da trắng (không phải gốc Hispano) | 21.8% | 25.6%[51] | 30.8%[52] | 40.6% | 62.4%[50] |
| Người Mỹ gốc Phi | 24.9% | 25.1% | 25.3% | 28.1% | 25.7% |
| Người Mỹ gốc Á | 7.1% | 6.0% | 5.3% | 4.1% | 0.4% |
Tôn giáo
[sửa | sửa mã nguồn]Houston và vùng đô thị có tỷ lệ dân số theo tôn giáo nói chung và Kitô hữu nói riêng cao thứ ba tại Hoa Kỳ, đồng thời có tỷ lệ dân số Kitô hữu cao thứ hai tại Texas sau Vùng đô thị phức hợp Dallas–Fort Worth.[53][54]
Văn hóa
[sửa | sửa mã nguồn]Kiến trúc
[sửa | sửa mã nguồn]
Giáo dục
[sửa | sửa mã nguồn]Đại học, cao học, viện nghiên cứu
[sửa | sửa mã nguồn]Houston có bốn trường đại học tiểu bang. Đại học Houston (UH) là một đại học nghiên cứu và là trường đại học hàng đầu của Hệ thống Đại học Houston,[55][56][57] đồng thời là trường đại học lớn thứ ba tại Texas với gần 44.000 sinh viên trên khuôn viên 667 mẫu Anh (270 hécta) tại Third Ward.[58] Đại học Houston–Clear Lake và Đại học Houston–Downtown là những trường đại học riêng biệt thuộc Hệ thống Đại học Houston chứ không phải phân viện của Đại học Houston. Đại học Nam Texax (TSU) là một trong những trường đại học da đen truyền thống lớn nhất tại Hoa Kỳ với khoảng 10.000 sinh viên và là trường đại học tiểu bang đầu tiên tại Houston, được thành lập vào năm 1927.[59]
Houston cũng có một số trường đại học tư thục. Đại học Rice là một trường đại học tư thục với nhiều tài trợ tài chính, xếp thứ 17 trong các trường đại học tốt nhất của Hoa Kỳ theo U.S. News & World Report.[60] Đại học Rice có các cơ sở nghiên cứu và các phòng thí nghiệm. Đại học St. Thomas, một trường nghệ thuật Công giáo theo truyền thống Basilian, được thành lập bởi các cha xứ dòng Basilian của Canada, và tọa lạc ở khu vực Montrose. Đại học Baptist Houston, một đại học Baptist thành lập vào năm 1960, tọa lạc ở phía tây nam Houston có trên 50 ngành học và các chương trình dạy nghề.
Hệ thống Trường cao đẳng Cộng đồng Houston là một trong những hệ thống trường cao đẳng cộng đồng lớn nhất tại Hoa Kỳ. HCCS phục vụ phần HISD của Houston và các khu vực khác. Các phần phía bắc của Houston được phục vụ bởi North Harris Montgomery Community College District. Một phần của đông và đông nam Houston được phục vụ bởi Trường cao đẳng San Jacinto. Rất nhiều khu ngoại vi của Houston cũng có hệ thống trường cao đẳng cộng đồng riêng.
Houston cũng có một số trường cao học về luật và y. Trung tâm Pháp luật Đại học Houston và Trường Luật Thurgood Marshall thuộc Đại học Nam Texas là những trường luật công lập, được Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ công nhận, trong khi Trường Luật Nam Texas là một trường luật tư thục. Trung tâm Y tế Texas là một tổ hợp các trường y khoa, bao gồm hai trường y: Trường Y McGovern thuộc Trung tâm Khoa học Sức khỏe Đại học Texas tại Houston và Trường Y Baylor, một trường y tư thực. Trường điều dưỡng của Đại học Prairie View A&M nằm trong Trung tâm Y tế Texas. Ngoài ra, Đại học Nam Texas và Đại học Houston có trường dược, Đại học Houston có một trường y và một trường nhãn khoa.
- Đại học Nam Texas, tại Third Ward, là trường đại học công lập đầu tiên tại Houston và là trường đại học da đen truyền thống lớn nhất tại Texas.[61][62]
- Đại học Houston, tại Third Ward, là một trường đại học nghiên cứu công lập và là trường đại học lớn thứ ba tại Texas.[64]
- Đại học Rice, gần Museum District và Trung tâm Y tế Texas, là trường đại học tư thục chọn lọc nhất tại Texas.[65]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "2021 U.S. Gazetteer Files". United States Census Bureau. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2021.
- 1 2 3 4 "QuickFacts: Houston city, Texas". United States Census Bureau. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "List of 2020 Census Urban Areas". census.gov. United States Census Bureau. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "2020 Population and Housing State Data". United States Census Bureau. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "MSA GDP". apps.bea.gov.
- ↑ "U.S. Census website". United States Census Bureau. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2008.
- ↑ "US Board on Geographic Names". United States Geological Survey. ngày 25 tháng 10 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2008.
- ↑ "List of cities - GCT-T1-R. Census". US Census. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2014.
- ↑ "American Fact Finder". U.S. Census Bureau. 2009.
{{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần|magazine=(trợ giúp);|contribution=bị bỏ qua (trợ giúp) - ↑ "Table of United States Metropolitan Statistical Areas".
{{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần|magazine=(trợ giúp) - ↑ Kleiner, D.J: Allen's Landing từ Handbook of Texas trực tuyến (ngày 3 tháng 2 năm 2005). Truy cập 2007-06-10.
- ↑ McComb, David G. (ngày 19 tháng 1 năm 2008). "Houston, Texas". Handbook of Texas Online. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2008.
- ↑ Fortune 500 2010: Cities Accessed ngày 25 tháng 5 năm 2011
- ↑ "A.T. Kearney Global Cities Index 2010" (PDF). A.T. Kearney. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2011.
- ↑ Houston Geographic Description. Diane Moser Properties
- ↑ Monthly Averages for Houston, Texas Lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2010 tại Wayback Machine. The Weather Channel
- ↑ National Climatic Data Center Lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2006 tại Wayback Machine. U.S. Department of Commerce
- ↑ National Relative Humidity. Department of Meteorology at the University of Utah
- ↑ History for Houston Intercontinental, Texas on Monday, 4 tháng 9 năm 2000. Weather Underground
- ↑ National Climatic Data Center Lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2001 tại Wayback Machine. U.S. Department of Commerce
- ↑ "NowData - NOAA Online Weather Data". National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2014.
- ↑ "TX HOUSTON INTERCONT AP". National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2014.
- ↑ "WMO Climate Normals for HOUSTON/INTERCONTINENTAL, TX 1961–1990". National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2014.
- ↑ General Information Lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2008 tại Wayback Machine. The Port of Houston Authority
- ↑ Houston Area Profile Lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2007 tại Wayback Machine. Greater Houston Partnership
- ↑ Gross Area Product by Industry Lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2006 tại Wayback Machine. Greater Houston Partnership
- ↑ International Representation in Houston Lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2006 tại Wayback Machine. Greater Houston Partnership
- ↑ Employment by Industry Lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2008 tại Wayback Machine. Greater Houston Partnership
- ↑ 2006 Best Places for Business and Careers. Forbes
- ↑ "U.S. Census Bureau QuickFacts".
- ↑ "Decennial Census by Decade". United States Census Bureau.
- ↑ "1900 Census of Population - Population of Texas By Counties And Minor Civil Divisions" (PDF). United States Census Bureau.
- ↑ "1910 Census of Population - Supplement for Texas" (PDF). United States Census Bureau. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2024.
- ↑ "1920 Census of Population - Number of Inhabitants - Texas" (PDF). United States Census Bureau.
- ↑ "1930 Census of Population - Number of Inhabitants - Texas" (PDF). United States Census Bureau.
- ↑ "1940 Census of Population - Number of Inhabitants - Texas" (PDF). United States Census Bureau.
- ↑ "1950 Census of Population - Number of Inhabitants - Texas" (PDF). United States Census Bureau.
- ↑ "1960 Census of Population - Number of Inhabitants - Texas" (PDF). United States Census Bureau.
- ↑ "1970 Census of Population - Number of Inhabitants - Texas" (PDF). United States Census Bureau.
- ↑ "1980 Census of Population - Number of Inhabitants - Texas" (PDF). United States Census Bureau.
- ↑ "1990 Census of Population - Population and Housing Unit Counts - Texas" (PDF). United States Census Bureau.
- ↑ "2000 Census of Population - Population and Housing Unit Counts - Texas" (PDF). United States Census Bureau.
- ↑ "2010 Census of Population - Population and Housing Unit Counts - Texas" (PDF). United States Census Bureau.
- ↑ Najarro, Ilena; Deam, Jenny (ngày 27 tháng 12 năm 2017). "Fearing deportation, undocumented immigrants in Houston are avoiding hospitals and clinics". Houston Chronicle. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2018.
- ↑ Sacchetti, Maria (ngày 28 tháng 8 năm 2017). "For Houston's many undocumented immigrants, storm is just the latest challenge". The Washington Post (bằng tiếng Anh). ISSN 0190-8286. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2018.
- ↑ "2020 Race and Population Totals". U.S. Census Bureau. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "Houston, Texas Population: Census 2010 and 2000 Interactive Map, Demographics, Statistics, Quick Facts". Census Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
- ↑ "Houston (city), Texas". State & County QuickFacts. U.S. Census Bureau. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2010.
- 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có têncensus1 - 1 2 From 15% sample
- ↑ "Houston City Census 2010, Summary File 1" (PDF). tr. 21. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2021.
- ↑ "Houston city, Texas – DP-1. Profile of General Demographic Characteristics: 2000". census.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2009.
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên:17 - ↑ "Dallas Has the Most Christians". D Magazine (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2020.
- ↑ Bonnin, Richard. "Carnegie Foundation Gives University of Houston its Highest Classification for Research Success, Elevating UH to Tier One Status". University of Houston. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2011.
- ↑ "UH achieves Tier One status in research". Houston Business Journal. ngày 21 tháng 1 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2011.
- ↑ "UH takes big step up to Tier One status". Houston Chronicle. ngày 18 tháng 1 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2011.
- ↑ Khator, Renu (ngày 4 tháng 10 năm 2011). "State of the University: Fall 2011" (PDF). University of Houston. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2011.
- ↑ "Histories of TSU and UH marked by segregation". Chron.com. ngày 21 tháng 8 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2018.
- ↑ America's Best Colleges 2006. U.S. News & World Report
- ↑ "Largest HBCU In The Nation: Top 10 Black Colleges By Enrollment". hbculifestyle.com. ngày 25 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "4 Texas Southern University graduates turned black history trailblazers". ABC13.com. ngày 12 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Finish UHD Strong". University of Houston Downtown. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "University of Houston". University of Houston System. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "What They're Saying About Rice". Rice University. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.[liên kết hỏng]
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Thành phố Houston (bằng tiếng Việt)
- Thành phố Houston (bằng tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập, và tiếng Pháp)/(bằng tiếng Trung Quốc)