Bước tới nội dung

Bruno Mars

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bruno Mars
Mars biểu diễn trực tiếp vào năm 2017
SinhPeter Eugene Hernandez
8 tháng 10, 1985 (40 tuổi)
Honolulu, Hawaii, Mỹ
Nghề nghiệp
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ
  • Hát
  • guitar
  • piano
  • keyboard
  • trống
Năm hoạt động2004–nay
Hãng đĩa
Websitebrunomars.com

Peter Eugene Hernandez[1] (sinh 8 tháng 10 năm 1985), được biết đến với nghệ danh Bruno Mars, là một ca sĩ-nhạc sĩ và nhà sản xuất thu âm người Mỹ. Mars lớn lên trong một gia đình nghệ sĩ ở Honolulu, Hawaii và anh đã bắt đầu ca hát từ khi còn nhỏ. Sau khi biểu diễn nhiều nơi ở quê nhà quê anh thời niên thiếu, anh quyết định theo đuổi sự nghiệp ca hát. Anh đã bắt đầu sản xuất bài hát cho các nghệ sĩ khác, tham gia nhóm sản xuất The Smeezingtons.

Bruno Mars được ghi nhận là một nghệ sĩ hát đơn thực sự sau khi anh góp giọng và đồng sáng tác các bài hát "Nothin' on You" của B.o.B và "Billionaire" của Travie McCoy. Anh cũng đồng sáng tác các hit "Right Round" của Flo RidaKesha, "Wavin' Flag" của K'naan, "Fuck You!" của Cee Lo Green. Tháng 10 năm 2010, anh phát hành album đầu tiên của mình, Doo-Wops & Hooligans, đã đạt đến vị trí số 3 trên Billboard 200.[2] Hai đĩa đơn từ album này, "Just the Way You Are" và "Grenade" đều đã đạt vị trí quán quân trên Billboard Hot 100.[3] Album phòng thu thứ hai của anh với tựa đề Unorthodox Jukebox được phát hành vào ngày 11 tháng 12 năm 2012.

Vào năm 2014, Mars đã hợp tác cùng với Mark Ronson trong Uptown Funk, đứng đầu nhiều bảng xếp hạng khác nhau, dành tổng cộng mười bốn và mười bảy tuần để đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và UK Singles Chart. Album phòng thu thứ ba 24K Magic (2016) tập trung vào R&B, đã nhận được bảy giải Grammy, giành chiến thắng được ở các hạng mục như Album của năm, Thu âm của năm. Album cũng mang về năm đĩa đơn ấn tượng "24K Magic", "That's What I Like" (đĩa đơn quán quân Billboard Hot 100 lần thứ bảy của anh ấy) và một bản phối lại với Cardi B. Vào năm 2021, Mars và Anderson .Paak, với tư cách là Silk Sonic, đã phát hành album phòng thu hợp tác An Evening with Silk Sonic, đi sâu vào R&B và soul của thập niên 70 và được dẫn đầu bởi các đĩa đơn "Leave the Door Open". Nó đã nhận được bốn giải Grammy, bao gồm Thu âm của năm và Bài hát của năm. Bản song ca năm 2024 của anh với Lady Gaga, "Die with a Smile", đã đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard Global 200.

Mars đã bán được hơn 130 triệu đĩa trên toàn thế giới, điều này khiến cho anh trở thành một trong những nghệ sĩ bán đĩa nhạc chạy nhất mọi thời đại. Tám bài hát của anh ấy đạt vị trí quán quân trên Billboard Hot 100 và các chuyến lưu diễn của anh ấy là một trong những chuyến lưu diễn có doanh thu cao nhất trong lịch sử. Anh ấy đã nhận được 15 Giải Grammy (bao gồm ba giải Thu âm của năm), 4 Giải Brit, 11 Giải thưởng Âm nhạc Mỹ, 13 giải Soul Train và nắm giữ ba Kỷ lục Guinness cùng nhiều giải thưởng khác. Anh ấy đã góp mặt trong Danh sách những nhạc sĩ xuất sắc nhất của Music Week (2011) và Billboard (2018) cho Nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại cũng như danh sách và xếp hạng Time 100Danh sách 100 người nổi tiếng quyền lực nhất thế giới theo Forbes. Mars trở thành nghệ sĩ đầu tiên có sáu bài hát được chứng nhận kim cương tại Mỹ và được coi là biểu tượng pop với sự nghiệp có tầm ảnh hưởng của anh ấy.

Cuộc đời và sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

1985–2003: Thời ấu thơ và bắt đầu sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Bruno Mars có tên khai sinh là Peter Eugene Hernández, anh được sinh ra vào ngày 8 tháng 10 năm 1985 tại Honolulu, Hawaii và được lớn lên tại Waikiki, vùng bờ biển của Honolulu. Anh là con trai của Peter Hernández và Bernadette "Bernie" San Pedro Bayot.[4][5] Bố của Mars mang trong mình một nửa dòng máu người Puerto Rico và một nửa dòng máu của người Do Thái (từ Hungary và Ukraine).[6][7] Mẹ của Mars đi di cư từ Philippines đến Hawaii từ khi còn nhỏ, và là người Philippines gốc Tây Ban Nha.[6][8][9] Bố mẹ anh gặp nhau khi đang biểu diễn trong một chương trình ca nhạc, khi đó mẹ anh là một vũ công hula, còn bố anh là người chơi các bộ gõ.[7] Năm hai tuổi, anh được cha mình đặt cho cái biệt danh "Bruno", bởi trông anh giống như đô vật chuyên nghiệp huyền thoại Bruno Sammartino.[10][11][12]

Mars sống trong một gia đình có sáu người con và theo nghề âm nhạc, chính bởi vậy nên anh đã sớm được tiếp xúc với các thể loại nhạc như reggae, rock, hip hop, và R&B.[13][14] Ngoài việc là một vũ công, mẹ của anh còn làm một ca sĩ, còn cha của anh thì có thể sử dụng khả năng âm nhạc của mình để chơi nhạc rock n roll của Little Richard.[15] Bác của Mars là một nhà diễn xuất, ông đã động viên cậu bé ba tuổi Mars đi biểu diễn trên sân khấu. Mars cũng có biểu diễn một số ca khúc nổi tiếng của Michael Jackson, The Isley Brothers, và The Temptations.[11] Khi mới chỉ bốn tuổi, Mars đã theo ban nhạc của gia đình anh, The Love Notes, đi biểu diễn năm ngày mỗi tuần, chính vì vậy anh trở nên nổi tiếng trên đảo.[16] Năm 1990, Mars xuất hiện trên tờ MidWeek với biệt danh "Little Elvis", và sau đó là vai khách mời cho bộ phim Honeymoon in Vegas năm 1992.[11][17]

Thời gian đi biểu diễn là một tác động lớn rs.[18] Sau đó, anh bắt đầu chơi guitar với những ca khúc lấy cảm hứng từ Jimi Hendrix.[19] Năm 2010, anh cũng thừa nhận nguồn gốc Hawaii và gia đình theo nghề âm nhạc là một ảnh hưởng lớn tới phong cách âm nhạc của anh, anh tiết lộ, "Lớn lên ở Hawaii khiến tôi trở thành một người đàn ông thực thụ. Tôi đã từng thực hiện nhiều chương trình ca nhạc với ban nhạc của bố. Ai trong gia đình tôi cũng hát, tất cả mọi người đều biết chơi các nhạc cụ... Tôi được bao bọc bởi những thứ ấy."[20] Năm 2003, sau khi tốt nghiệp trường trung học President Theodore Roosevelt High School ở tuổi mười bảy, Mars chuyển tới sống tại Los Angeles, California để bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của mình.[11][17] Anh giữ nguyên cái biệt danh mà bố đã đặt cho anh khi còn nhỏ, và thêm từ "Mars" vào đằng sau, bởi vì "Tôi cảm thấy như tôi không được cuốn hút cho lắm, và nhiều cô gái nói rằng tôi như không thuộc thế giới này vậy, nên tôi đoán tôi đến từ Sao Hỏa (Mars)."[21]

2004–2010: Công việc sản xuất và It's Better If You Don't Understand

[sửa | sửa mã nguồn]
Mars biểu diễn tai Houston, Texas vào tháng 11 năm 2010.

Một thời gian ngắn sau khi chuyển tới Los Angeles, năm 2004, Mars ký hợp đồng với hãng thu âm Motown Records.[22] Kinh nghiệm khi làm việc ở Motown thực sự có ích khi anh gặp nhạc sĩ-nhà sản xuất Philip Lawrence, người cũng đã ký hợp đồng với hãng thu âm này. Mars, Lawrence, và kỹ sư Ari Levine bắt đầu cùng nhau sáng tác nhiều bản nhạc, và sau đó lập riêng một đội sản xuất lấy tên là The Smeezingtons.[22] Năm 2006, Lawrence giới thiệu Mars với Aaron Bay-Schuck, người mà sau này trở thành quản lý của anh tại Atlantic Records.[23] Sau khi nghe anh chơi một vài ca khúc bằng guitar, Bay-Schuck muốn Mars ký ngay hợp đồng với anh, nhưng phải mất đến ba năm sau, Mars mới có thể ký được hợp đồng với Atlantic records.[23] Trong thời gian chờ đợi, Bay-Schuck thuê Mars và The Smeezingtons sáng tác và sản xuất một số ca khúc cho các nghệ sĩ đã ký hợp đồng với hãng đĩa này.[23] Theo Bay-Schuck trong một bài phỏng vấn với HitQuarters, Mars đã nói rằng mặc dù mục tiêu cuối cùng của anh là làm một nghệ sĩ solo, nhưng anh vẫn sẵn sàng để sáng tác và sản xuất các ca khúc cho các nghệ sĩ khác, cả hai điều này đều giúp cải thiện các sáng tác của chính anh và giúp anh tìm ra được loại nghệ sĩ cuối cùng anh muốn trở thành.[23]

Trước khi trở thành một nghệ sĩ solo thành công, Bruno Mars là một nhà sản xuất âm nhạc, và đã sáng tác nhiều ca khúc cho Alexandra Burke, Travie McCoy, Adam Levine, Brandy, Sean Kingston, và Flo Rida.[13][24] Anh cũng đồng sáng tác cho ca khúc nổi tiếng "Get Sexy" của Sugababes, và là nghệ sĩ hát bè trong album Sweet 7 của họ.[25][26] Sản phẩm âm nhạc đầu tiên của anh với vai trò một ca sĩ là ca khúc "3D" trong album phòng thu thứ hai của ban nhạc Far East Movement, Animal.[27] Mars cũng xuất hiện trong đĩa đơn đầu tay năm 2009 của mục sư-ca sĩ nhạc rap Jaeson Ma với tựa đề "Love".[28][29] Anh chỉ thực sự đến với sự nổi tiếng khi hợp tác và đồng sáng tác cho ca khúc "Nothin' on You" của B.o.B và "Billionaire" của Travie McCoy, cả hai ca khúc đều lọt vào Top 10 trên bảng xếp hạng của nhiều quốc gia.[30][31][32][33] Tiếp nối sự thành công đó, Mars cho ra mắt đĩa mở rộng (EP) có tựa đề It's Better If You Don't Understand, vào ngày 11 tháng 5 năm 2010.[34] EP đã đạt được vị trí #99 trên bảng xếp hạng album Billboard 200, cùng với đó, một đĩa đơn từ EP đã được phát hành, đó là đĩa đơn "The Other Side", hợp tác với nam ca sĩ Cee Lo Green và B.o.B.[35][36] Mars cũng hợp tác với Cee Lo Green một lần nữa vào tháng 8 năm 2010 với việc đồng sáng tác cho ca khúc "F**k You!". Ngoài ra, tại Lễ trao giải 2010 MTV Video Music Awards vào tháng 9 năm 2010, Bruno Mars đã biểu diễn phần điệp khúc của "Nothin' on You" và "Airplanes" cùng với B.o.B và Hayley Williams.[37]

2010–2012: Doo-Wops & Hooligans

[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu đầu tay của Bruno Mars, Doo-Wops & Hooligans, được phát hành kỹ thuật số vào ngày 4 tháng 10 năm 2010, và bản CD được phát hành một ngày sau đó, ngày 5 tháng 10 năm 2010.[38][39] Đĩa đơn đầu tiên, "Just the Way You Are", được phát hành vào ngày 19 tháng 7 năm 2010,[40] đã đánh vào bảng xếp hạng Billboard Hot 100 tại vị trí quán quân, cùng với nhiều bảng xếp hạng khác trên toàn thế giới.[41][42] Video âm nhạc cho ca khúc được phát hành vào ngày 8 tháng 9 năm 2010.[43] Đĩa đơn thứ hai, "Grenade", được phát hành vào ngày 28 tháng 9 năm 2010 và cũng đã đạt được nhiều thành công lớn trên các bảng xếp hạng quốc tế.[44][45] Ở Mỹ, Doo-Wops & Hooligans ra mắt tại vị trí #3 trên bảng xếp hạng Billboard 200 trong tuần lễ ngày 13 tháng 10 năm 2010, bán được hơn 55,000 bản. Album này chũng nhận được nhiều ý kiến tích cực từ các nhà phê bình. Leah Greenblatt từ Entertainment Weekly ca ngợi Mars về "giai điệu nhập tâm" và "ranh mãnh giật lấy các sàn nhảy vênh vang", đồng thời ghi chú về những yếu kém trong các bài hát lệch lạc từ pop thông thường và soul.[46] Mars cũng biểu diễn mở màn cho tour diễn Hands All Over Tour của Maroon 5 bắt đầu từ ngày 6 tháng 10 năm 2010 và tour diễn châu Âu của McCoy từ ngày 18 tháng 10 năm 2010.[39]

Vào ngày 19 tháng 9 năm 2010, Mars bị bắt giữ tại Las Vegas vì tội sở hữu cocain.[47] Khi được giải tới đồn cảnh sát, Mars dã nói rằng việc anh làm là "ngu ngốc" và rằng anh "chưa từng sử dụng ma túy trước đó".[48][49] Mars đã nhận tội tàng trữ ma túy, nhưng sau đó anh được cho biết rằng, những cáo buộc sẽ bị xóa khỏi hồ sơ phạm tội của mình, miễn là anh ta không tái phạm trong một năm, trả 2,000 USD, làm dịch vụ cộng đồng trong 200 giờ đòng hồ và hoàn thành một khóa học tư vấn về ma túy.[50]

Vào ngày 13 tháng 2 năm 2011, Mars giành được giải Grammy cho Trình diễn giọng Pop Nam Xuất sắc nhất tại Giải Grammy lần thứ 53, cùng với sáu đề cử khác, bao gồm Ca khúc Rap Xuất sắc Nhất và Hợp tác Rap/Hát Hiệu quả Nhất cho ca khúc "Nothin' on You", Ghi âm của Năm cho "Nothin' on You" và "F**k You!", Bài hát của Năm cho "F**k You!" và đề cử Nhà Sản xuất của Năm.

Ngày 16 tháng 9 năm 2011, Bad Meets Evil phát hành đĩa đơn của họ, "Lighters", với sự góp giọng của Bruno Mars trong ca khúc. Ca khúc đã nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ các nhà phê bình, và nhiều trong đó chỉ trích Mars trong việc thực hiện thể loại nhạc này.[51] Vào ngày 22 tháng 9 năm 2011, trang web chính thức của Mars thông báo rằng, một ca khúc mới của anh, "It Will Rain", sẽ xuất hiện trong The Twilight Saga: Breaking Dawn – Part 1: Original Motion Picture Soundtrack, album nhạc phim Hừng Đông - Phần 1 phát hành vào ngày 8 tháng 11 năm 2011.[52] Ngày 30 tháng 10 năm 2011, Mars có biểu diễn ca khúc "Runaway Baby" độc quyền trong một tập của The X Factor UK. Cũng ngay trong ngày hôm đó, anh nhận được sáu đề cử cho Giải Grammy lần thứ 54, bao gồm đề cử Album của NămAlbum giọng Pop Xuất sắc nhất cho Doo-Wops & Hooligans, Ghi âm của Năm, Bài hát của Năm, Trình diễn Pop Solo Xuất sắc Nhất cho "Grenade", và đề cử Nhà Sản xuất của Năm. Trong lễ trao giải, Mars đã biểu diễn "Runaway Baby", nhưng cuối cùng anh lại không nhận được giải thưởng nào cả, Adele đã thắng tất cả các đề cử của anh, và anh đã đánh mất giải Nhà Sản xuất của Năm vào tay Paul Epworth.

Năm 2011, Album được đề cử trong Giải Grammy cho Album giọng pop xuất sắc nhất nhưng thất bại[53]

2012–2014: Album Unorthodox Jukebox và màn trình diễn tại Super Bowl XLVIII

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3 năm 2012, Mars đã ký một hợp đồng phát hành toàn cầu với BMG Chrysalis US.[54] Trong một cuộc phỏng vấn cho tạp chí Billboard vào tháng 9 năm 2012, anh khẳng định album tiếp theo của mình sẽ đa dạng hơn về mặt âm nhạc: "Tôi muốn có được sự tự do để bước vào phòng thu và nói rằng, 'Hôm nay tôi muốn làm một bản thu hip-hop, R&B, soul hoặc rock'" . Album Unorthodox Jukebox được phát hành vào ngày 11 tháng 12 năm 2012 tại Mỹ. Album này ra mắt ở vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng Billboard 200 trước khi vươn lên vị trí số một.[55][56][57] Nó cũng đứng đầu các bảng xếp hạng ở Úc, CanadaAnh [58][59][60] và đã bán được hơn sáu triệu bản trên toàn thế giới.[61]

"Locked Out of Heaven" được phát hành vào tháng 10 năm 2012 và là đĩa đơn mở đường cho album Unorthodox Jukebox (một album chủ yếu do The Smeezingtons sản xuất).[55] Ca khúc này đã đứng đầu bảng xếp hạng của Mỹ và Canada, đạt vị trí thứ hai tại Anh [62][63][64] và lọt vào top 10 ở nhiều quốc gia khác.[59] Các đĩa đơn khác được phát hành từ album bao gồm "When I Was Your Man", "Treasure", "Gorilla" và "Young Girls". Trong đó, "When I Was Your Man" đã vươn lên vị trí số một trên Billboard Hot 100; ngoại trừ Elvis Presley, không có nghệ sĩ nam nào khác có được năm đĩa đơn quán quân nhanh hơn Mars.[65] Bài hát này cũng đạt vị trí thứ ba tại Canada, thứ hai tại Anh và lọt vào top 10 ở nhiều nước khác.[59][63][64] Mars cũng góp giọng trong ca khúc "Bubble Butt" của bộ ba EDM Major Lazer, phát hành vào tháng 5 năm 2013, cùng với các rapper Tyga2 Chainz và ca sĩ Mystic.[66]

Chuyến lưu diễn chính thứ hai của Mars, The Moonshine Jungle Tour, kéo dài từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 10 năm 2014. Anh cũng công bố loạt chương trình biểu diễn cố định đầu tiên của mình mang tên Bruno Mars at the Chelsea, Las Vegas .[67][68] Chuyến lưu diễn đã thu về 156,4 triệu USD .[69][70] Vào ngày 8 tháng 9 năm 2013, Mars được công bố là nghệ sĩ biểu diễn chính tại chương trình giữa hiệp Super Bowl XLVIII, với Red Hot Chili Peppers là khách mời.[71][72] Đây là lần đầu tiên sau một thập kỷ có một nghệ sĩ dưới 30 tuổi biểu diễn chính tại Super Bowl.[73] Vào thời điểm đó, đây là màn trình diễn giữa hiệp được xem nhiều nhất trong lịch sử Super Bowl (115,3 triệu người xem, thậm chí còn nhiều hơn cả trận đấu).[74][75]

Tại Lễ trao giải Grammy 2014, Mars đã nhận giải Album Giọng ca nhạc Pop xuất sắc nhất cho Unorthodox Jukebox. "Locked Out of Heaven" được đề cử cho giải thưởng Bản thu âm của năm và Bài hát của năm, còn "When I Was Your Man" được đề cử cho Màn trình diễn nhạc Pop đơn xuất sắc nhất.[76] Cùng năm, album này cũng nhận được Giải Juno cho Album Quốc tế của năm.[77] Mars đã tham gia lồng tiếng cho nhân vật Roberto trong bộ phim Rio 2 (2014) [78] và đóng góp cho nhạc phim với ca khúc "Welcome Back".[79] Vào ngày 10 tháng 11 năm 2014, Mark Ronson phát hành "Uptown Funk" với sự góp giọng của Mars.[80] Bài hát đã đứng đầu các bảng xếp hạng ở nhiều quốc gia, bao gồm Úc, CanadaNew Zealand.[59][63] "Uptown Funk" đã giữ vị trí số một trên Billboard Hot 100 trong mười bốn tuần và trên Bảng xếp hạng Đĩa đơn của Anh trong bảy tuần, tạo ra ảnh hưởng lớn đến văn hóa đại chúng.[81]

2015–2018: Màn trình diễn tại Super Bowl 50 và album 24K Magic

[sửa | sửa mã nguồn]
Mars và ban nhạc The Hooligans trong chuyến lưu diễn 24K Magic World Tour, thuộc khuôn khổ lễ hội Lollapalooza 2018 tại Chicago

Vào tháng 9 năm 2014, Mars bắt đầu thực hiện album phòng thu thứ ba của mình nhưng chưa ấn định ngày phát hành. Anh chia sẻ: "Cho đến khi nó hoàn thành... Nó phải hay bằng hoặc thậm chí hay hơn [album trước]".[82] Tại Lễ trao giải Grammy 2016, "Uptown Funk" đã mang về cho Ronson và Mars hai giải Grammy cho Màn trình diễn nhạc Pop đôi/nhóm xuất sắc nhất và Bản thu âm của năm.[83] Một tuần trước đó, Coldplay đã biểu diễn chính tại chương trình giữa hiệp Super Bowl 50, với Mars và Beyoncé là khách mời; đây là lần thứ hai họ xuất hiện trong một chương trình giữa hiệp của Super Bowl.[84][85] Đây cũng là một trong những màn trình diễn giữa hiệp có lượt xem cao nhất.[86]

Album, dự kiến phát hành vào tháng 3, đã bị hoãn lại vài tháng do sự xuất hiện của Mars tại Super Bowl; bảy bài hát đã được thu âm vào thời điểm đó.[87] Các ca khúc này được sáng tác chủ yếu bởi Shampoo Press & Curl, một đội ngũ sản xuất gồm Mars, Lawrence và Brown, thay thế cho The Smeezingtons. Vào tháng 5 năm 2016, Mars thành lập công ty quản lý Gorilla Management, do Aaron Elharar điều hành.[88] Tại Lễ trao giải Grammy 2017, anh đã chia sẻ giải thưởng Album của năm với tư cách là thành viên của The Smeezingtons cho sự đóng góp trong ca khúc "All I Ask" của Adele từ album 25 (2015).[89][90] Theo Sách Kỷ lục Guinness Thế giới 2017, Mars là "Nghệ sĩ nam đầu tiên đạt được ba đĩa đơn bán được 10 triệu bản".[91]

Album 24K Magic, phát hành vào ngày 18 tháng 11 năm 2016, đã ra mắt ở vị trí thứ hai tại Canada, Pháp, New ZealandMỹ. Nó đã bán được hơn năm triệu bản trên toàn cầu.[58][59][92][93] Các đĩa đơn của album là "24K Magic", "That's What I Like" và bản remix của "Finesse" với rapper Cardi B, đã lọt vào top 4 ởMỹ và top 3 tại Canada. "That's What I Like" đã đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và đạt vị trí thứ tư tại New Zealand, trong khi "Finesse" đạt vị trí thứ hai tại New Zealand. "24K Magic" cũng đã đứng đầu các bảng xếp hạng ở Pháp và New Zealand. Các đĩa đơn khác bao gồm "Versace on the Floor" và "Chunky" (phát hành tại Úc).[94] Tất cả các đĩa đơn này đều lọt vào bảng xếp hạng Hot R&B/Hip-Hop Songs; trong đó "That's What I Like" và "Finesse" đã đứng đầu bảng xếp hạng này.[95]

Năm 2016, Mars bắt đầu loạt chương trình biểu diễn cố định Bruno Mars at Park MGM.[96] Chuyến lưu diễn chính của anh, 24K Magic World Tour (2017–18), đã thu về hơn 300 triệu USD.[97] Vào tháng 11 năm 2017, kênh CBS đã phát sóng chương trình truyền hình đặc biệt Bruno Mars: 24K Magic Live at the Apollo.[98] Mars đã nhận được bảy giải tại American Music Awards 2017, bao gồm giải Nghệ sĩ của năm, hai giải cho "That's What I Like" và hai giải khác cho 24K Magic.[99] Anh cũng nhận được giải Album/Mixtape của năm cùng bốn giải khác tại Soul Train Music Awards 2017.[100] Tại Lễ trao giải Grammy 2018, Mars đã thắng tất cả các hạng mục mà anh được đề cử: Album của năm và Album R&B xuất sắc nhất cho 24K Magic; Bản thu âm của năm cho ca khúc chủ đề; và Bài hát của năm, Màn trình diễn R&B xuất sắc nhất, Bài hát R&B xuất sắc nhất cho "That's What I Like". Album 24K Magic cũng nhận được Giải Grammy cho Album được hòa âm hay nhất không phải nhạc cổ điển.[101]

2018–2022: Các sản phẩm hợp tác khác và album An Evening with Silk Sonic

[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Nile Rodgers, Mars đã tham gia thực hiện album phòng thu It's About Time (2018) của ban nhạc Chic.[102][103] Đầu năm 2018, anh đã làm việc với kỹ sư thu âm Charles Moniz và nhóm sáng tác-thu âm The Stereotypes.[104][105] Vào tháng 9 năm đó, Mars cùng các rapper Gucci ManeKodak Black đã phát hành ca khúc "Wake Up in the Sky" cho album phòng thu thứ mười ba của Mane, Evil Genius; bài hát đã đạt vị trí thứ 11 tại Mỹ.[106] Vào tháng 2 năm 2019, anh và Cardi B phát hành "Please Me".[107] Đĩa đơn này đạt vị trí thứ ba trên Billboard Hot 100, và lọt vào top 20 ở Canada, New Zealand và Anh.[59][63][64] Năm tháng sau, Mars, Ed SheeranChris Stapleton đã hợp tác trong ca khúc "Blow" cho album phòng thu thứ tư của Sheeran, No.6 Collaborations Project (2019).[108] Vào tháng 10 cùng năm, Mars đã đăng một bức ảnh của mình ngủ trong phòng thu, hé lộ về sản phẩm âm nhạc mới.[109]

Vào tháng 2 năm 2020, một thỏa thuận hợp tác đã được công bố giữa Mars và Disney cho một "bộ phim truyện có chủ đề âm nhạc", trong đó nam ca sĩ sẽ đóng vai chính và sản xuất bộ phim.[110] Một tháng sau, thông tin Mars đang thực hiện album tiếp theo của mình cùng Babyface đã được xác nhận .[111][112] Trong thời gian phong tỏa do dịch COVID-19, anh đã sáng tác nhạc mỗi ngày cho album sắp tới của mình.[113] Cùng năm, Mars đã bán một phần danh mục bài hát của mình cho Warner Chappell Music và giữ lại một phần nhỏ; hợp đồng xuất bản của anh với BMG cũng là một phần của thỏa thuận này.[114] Vào năm 2021, có thông tin cho rằng Mars đã được trả 3,2 triệu USD để biểu diễn tại đám cưới của con trai CEO Motorola ở Cape Cod.[115]

Vào ngày 26 tháng 2 năm 2021, Mars và rapper Anderson .Paak thông báo rằng họ đã thu âm một album với tư cách là bộ đôi Silk Sonic .[116] Album An Evening with Silk Sonic, phát hành vào ngày 12 tháng 11 năm đó, có sự tham gia của Bootsy Collins với vai trò người dẫn chuyện khách mời.[117] Album được sản xuất chủ yếu bởi Mars và D'Mile, đã ra mắt ở vị trí thứ hai trên Billboard 200 và lọt vào top 5 ở Úc, Canada và New Zealand.[58][59][118] "Leave the Door Open", "Skate", "Smokin out the Window", một phiên bản cover của bài "Love's Train" từ Con Funk Shun, và "After Last Night" (với Thundercat và Bootsy Collins) đã được phát hành dưới dạng đĩa đơn. "Leave the Door Open" đã đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và bảng xếp hạng New Zealand. Tất cả các đĩa đơn trong album này ngoại trừ "Skate" đều đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Adult R&B Songs, và đây là album thứ hai có bốn đĩa đơn quán quân trên bảng xếp hạng đó.[119]

Đầu năm 2022, Silk Sonic bắt đầu loạt chương trình biểu diễn cố định An Evening with Silk Sonic at Park MGM.[120] Họ đã nhận giải Nhóm nhạc xuất sắc nhất tại Giải BET 2021, Nhóm nhạc Quốc tế của năm tại Giải Brit 2022, và giải Bộ đôi, Nhóm nhạc hoặc Màn hợp tác xuất sắc, thể loại truyền thống tại Giải thưởng NAACP Image lần thứ 53. Silk Sonic cũng nhận được ba giải tại Giải thưởng Âm nhạc Soul Train 2021, bao gồm Bài hát của năm cho "Leave the Door Open".[121] Tại Lễ trao giải Grammy 2022, họ đã nhận được các giải Bản thu âm của năm, Bài hát của năm, Màn trình diễn R&B xuất sắc nhất và Bài hát R&B xuất sắc nhất cho "Leave the Door Open".[122] Silk Sonic tiếp tục nhận được Giải BET 2022 cho Album của năm và Video của năm; video này cũng nhận được Giải thưởng Âm nhạc Soul Train 2022 cho Video của năm xuất sắc nhất.[123][124]

2023–nay: Chuyến lưu diễn thế giới, các sản phẩm hợp tác và album phòng thu thứ năm

[sửa | sửa mã nguồn]
Mars và ban nhạc The Hooligans tại Singapore trong chuyến lưu diễn 2022–2024 của Mars

Mars tiếp tục loạt chương trình biểu diễn cố định Bruno Mars at Park MGM vào năm 2022, và bắt đầu một chuyến lưu diễn thế giới với các buổi diễn tại SydneyTokyo.[125][126] Chuyến lưu diễn tiếp tục vào năm 2023 tại Hàn Quốc, Philippines, Brazil, Chile, GeorgiaIsrael.[127][128] Sau khi biểu diễn ở Tel Aviv vào ngày 4 tháng 10, buổi diễn thứ hai tại Tel Aviv dự kiến vào ngày 7 tháng 10 cùng với một buổi diễn ở Doha dự kiến vào ngày hôm sau đã bị hủy do cuộc tấn công ngày 7 tháng 10 của nhóm khủng bố Hamas.[129] Năm tiếp theo, sau các đêm diễn ở Tokyo, BangkokSingapore, chuyến lưu diễn kết thúc với chặng cuối gồm 14 buổi diễn tại Brazil.[130] Anh vẫn tiếp tục biểu diễn tại chương trình cố định của mình song song với chuyến lưu diễn thế giới. 37 buổi diễn được báo cáo trong năm 2023 đã thu về hơn 66,3 triệu USD [131]

Vào ngày 16 tháng 8 năm 2024, Mars và Lady Gaga đã phát hành đĩa đơn hợp tác "Die with a Smile".[132] Bài hát đã trở thành ca khúc đầu tiên của anh đạt vị trí quán quân trên Billboard Global 200,[133] và đạt vị trí thứ ba tại Hoa Kỳ.[134] Bài hát đã đạt vị trí quán quân tại một số quốc gia, bao gồm Hà Lan, New Zealand và Thụy Sĩ.[59] Một tháng sau, Mars và ca sĩ người New Zealand–Hàn Quốc Rosé đã phát hành đĩa đơn hợp tác "Apt.". Đây là đĩa đơn mở đường cho album đầu tay của Rosé, Rosie (2024).[135] Bài hát đã đạt vị trí đứng đầu ở Úc và New Zealand.[59] Cả hai đều là những bài hát được phát trực tuyến nhiều nhất thế giới vào tháng 11 năm 2024 và tiếp tục duy trì đến tháng 1 năm 2025. Vào ngày 24 tháng 1 năm 2025, Mars và Sexyy Red đã phát hành "Fat Juicy & Wet".

Tháng 12 năm 2024, Mars xuất hiện trên trang bìa của tạp chí Hits và Las Vegas Magazine. Theo nhà phát hành của Hits, anh dự kiến sẽ phát hành một album và đi lưu diễn vào năm 2025.[136] Ken Miller của Las Vegas Magazine cho biết Mars đã thực hiện một album mới từ đầu năm 2023. Mars đã sản xuất một bản cover mới của bài "Burning Love" của Elvis Presley do các cháu trai của anh là Nyjah Music và Zyah Rhythm thể hiện cho bộ phim Lilo & Stitch (2025).[137][138] Vào tháng 6 năm 2025, Mars được công bố là nghệ sĩ nổi bật của Lễ hội Fortnite Mùa 9. Để kỷ niệm sự kiện này, đĩa đơn "Bonde do Brunão" đã được phát hành.[139]

Ảnh hưởng

[sửa | sửa mã nguồn]

Mars đã được gọi là một "biểu tượng nhạc pop" bởi các tờ The Philippine Star,[140] Evansville Courier & Press,[141] The Dickinson Press,[142]iHeartRadio.[143] Michael Cragg của tờ The Guardian đã đặt ra thuật ngữ "chiến lược Bruno Mars": một nhạc sĩ trở thành ngôi sao nhạc pop, người viết và sản xuất các đĩa đơn ăn khách cho các nghệ sĩ khác và sau đó góp mặt cùng họ – theo tờ The New Yorker, anh thậm chí còn làm lu mờ cả nghệ sĩ chính trong các bài hát đó.[144][145] Amanda Petrusich của The New Yorker mô tả Mars là "có thể được xem là một trong những nghệ sĩ trình diễn bản năng và lôi cuốn nhất thế hệ của anh".[146] Kênh Fuse TV ghi nhận công lao của anh trong việc mang "những rung cảm sôi động của pop và R&B hoài cổ trở lại với âm nhạc hiện đại" vào năm 2017,[147] và sau đó, Roisin O'Connor của The Independent gọi anh là "vua của những giai điệu hoài cổ".[148] Năm 2013, nhà văn Ann Powers của NPR Music đã gọi Mars là "nhà sử học nhạc pop giá trị nhất" thời bấy giờ.[149] Viết cho BET vào năm 2016, Damien Scott gọi Mars là "hoàng tử nhạc pop".[150] Năm 2019, Margaret Farrell của Stereogum nói rằng thành công của "Uptown Funk" đã củng cố vị thế "ông hoàng nhạc pop" của Mars.[151]

Một bài báo của Billboard năm 2018 cho biết không có nam nghệ sĩ nào trong làng nhạc pop thập niên 2010 có chuỗi thành công dài hơn Mars, và Slate coi anh là "ngôi sao nhạc pop nam ổn định nhất thập niên 2010".[152][153] Năm 2021, WBLS cho biết Mars "đã là một thế lực thống trị trong văn hóa đại chúng trong hơn một thập kỷ".[154] Hai năm sau, tờ The Times xếp Mars ở vị trí thứ 13 trong danh sách 20 giọng ca xuất sắc nhất thế kỷ 21.[155] The New York TimesToronto Star mô tả "Uptown Funk" là một trong những bài hát nhạc pop dễ nhận biết nhất của thế kỷ.[156][157] Bàn về gốc gác Puerto Rico của Mars, tờ Remezcla cho rằng anh là "nghệ sĩ gốc Latino đầu tiên tự hào vươn tới đỉnh cao văn hóa đại chúng thế giới. Anh thành công mà không cần phải đi theo lối mòn hay bị ngành công nghiệp âm nhạc đóng khung vào một hình ảnh nhất định chỉ dựa trên chủng tộc của mình".[158] Âm nhạc và phong cách trình diễn của anh đã truyền cảm hứng cho AJ Mitchell,[159] Thomas Rhett ,[160] Dua Lipa,[161] Benny Dayal,[162] Rauw Alejandro,[163] KiDi,[164] Lee Brice,[165] Shawn Mendes,[166] Selena Gomez,[167]Meghan Trainor.[168]

Mars được Billboard vinh danh là Nghệ sĩ của năm 2013, và là Nghệ sĩ Danh dự của NRJ năm 2016 để ghi nhận những đóng góp của anh cho âm nhạc.[169][170] Nam ca sĩ đã nhận Giải thưởng Nhà đổi mới tại iHeartRadio Music Awards 2017 và Giải thưởng Tầm nhìn tại Teen Choice Awards 2017.[171][172] iHeartRadio Canada đã liệt kê Mars là một trong những "Biểu tượng của Thập kỷ" vào năm 2019, và Insider đã trao cho anh một sự ghi nhận danh dự trong danh sách của họ về thập niên 2010.[173][174] Năm 2021, Billboard xếp Mars ở vị trí thứ ba trong danh sách Nghệ sĩ hàng đầu của thập niên 2010 và thứ 14 trong danh sách Nghệ sĩ lưu diễn hàng đầu của thập niên 2010.[175][176] Ba năm sau, anh được xếp hạng thứ 20 trong danh sách Ngôi sao nhạc Pop vĩ đại nhất thế kỷ 21 của Billboard . Kyle Dines gọi Mars là "một trong những nhạc sĩ, nghệ sĩ trình diễn và người tạo hit vĩ đại của thế kỷ, người về cơ bản đã gia nhập làng nhạc pop đầu thập niên 2010 khi đã ở trên đỉnh thế giới và gần như chưa bao giờ rời khỏi vị trí đó kể từ đó.".[177]

Giải thưởng và thành tựu

[sửa | sửa mã nguồn]

Mars đã nhận được vô số giải thưởng và danh hiệu, bao gồm 16 Giải Grammy,[178] 14 Giải thưởng Âm nhạc Mỹ, 4 Giải Brit, 14 Giải thưởng Âm nhạc Soul Train, và 8 Kỷ lục Guinness Thế giới. Anh đã có tên trong danh sách 100 người ảnh hưởng nhất của tạp chí Time vào năm 2011 và đội ngũ sáng tác và sản xuất cũ của anh, The Smeezingtons, cũng nhận được nhiều giải thưởng. Năm 2014, Mars đứng đầu danh sách "30 Under 30" của Forbes, vinh danh những ngôi sao trẻ sáng giá nhất trong 15 lĩnh vực tại Mỹ.[179] Tại lễ trao giải Grammy 2018, anh là nghệ sĩ thứ hai nhận được giải Bản thu âm của năm và Bài hát của năm với hai ca khúc từ cùng một album.[180] Tại Grammy 2022, Mars trở thành nghệ sĩ thứ hai có ba lần nhận giải Bản thu âm của năm.[181] Năm 2019, Billboard xếp Mars ở vị trí thứ 41 trong danh sách những nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại.[182] Cùng với The Smeezingtons, Music Week gọi Mars là một trong những nhạc sĩ xuất sắc nhất năm 2010; Billboard xếp anh thứ sáu trong danh sách Nhạc sĩ Hot 100 năm 2013.[183][184] Năm 2025, nhóm cũng được công nhận trong danh sách các Nhà sản xuất hàng đầu của thế kỷ 21 trên Hot 100 của Billboard ở vị trí thứ 17.[185]

Năm 2012, "Just the Way You Are" và "Grenade" là những đĩa đơn kỹ thuật số bán chạy nhất năm với doanh số lần lượt là 12,5 triệu và 10,2 triệu; Mars trở thành nghệ sĩ có doanh thu cao nhất năm đó.[186] "Just The Way You Are", "Grenade", "Locked Out Of Heaven", và "When I Was Your Man" mỗi bài đều bán được hơn 4 triệu bản kỹ thuật số, đưa anh trở thành nghệ sĩ nam đầu tiên làm được điều này với tư cách ca sĩ chính.[187] Sáu trong số các đĩa đơn của anh được tính trong danh sách những đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại.[188] Mars đã bán được 26 triệu album trên toàn thế giới vào năm 2016 và 200 triệu đĩa đơn vào năm 2020.[189] Năm 2022, anh là nghệ sĩ đầu tiên có sáu bài hát được chứng nhận Kim cương tại Mỹ.[190] "Uptown Funk" và "Grenade" được nhiều ấn phẩm liệt kê vào danh sách những bài hát hay nhất thập kỷ.[191][192][193]

Do nạn phe vé gia tăng trong tuần sau màn trình diễn của Mars tại Super Bowl 2014, Chủ tịch Thượng viện Hawaii Donna Mercado Kim đã giới thiệu Nghị quyết Thượng viện 12 (còn được gọi là Đạo luật Bruno Mars). Nghị quyết này giới hạn tất cả các giao dịch mua vé trong vòng 48 giờ kể từ ngày mở bán phải được thực hiện tại quầy vé trực tiếp, nhằm ngăn chặn nạn đầu cơ vé.[194] Thượng viện bang Hawaii đã thông qua luật này,[195] nhưng sau đó nó đã bị hủy bỏ tại ủy ban hội nghị.[196] Billboard báo cáo vào tháng 9 năm 2021 rằng Mars đã kiếm được 604,4 triệu USD từ các buổi hòa nhạc, là một trong số chưa đến 30 nghệ sĩ vượt qua ngưỡng 600 triệu USD.[197]

Mars là nghệ sĩ bán vé nhanh nhất cho năm đêm diễn của mình tại Nhật Bản vào năm 2022, bán được khoảng 210.000 vé. Anh đã bán được 101.000 vé cho hai buổi hòa nhạc tại Seoul vào năm sau, đây là lượng khán giả lớn nhất trong lịch sử Super Concert của Hyundai Card.[198] Năm 2024, Mars là nghệ sĩ đầu tiên kể từ sau Michael Jackson bán hết vé cho bảy đêm diễn tại Tokyo Dome có sức chứa 55.000 người.[199] Hai buổi hòa nhạc của anh tại Đài Loan đã thu hút 157.000 người.[200] Mars đã biểu diễn 14 buổi hòa nhạc tại Brazil trong năm đó, phá vỡ kỷ lục 13 đêm diễn của RBD vào năm 2006 dành cho một nghệ sĩ quốc tế.[201][202]

Đầu năm 2025, sau khi phát hành "Die With a Smile" với Lady Gaga và "Apt." với Rosé, Mars đã đạt kỷ lục 150 triệu người nghe hàng tháng trên Spotify.[203][204] "Apt." là bài hát đầu tiên có ít nhất 200 triệu lượt nghe toàn cầu trong nhiều tuần trên cả hai bảng xếp hạng. "Die with a Smile" và "Apt." đã lần lượt có 18 và 12 tuần ở vị trí số một trên Global 200.[205][206] "Apt." cũng đã có 19 tuần đứng đầu bảng xếp hạng Global Excluding United States, phá vỡ kỷ lục, trong khi "Die with a Smile" có 17 tuần đứng đầu trên cùng bảng xếp hạng.[207][208]

Cuộc sống cá nhân

[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình và các mối quan hệ

[sửa | sửa mã nguồn]

Anh trai của Mars, Eric Hernandez, là tay trống cho ban nhạc đệm của anh, The Hooligans. Các chị em gái của họ là Tiara, Tahiti và Presley cùng với người em họ Jamie đã thành lập nhóm nhạc nữ The Lylas. Khi còn nhỏ, Jamie đã chuyển đến sống cùng các anh chị em do vấn đề gia đình.[209] Mars bắt đầu hẹn hò với người mẫu Jessica Caban vào năm 2011.[210] Tính đến năm 2024, họ vẫn là một cặp, sống trong một dinh thự ở Hollywood Hills cùng với một chú chó Rottweiler tên là Geronimo.

Vào ngày 31 tháng 5 năm 2013, khi đang trên đường trở về Los Angeles từ nước ngoài, Mars nhận được tin tại sân bay rằng mẹ anh đang lâm bệnh nặng; anh lập tức bắt một chuyến bay đến Hawaii. Mẹ anh qua đời tại Trung tâm Y tế Queens ở Honolulu vào ngày hôm sau ở tuổi 55 do biến chứng của chứng phình động mạch não.[211][212][213]

Chủng tộc

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2013, Mars nói với tạp chí Rolling Stone rằng các giám đốc điều hành hãng đĩa "gặp khó khăn trong việc phân loại anh" và không chắc đài phát thanh nào sẽ phát các bài hát của anh hoặc anh sẽ thu hút đối tượng khán giả (da đen hay da trắng). Vào tháng 5 năm đó, anh cho biết ca khúc "Nothin' on You" đã bị một "người có quyền quyết định trong ngành công nghiệp âm nhạc" từ chối vì lý do chủng tộc. Trải nghiệm đó khiến anh cảm thấy mình như một "dị nhân", và anh nói đó là thời điểm tồi tệ nhất của mình: "Ngay cả khi có bài hát đó trong tay để chốt hợp đồng, những lời như vậy vẫn thốt ra từ miệng người ta. Điều đó khiến tôi cảm thấy như mình thậm chí không tồn tại trong căn phòng đó.".[214]

Năm 2018, trên mạng xã hội, Mars bị cáo buộc chiếm dụng văn hóa vì đã sử dụng sự đa dạng chủng tộc của mình để kiếm lợi từ âm nhạc của người da đen và bị chỉ trích vì bắt chước âm nhạc của các nghệ sĩ đi trước. Các nhân vật nổi tiếng da đen, bao gồm Stevie Wonder, Charlie Wilson, 9th Wonder, Marjua Estevez, và Stereo Williams, đã bác bỏ những cáo buộc này.[215][216][217] Mars thường xuyên nói về những người có ảnh hưởng đến mình và đã ghi nhận công lao của nhiều nghệ sĩ da đen, bao gồm Babyface, Teddy Riley.[215][218] Trong một cuộc phỏng vấn năm 2021 trên chương trình The Breakfast Club, Mars đã phản hồi về những lời chỉ trích: "Lý do duy nhất tôi có mặt ở đây là nhờ James Brown, là nhờ Prince, Michael [Jackson]... Thứ âm nhạc này đến từ tình yêu và nếu bạn không thể cảm nhận được điều đó, thì tôi không biết phải nói gì với bạn nữa.".[219] Năm 2025, Mars lần thứ hai bị cáo buộc chiếm dụng văn hóa, lần này là do ca khúc "Bonde do Brunão".[220]

Vấn đề pháp lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 19 tháng 9 năm 2010, Mars bị bắt tại sòng bạc Hard RockLas Vegas vì tội tàng trữ cocaine. Anh đã nhận tội tàng trữ ma túy cấp độ trọng tội. Anh bị phạt 2.000 USD, bị kết án 200 giờ phục vụ cộng đồng, nhận 12 tháng quản chế và được yêu cầu tham gia tám giờ tư vấn về ma túy. Vào tháng 1 năm 2012, các cáo buộc tàng trữ cocaine của anh đã được bãi bỏ sau khi luật sư của anh thông báo cho thẩm phán tòa án tiểu bang rằng anh đã hoàn thành nghĩa vụ cộng đồng và đáp ứng các điều kiện của thỏa thuận nhận tội đã đạt được một năm trước đó.[221][222][223]

Vào ngày 28 tháng 1 năm 2014, Demetrius Proctor đã đệ đơn kiện, nói rằng ông giữ bản quyền của bài hát "Billionaire" do McCoy và Mars thể hiện. Proctor cáo buộc rằng ông sở hữu bản quyền phần nhạc và lời của bài hát kể từ ngày 31 tháng 3 năm 2011, mặc dù bài hát đã được phát hành một năm trước đó. Để làm bằng chứng, ông đã nộp giấy chứng nhận đăng ký của Văn phòng Bản quyền Hoa Kỳ được cấp vào năm 2000 cho "Frisky Vol. 1 to 30 (Tapes)". Proctor cáo buộc các bị đơn "cố ý và chủ tâm" vi phạm bản quyền, yêu cầu tiêu hủy tất cả các bản sao của bản thu âm, và đòi quyền độc quyền sao chép và phân phối bài hát.[224] Vào ngày 5 tháng 11 năm 2020, vụ kiện đã bị bãi bỏ.[225]

"Uptown Funk" của Ronson và Mars đã bị kiện vì vi phạm bản quyền. Năm 2015, do sự tương đồng với "Oops Up Side Your Head" (1979) của The Gap Band, các thành viên của ban nhạc này, cùng với nghệ sĩ keyboard Rudolph Taylor và nhà sản xuất Lonnie Simmons, đã được thêm vào danh sách đồng tác giả của "Uptown Funk" và nhận tiền bản quyền.[226] Cùng năm, ca sĩ người Serbia Viktorija nói rằng "Uptown Funk" đã vi phạm bản quyền một trong những ca khúc của cô, nhưng cô quyết định không kiện Mars và Ronson.[227] Ban nhạc electro-funk Collage đã kiện Ronson và Mars vào năm 2016 vì sao chép đĩa đơn năm 1983 của họ, "Young Girls"; một năm sau, nhóm nhạc rap The Sequence cũng kiện vì cho rằng bài hát đã vi phạm bản quyền đĩa đơn "Funk You Up" năm 1979 của họ.[228][229] Năm 2017, Lastrada Entertainment đệ đơn kiện do sự tương đồng với "More Bounce to the Ounce" (1980) của Zapp. Công ty này yêu cầu bồi thường thiệt hại và một phiên tòa có bồi thẩm đoàn để ngăn Ronson thu lợi từ "Uptown Funk".[230] Các vụ kiện của Collage và Zapp đã được rút lại vào năm sau, và mọi thỏa thuận tài chính (nếu có) đều không được tiết lộ.[231][232] Ca khúc "Treasure" cũng được đăng ký lại, với phần tác giả được bổ sung thêm Thibaut BerlandChristopher Khan, do sự tương đồng với bài "Baby I'm Yours" của Breakbot.[233]

Tài sản

[sửa | sửa mã nguồn]

Billboard ước tính thu nhập của Mars trong năm 2013 là 18.839.681 USD, đưa anh trở thành nhạc sĩ được trả lương cao thứ mười hai trong năm.[234] Forbes bắt đầu báo cáo thu nhập của anh vào năm 2014, tính toán rằng 60 triệu USD kiếm được từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014 đã đưa anh lên vị trí thứ 13 trong danh sách 100 người nổi tiếng của tạp chí.[235] Năm 2017, Mars đứng thứ sáu trong danh sách những người nổi tiếng được trả lương cao nhất thế giới của tạp chí, anh kiếm được khoảng 39 triệu USD từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017.[236] Forbes công bố Mars là nhạc sĩ được trả lương cao nhất nước Mỹ năm 2017, với tổng thu nhập ước tính là 100 triệu USD; điều này đưa anh lên vị trí thứ 11 trong danh sách 100 người nổi tiếng.[97] Anh đứng thứ 54 trong danh sách 100 người nổi tiếng của Forbes năm 2019, với thu nhập ước tính là 51,5 triệu USD từ ngày 1 tháng 6 năm 2018 đến ngày 1 tháng 6 năm 2019.[237]

Vào tháng 3 năm 2024, có tin đồn Mars nợ 50 triệu USD do thua cờ bạc, điều này có thể giải thích cho việc anh biểu diễn cố định suốt chín năm tại Park MGM ở Vegas.[238][239] Vào ngày 18 tháng 3, MGM Resorts đã phủ nhận các cáo buộc, với phó chủ tịch cấp cao về quan hệ công chúng Jenn Michaels nói rằng anh "không có bất kỳ khoản nợ nào với MGM... mọi suy đoán khác đều hoàn toàn sai sự thật.".[240][241] Kể từ đó, Mars đã nhiều lần nói đùa về tin đồn này.[242][243]

Danh sách đĩa nhạc

[sửa | sửa mã nguồn]
Album phòng thu
Đĩa mở rộng

Tour lưu diễn

[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và đề cử

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "LISTA-TITULARI-DE-DREPTURI-UNART.pdf" (PDF). Uniunea Naționala a Artiștilor din România (UNART). ngày 23 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2025.
  2. ^ Caulfield, Keith (ngày 13 tháng 10 năm 2010). "Toby Keith's 'Gun' Fires at No. 1 on Billboard 200". Billboard. Nielsen Business Media. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2010.
  3. ^ Pietroluongo, Silvio (ngày 13 tháng 1 năm 2011). "Bruno Mars Continues Hot 100 No. 1 Rotation with 'Grenade'". Billboard. Nielsen Business Media. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2011.
  4. ^ "Robert A. Bayot of Portland, Oregon. USA.:Information about Peter Hernandez". Familytreemaker.genealogy.com. ngày 15 tháng 8 năm 1996. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2012.
  5. ^ "Baguio's 40 Artists Under 40 | Basta Pinas". TravelBook.ph. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2012.
  6. ^ a b Smolenyak, Megan (ngày 12 tháng 11 năm 2012). "What Race Is Bruno Mars?". Huffington Post. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2012.
  7. ^ a b Farber, Jim (ngày 3 tháng 10 năm 2010). 3 tháng 10 năm 2010_bruno_mars_follows_his_summer_of_hits_with_a_big_debut_album_doowops__hooligans.html "Bruno Mars follows his summer of hits with a big debut album 'Doo-Wops & Hooligans'". Daily News. New York City. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2010. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)[liên kết hỏng]
  8. ^ "ACE Title Search: Hernandez Peter Gene". American Society of Composers, Authors and Publishers. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.
  9. ^ Jeffries, David. "Bruno Mars > Biography". allmusic. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
  10. ^ Lewis, Pete. "Bruno Mars: Out of this World!". Blues & Soul. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2010.
  11. ^ a b c d Moniz, Melissa (ngày 14 tháng 4 năm 2010). "Starring Bruno Mars". MidWeek. Honolulu: Black Press. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.
  12. ^ Yi, David (ngày 12 tháng 10 năm 2010). 12 tháng 10 năm 2010_bruno_mars_far_east_movement_lead_asianamerican_pop_music_wave_taking_over_the_b.html "Bruno Mars, Far East Movement lead Asian-American pop music wave taking over the Billboard charts". Daily News. New York City. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2010. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)[liên kết hỏng]
  13. ^ a b Lester, Paul (ngày 13 tháng 9 năm 2010). "New band of the day: Bruno Mars (No 865)". The Guardian. UK. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.
  14. ^ "Bruno Mars and Phillip Lawrence". American Society of Composers, Authors and Publishers. ngày 18 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.
  15. ^ "Bruno Mars Interview – JustBrunoMars.com Exclusive". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Đã định rõ hơn một tham số trong |archiveurl=|archive-url= (trợ giúp)
  16. ^ "Bruno Mars on Songwriting, Singing as a Tot, Working with Ne-Yo". Vibe. Vibe Media Group. ngày 4 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011.
  17. ^ a b 16 tháng 9 năm 2010-brunomars16_ST_N.htm "Bruno Mars gravitates toward a stellar solo career". USA Today. ngày 15 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  18. ^ Gentry, Colin (ngày 22 tháng 9 năm 2010). "4Music.com meets Bruno Mars". 4Music. Box Television. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  19. ^ Magrath, Andrea (ngày 16 tháng 3 năm 2012). "What a player: Bruno Mars gets steamy with Miss April in Tropicana-style shoot for Playboy magazine". Daily Mail. Associated Newspapers Ltd. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012.
  20. ^ "Greetings From Bruno Mars (YouTube video)". Elektra Records.
  21. ^ Cline, Georgette. "10 Questions for Bruno Mars". Rap-Up. Devin Lazerine. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2010.
  22. ^ a b Jones, Steve (ngày 25 tháng 1 năm 2011). 25 tháng 1 năm 2011-brunomars25_ST_N.htm "Bruno Mars' musical orbit seems inescapable". USA Today. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  23. ^ a b c d "Interview with Aaron Bay-Schuck". HitQuarters. ngày 13 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2010.
  24. ^ Wete, Brad (ngày 13 tháng 4 năm 2010). "So who is Bruno Mars? A Q&A with the guy behind B.O.B's smash hit 'Nothin' On You'". Entertainment Weekly. Time Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.
  25. ^ "Get Sexy". American Society of Composers, Authors and Publishers. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.
  26. ^ Sweet 7 (Ghi chú album). Island Records. 2010. {{Chú thích ghi chú album}}: |format= cần |url= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |albumlink= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |artist= (gợi ý |others=) (trợ giúp)
  27. ^ "Animal by Far East Movement FM". iTunes Store. Apple Inc. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.
  28. ^ "Jaeson Ma Releases New Single Glory" (Thông cáo báo chí). PR Newswire. ngày 11 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2010.
  29. ^ "Love – Single". iTMS. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2010.
  30. ^ "B.o.B feat. Bruno Mars – Nothin' on You (bài hát)". australian-charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011.
  31. ^ "Travie McCoy feat. Bruno Mars – Billionaire (bài hát)". australian-charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011.
  32. ^ "Bruno Mars: Top 75 Releases". The Official Charts Company. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011.
  33. ^ Trust, Gary (ngày 2 tháng 12 năm 2010). "Weekly Chart Notes: P!nk, Bruno Mars, Band Perry". Billboard. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011.
  34. ^ "Bruno Mars Blasts Off Into the Top Ten Albums Chart on iTunes With New Digital EP; Acclaimed Singer/Songwriter/Producer Follows B.o.B's No. 1 Blockbuster, "Nothin' On You" With Much-Anticipated Solo Debut; Four-Song EP Features Guest Appearances From B.o.B and the Legendary Cee Lo Green; Major TV Performances Slated Throughout May; "IT'S BETTER IF YOU DON'T UNDERSTAND" Arrives at All Digital Retailers Today" (Thông cáo báo chí). Marketwire. ngày 11 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.
  35. ^ "Bruno Mars Album & Song Chart History". Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.
  36. ^ Rodriguez, Jayson (ngày 15 tháng 7 năm 2010). "Bruno Mars Shows His 'Darker' Self On 'The Other Side' Video". MTV News. MTV Networks. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.
  37. ^ Dinh, James (ngày 13 tháng 9 năm 2010). "B.o.B, Hayley Williams Perform Rousing 'Airplanes' At VMAs". MTV News. MTV Networks. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.
  38. ^ "Doo-Wops & Hooligans". Amazon.com. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2010.
  39. ^ a b "Bruno Mars Unveils Eagerly Awaited Debut Album "DOO-WOPS & HOOLIGANS" Slated to Arrive October 5th; New Single "Just The Way You Are" Shaping Up as Massive Hit, With Top 3 Success on iTunes "Top Singles"; Sold-Out New York City Live Debut Set for Tonight, Followed by US Tour Alongside Maroon 5 in October" (Thông cáo báo chí). Marketwire. ngày 25 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2010.
  40. ^ "Bruno Mars Ready With New Solo Single; "Just The Way You Are" Drops July 20th, Heralding Hugely Anticipated Debut Album; Elektra Recording Artist and Acclaimed Singer/Songwriter/Producer to Join Maroon 5 and One Republic on Tour" (Thông cáo báo chí). Marketwire. ngày 19 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.
  41. ^ Pietroluongo, Silvio (ngày 22 tháng 9 năm 2010). "Bruno Mars Lands Atop Hot 100, Rihanna Roars Into Top 10". Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2010.
  42. ^ "Bruno Mars – Just the Way You Are (bài hát)". australian-charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011.
  43. ^ Wete, Brad (ngày 8 tháng 9 năm 2010). "Bruno Mars wows his lady with cassette tape drawings in 'Just the Way You Are' video: Watch here". Entertainment Weekly. Time Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.
  44. ^ "Grenade – Single". iTunes Store Australia. Apple Inc. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011.
  45. ^ "Bruno Mars – Grenade (bài hát)". australian-charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011.
  46. ^ Greenblatt, Leah (ngày 29 tháng 9 năm 2010). "Doo-Wops & Hooligans (2010)". Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2010.
  47. ^ "Bruno Mars Arrested". TMZ.com. ngày 20 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  48. ^ "Bruno Mars – Sniffed Out by Bathroom Attendant". TMZ.com. ngày 20 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  49. ^ Black, Caroline (ngày 21 tháng 9 năm 2010). "Bruno Mars Mug Shot: Singer Arrested in Las Vegas on Cocaine Charge". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2012.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)|work=CBS News|access-date =ngày 25 tháng 9 năm 2010|archiveurl= 5 tháng 12 năm 2012}}
  50. ^ "Bruno Mars Escapes Cocaine Charge". MTV News UK. ngày 5 tháng 2 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2011.
  51. ^ Steven J. Horowitz (ngày 14 tháng 6 năm 2011). "Royce Da 5'9 Responds To "Lighters" Criticism".
  52. ^ "EXCLUSIVE ANNOUNCEMENT: New Bruno Mars single "It Will Rain"". BrunoMars.com. ngày 27 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2011.
  53. ^ "Awards". Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2022.
  54. ^ Williams, Paul (ngày 22 tháng 3 năm 2012). "BMG Chrysalis captures Bruno Mars". Music Week. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2012.
  55. ^ a b Billboard Staff (ngày 28 tháng 9 năm 2012). "Bruno Mars to Release 'Unorthodox Jukebox' Dec. 11: Exclusive". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2012.
  56. ^ Trust, Gary (ngày 27 tháng 12 năm 2012). "Bruno Mars Debuts at No. 2 as Taylor Swift's 'Red' Still Rules". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2012.
  57. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên BB200
  58. ^ a b c "Bruno Mars – Chart History: Canadian Albums". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2018.
  59. ^ a b c d e f g h i "Discography Bruno Mars". Hung Medien. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2024.
  60. ^ "Official Albums Chart Analysis: Mars at No.1 with 136k first week sales". Music Week. ngày 17 tháng 12 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2012.
  61. ^ Marsh, Joanne (ngày 8 tháng 3 năm 2016). "Bruno Mars to release third studio album later this year". NME. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2017.
  62. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Hot100History
  63. ^ a b c d Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên CanadaHot100History
  64. ^ a b c Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên UKcharts
  65. ^ Trust, Gary (ngày 10 tháng 4 năm 2013). "Bruno Mars Lands Fifth Hot 100 No. 1 With 'When I Was Your Man'". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013.
  66. ^ "Bubble Butt (Remix) [feat. Bruno Mars, 2 Chainz, Tyga and Mystic]" (bằng tiếng Pháp). 7digital FR. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2013.
  67. ^ Lipshutz, Jason (ngày 20 tháng 2 năm 2013). "Bruno Mars Unveils Massive 'Moonshine Jungle' World Tour". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2013.
  68. ^ Clarke, Norm (ngày 5 tháng 2 năm 2014). "Cosmo cheers Bruno Mars' new orbit". Las Vegas Review-Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2020.
  69. ^ "2013 Top 20 Worldwide Tours Chart" (PDF). Pollstar. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2016.
  70. ^ "2014 Top 20 Worldwide Tours Chart" (PDF). Pollstar. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2016.
  71. ^ Hampp, Andrew (ngày 14 tháng 10 năm 2013). "Why The NFL and Pepsi Booked – But Didn't Pay – Bruno Mars For Super Bowl XLVIII (From the Magazine)". Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2013.
  72. ^ Dolan, Jon (ngày 2 tháng 2 năm 2014). "Bruno Mars Brings Drum Solos, Chili Peppers, Nostalgia to Super Bowl". Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014.
  73. ^ M. Watson, Denise (ngày 1 tháng 2 năm 2014). "Bruno Mars will have all eyes on the halftime show". The Virginian-Pilot. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014.
  74. ^ Gallo, Phil (ngày 3 tháng 2 năm 2014). "Bruno Mars' Super Bowl Halftime Show Attracts Record Audience of 115.3 Million". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2018.
  75. ^ Gallo, Phil (ngày 2 tháng 2 năm 2015). "Katy Perry's Halftime Show the Most-Watched in Super Bowl History". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2015.
  76. ^ Los Angeles Times Staff (ngày 26 tháng 1 năm 2015). "Grammys 2014: The complete list of nominees and winners". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2015.
  77. ^ "2014 Juno Gala Dinner & Awards Winners" (PDF). Juno. ngày 29 tháng 3 năm 2014. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2014.
  78. ^ "Twentieth Century Fox Animation Announces RIO 2 Casting". Business Wire. ngày 22 tháng 2 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2013.
  79. ^ "'Rio 2': Bruno Mars chante 'Welcome Back' pour la bande originale du film" (bằng tiếng Pháp). Pure Charts. ngày 27 tháng 3 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013.
  80. ^ Daw, Robbie (ngày 30 tháng 10 năm 2014). "Mark Ronson Announces "Uptown Funk" Single, Featuring Bruno Mars". Idolator. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2014.
  81. ^ Gibsone, Harriet (ngày 9 tháng 12 năm 2014). "The Uptown Funk phenomenon: Cara, Cowell and the components of its success". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2019.
  82. ^ Redfearn, Dominique (ngày 6 tháng 10 năm 2016). "What We Know About The New Bruno Mars Album So Far". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2017.
  83. ^ Guardian Staff (ngày 16 tháng 2 năm 2016). "Grammy awards winners: the full list". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016.
  84. ^ Atkinson, Katie (ngày 8 tháng 9 năm 2015). "Bruno Mars Wouldn't Be the First Repeat Super Bowl Halftime Performer". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2015.
  85. ^ McRady, Rachel (ngày 3 tháng 12 năm 2015). "Coldplay to Headline Super Bowl 2016 Halftime Show: Details! – Us Weekly". Us Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2015.
  86. ^ O'Connell, Michael (ngày 8 tháng 2 năm 2016). "TV Ratings: Super Bowl 50 Falls Shy of Record With 111.9 Million Viewers". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2016.
  87. ^ Harada, Wayne (ngày 28 tháng 2 năm 2016). "Bruno Mars' dad developing family show concept on isle". PressReader. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2016.
  88. ^ Roberts, Randall (ngày 28 tháng 11 năm 2017). "The mysterious production team Shampoo Press & Curl earns nods for Bruno Mars' 24K Magic". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2018.
  89. ^ 25 (booklet). Adele. London: XL Records. 2015.{{Chú thích ghi chú album}}: Quản lý CS1: tham số others trong cite AV media (liên kết)
  90. ^ "Grammy Award winners 2017: Complete list". The Washington Post. ngày 12 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2018.
  91. ^ Glenday, Craig (2016). Guinness World Records 2017. Jim Pattison Group. tr. 178–180. ISBN 978-1-910561-34-8.
  92. ^ Caulfield, Keith (ngày 28 tháng 11 năm 2016). "Metallica Rocks With Sixth No. 1 Album on Billboard 200 Chart". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2016.
  93. ^ Goncalves, Julien (ngày 17 tháng 10 năm 2019). "Bruno Mars de retour en studio : son quatrième album en préparation?" (bằng tiếng Pháp). Pure Charts. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2020.
  94. ^ Tuskan, Peter (ngày 30 tháng 11 năm 2017). "Most Added: Bruno Mars edges out Promising Newcomer with "Chunky"". The Music Network. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2017.
  95. ^ "Bruno Mars – Chart history: Hot R&B/Hip-Hop Songs". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2021.
  96. ^ McRady, Rachel (ngày 10 tháng 10 năm 2016). "Exclusive: Bruno Mars Partners With MGM Resorts International for the Next Two Years". Entertainment Tonight. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2020.
  97. ^ a b O'Malley Greenburg, Zack (ngày 17 tháng 7 năm 2018). "$100M Magic: Why Bruno Mars And Other Stars Are Ditching Their Managers". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2018.
  98. ^ Kaufman, Gil (ngày 12 tháng 9 năm 2017). "Bruno Mars Prepping First Primetime Special: 'Bruno Mars: 24K Magic Live at the Apollo'". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2017.
  99. ^ Billboard Staff (ngày 19 tháng 11 năm 2017). "Here Are All the Winners From the 2017 AMAs". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2017.
  100. ^ Nordyke, Kimberly (ngày 26 tháng 11 năm 2017). "BET Soul Train Awards: Bruno Mars Tops With 5 Wins". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018.
  101. ^ Atkinson, Katie (ngày 28 tháng 1 năm 2018). "Grammys 2018 Winners: The Complete List". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2018.
  102. ^ Wicks, Amanda; Kim, Michelle (ngày 22 tháng 4 năm 2018). "Nile Rodgers Says Haim, Bruno Mars, More Working on New CHIC Album". Pitchfork. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018.
  103. ^ Earls, John (ngày 5 tháng 8 năm 2019). "Nile Rodgers reveals Bruno Mars told him how to make their collab a hit". NME. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2019.
  104. ^ Friend, David (ngày 25 tháng 1 năm 2018). "Grammy-winning Canadian sound engineer on finding gold with Bruno Mars". National Post. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  105. ^ LeGarreta, Raina (ngày 9 tháng 2 năm 2018). "Production with finesse". Elk Grove Citizen. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2021.
  106. ^ Pierre, Alphonse (ngày 17 tháng 9 năm 2018). "The Ones: 5 Best New Rap Songs From 6LACK, Noname, Gucci Mane, Lowkey, and NgeeYL". Pitchfork. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2020.
  107. ^ Legaspy, Althea (ngày 15 tháng 2 năm 2019). "Hear Cardi B, Bruno Mars' Flirtatious New Song 'Please Me'". Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2019.
  108. ^ Billboard Staff (ngày 5 tháng 7 năm 2019). "Ed Sheeran Drops Bruno Mars-Assisted "Blow" and "Best Part of Me"". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2019.
  109. ^ Rowley, Glenn (ngày 16 tháng 10 năm 2019). "Fans Are Flipping Over This New Pic Of Bruno Mars in the Studio". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2019.
  110. ^ Aniftos, Rania (ngày 6 tháng 2 năm 2020). "Bruno Mars to Star in & Co-Produce Disney Theatrical Film". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2020.
  111. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên JKLVRJ
  112. ^ Radke, Brock (ngày 6 tháng 3 năm 2020). "Best Bets: Bruno Mars, Chicago, Tom Segura and more for your Las Vegas weekend". Las Vegas Sun. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  113. ^ Santos, Camille (ngày 22 tháng 4 năm 2020). "Bruno Mars promises He's Hard at Work on New Music While on Quarantine". Myx. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2020.
  114. ^ Christman, Ed (ngày 24 tháng 5 năm 2021). "Bruno Mars Sells Part of Song Catalog to Warner Chappell Music". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2021.
  115. ^ Washburn, Emily (ngày 23 tháng 1 năm 2023). "Beyoncé Reportedly Pocketed At Least $24 Million For Private 'Atlantis The Royal' Performance — Here's Where She Lands In The Top 10 Most Expensive Private Performances". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2023.
  116. ^ Gallagher, Alex (ngày 26 tháng 2 năm 2021). "Bruno Mars and Anderson .Paak form new band Silk Sonic, announce album". NME. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2021.
  117. ^ "Bruno Mars and Anderson .Paak Reveal New Silk Sonic Album Release Date". Pitchfork. ngày 8 tháng 10 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2021.
  118. ^ "Taylor Swift Scores 10th No. 1 Album on Billboard 200 Chart with 'Red (Taylor's Version)'". Billboard. ngày 21 tháng 11 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2021.
  119. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên BBTA
  120. ^ Paul, Larisha (ngày 19 tháng 1 năm 2022). "Bruno Mars and Anderson .Paak Hit Vegas for Silk Sonic Residency". Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2022.
  121. ^ Imarenezor, Christine (ngày 28 tháng 11 năm 2021). "Soul Train Awards 2021: See The Complete Winners List". Vibe. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2021.
  122. ^ Atkinson, Katie (ngày 4 tháng 4 năm 2022). "Here Are the 2022 Grammy Awards Winners: Full List". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2022.
  123. ^ Germain, Tabie (ngày 26 tháng 6 năm 2022). "BET Awards 2022: Full List of Winners and Honorees (Live Update)". BET. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2022.
  124. ^ Grein, Paul (ngày 26 tháng 11 năm 2021). "Beyoncé Wins Big at 2022 Soul Train Awards: Full Winners List". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2021.
  125. ^ "Bruno Mars Will Officially Open Sydney's Allianz Stadium". Billboard.
  126. ^ "ブルーノ・マーズの新たな伝説 ドーム5公演が史上最速で完売". Rolling Stone Japan (bằng tiếng Japanese). ngày 25 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2022.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  127. ^ "Após The Town, Bruno Mars vira Brunito no Chile e canta em espanhol". O Globo (bằng tiếng Portuguese). ngày 8 tháng 9 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2024.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  128. ^ Singh, Surej (ngày 20 tháng 4 năm 2023). "Bruno Mars announces concerts in South Korea and the Philippines this June". NME. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2024.
  129. ^ Brooks, Dave (ngày 9 tháng 10 năm 2023). "Bruno Mars Evacuated Israel So Quickly Amid Terrorist Attacks, He Left His Band's Gear Behind". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2023.
  130. ^ Dias, Ana Beatriz (ngày 8 tháng 5 năm 2024). "The singer performed at the first 'The Town' festival at the Interlagos racetrack in Sao Paulo". CNN Brasil (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2024.
  131. ^ "2023 Year-End Boxscore Charts". Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2025.
  132. ^ Dailey, Hannah (ngày 15 tháng 8 năm 2024). "Lady Gaga & Bruno Mars Confirm "Die With a Smile" Collab & Share Release Date". Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2024.
  133. ^ Trust, Gary (ngày 3 tháng 9 năm 2024). "Lady Gaga & Bruno Mars' 'Die With a Smile' Hits No. 1 on Billboard Global Charts". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2024.
  134. ^ Trust, Gary (ngày 26 tháng 8 năm 2024). "Shaboozey Scores Seventh Week at No. 1 on Hot 100, Lady Gaga & Bruno Mars Debut". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2024.
  135. ^ Daly, Rhian (ngày 18 tháng 10 năm 2024). "Rosé and Bruno Mars' 'APT.' is an addictively flirty and fun intro to the Blackpink star's solo era". NME. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2024.
  136. ^ "On the Cover: Bruno Mars". Hits. ngày 10 tháng 12 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2024.
  137. ^ Miller, Ken (ngày 23 tháng 12 năm 2024). "Bruno Mars is back in Las Vegas to usher in 2025 in style". Las Vegas Magazine. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2025.
  138. ^ "Lilo & Stitch: entenda o papel de Bruno Mars no filme". Billboard (bằng tiếng Bồ Đào Nha). ngày 5 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2025.
  139. ^ "Bruno Mars lança 'Bonde do Brunão' em parceria com Fortnite Festival". Billboard (bằng tiếng Bồ Đào Nha). ngày 18 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2025.
  140. ^ "Bruno Mars Manila concert extended for another day". The Philippine Star. ngày 7 tháng 9 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  141. ^ Evans, Zach (ngày 29 tháng 1 năm 2018). "Evansville's own Philip Lawrence earns major Grammy wins with Bruno Mars". Evansville Courier & Press. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  142. ^ Lamb, John (ngày 28 tháng 1 năm 2018). "So how well do you know Bruno?". The Dickinson Press. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  143. ^ "Bruno Mars Drops 'Versace on the Floor' Visual Starring Zendaya (Video)". iHeartRadio. ngày 13 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  144. ^ Cragg, Michael (ngày 21 tháng 10 năm 2010). "Songwriters turned pop stars: the Bruno Mars strategy". The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  145. ^ Frere-Jones, Sasha (ngày 6 tháng 2 năm 2011). "Mars Attacks!". The New Yorker. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  146. ^ Petrusich, Amanda (ngày 1 tháng 12 năm 2017). "Weirdly, We Might Be Overlooking Bruno Mars". The New Yorker. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  147. ^ "Future Asian & Pacific History Month: Bruno Mars' Undeniable Swagger". Fuse TV. tháng 5 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  148. ^ O'Connor, Roisin (ngày 19 tháng 11 năm 2021). "Album reviews: Snoop Dogg – Algorithm, and Silk Sonic – An Evening with Silk Sonic". The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2021.
  149. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Pop-star
  150. ^ Scott, Damien (ngày 19 tháng 11 năm 2022). "Bruno Mars Just Wants You to Have a Good Time". BET. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2022.
  151. ^ "The 200 Best Songs of the 2010s". Stereogum. ngày 5 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2022.
  152. ^ Unterberger, Andrew (ngày 27 tháng 2 năm 2018). "Could Bruno Mars' Big Night at the Grammys End Up Being a Bad Thing for His Career?". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  153. ^ Molanphy, Chris (ngày 5 tháng 5 năm 2017). "Bruno Mars' New No. 1 Proves He's the Canniest Hit-Maker of the Decade". Slate. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  154. ^ Peters, Jason N. (ngày 9 tháng 8 năm 2021). "Is Bruno Mars an R&B Star or Pop Star?". WBLS. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2021.
  155. ^ Cairns, Dan; Wollocombe, Luz (ngày 22 tháng 1 năm 2013). "Ranked: the best 20 solo singers of this century". The Times. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2023.
  156. ^ Coscarelli, Joe (ngày 13 tháng 6 năm 2019). "Mark Ronson, a Party Boy No More, Tries on Melancholy After a Parade of Hits". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2019.
  157. ^ Dekel, Jonathan (ngày 29 tháng 7 năm 2021). "How Mark Ronson and Bruno Mars finished writing 'Uptown Funk' at Toronto's Cherry Beach studios". Toronto Star. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2021.
  158. ^ Vargas, Andrew S. (ngày 1 tháng 2 năm 2017). ""My Father's a Puerto Rican Pimp": Bruno Mars Gets Personal About Boricua Roots in New Interview". Remezcla. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  159. ^ "get to know: aj mitchell". MTV. ngày 16 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  160. ^ Hudak, Joseph (ngày 10 tháng 3 năm 2015). "Thomas Rhett Talks New Album's Bruno Mars Influence". Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  161. ^ "Dua Lipa Learns THIS From Bruno Mars Every Night". Elvis Duran and the Morning Show. ngày 26 tháng 9 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  162. ^ "Singer Benny Dayal On How Bruno Mars Inspires His Music". DT Next. ngày 21 tháng 12 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  163. ^ Torres, Santiago; Serna, Gustavo (ngày 27 tháng 8 năm 2021). "Rauw Alejandro: "Me Siento Bendecido"". Billboard. Argentina. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  164. ^ Sharma, Ekatmata (ngày 28 tháng 9 năm 2021). "'Touch It' singer Kidi takes inspiration from Bruno Mars, Chris Brown, Usher (Exclusive)". MENAFN. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
  165. ^ Nunez, Mike (ngày 15 tháng 3 năm 2015). "Lee Brice: A 'true redneck' who loves performin' & writin'". Florida Today. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  166. ^ McCrea, Brad (ngày 19 tháng 11 năm 2017). "Shawn Mendes Wins First American Music Award". iHeartRadio. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  167. ^ DiMartino, Dave (ngày 23 tháng 7 năm 2013). "Selena Gomez Gives "It" Up!". Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
  168. ^ Sullivan, Caroline (ngày 1 tháng 9 năm 2014). "Pop's weighty issue: All About That Bass and other body-positive anthems". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2015.
  169. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên BB AOFTY 2013
  170. ^ "Warner Music France Triumphs at the NRJ Music Awards". Warner Music Group. ngày 14 tháng 11 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2016.
  171. ^ Billboard Staff (ngày 5 tháng 3 năm 2017). "2017 iHeartRadio Music Awards: Complete Winners List". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2017.
  172. ^ Rubin, Rebecca; Knapp, JD (ngày 13 tháng 8 năm 2017). "Teen Choice Awards 2017: 'Riverdale,' Fifth Harmony Shut Out Competition". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2017.
  173. ^ "Icons of the Decade: Bruno Mars". iHeartRadio. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2020.
  174. ^ Ahlgrim, Callie; Larocca, Courteney (ngày 23 tháng 12 năm 2019). "The 20 top artists of the decade". Insider. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2020.
  175. ^ Trust, Gary (ngày 11 tháng 5 năm 2021). "Drake Is Billboard's Artist of the Decade, Will Receive Honor at 2021 Billboard Music Awards". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2021.
  176. ^ "Top Touring Artists". Billboard. ngày 31 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2019.
  177. ^ Denis, Kyle (ngày 6 tháng 9 năm 2024). "Billboard's Greatest Pop Stars of the 21st Century: No. 20 — Bruno Mars". Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2024.
  178. ^ "Bruno Mars". NARAS. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2025.
  179. ^ O'Malley Greenburg, Zack (ngày 6 tháng 1 năm 2014). "30 Under 30: Bruno Mars And Music's Brightest Young Stars". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2014.
  180. ^ Cirisano, Tatiana (ngày 30 tháng 1 năm 2018). "How Historic Was Bruno Mars' Big Night at the Grammys?". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2018.
  181. ^ Grein, Paul (ngày 4 tháng 4 năm 2022). "Silk Sonic, Tony Bennett & More 2022 Grammy Record-Setters". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2022.
  182. ^ "Greatest of All Time Artists". Billboard. ngày 14 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2019.
  183. ^ Copsey, Robert (ngày 18 tháng 1 năm 2011). "Bruno Mars named best songwriter of 2010". Digital Spy. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013.
  184. ^ "Hot 100 Songwriters". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013.
  185. ^ Zellner, Xander (ngày 12 tháng 8 năm 2025). "The Top Producers of the 21st Century on the Hot 100". Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2025.
  186. ^ "Digital music report 2012" (PDF). ngày 23 tháng 1 năm 2012. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2014.
  187. ^ Grein, Paul (ngày 6 tháng 11 năm 2013). "Chart Watch: Eminem & The Fab Four". Yahoo! Music. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2013.
  188. ^ International Federation of the Phonographic Industry Sales:
  189. ^ Fleming, Mike Jr. (ngày 6 tháng 2 năm 2020). "Disney Makes Bruno Mars Deal; Platinum-Selling Singer Will Star In, Produce Music-Driven Theatrical Film". Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2020.
  190. ^ Inman, DeMicia (ngày 5 tháng 10 năm 2022). "Bruno Mars Earns Another Diamond Certification". Vibe. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2022.
  191. ^ "Top 100 Songs of the 2010". Consequence of Sound. ngày 11 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2019.
  192. ^ Cridlin, Jay (ngày 26 tháng 12 năm 2019). "The best pop songs of the 2010s: Taylor Swift, Bruno Mars, Lorde, more". Tampa Bay Times. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2019.
  193. ^ Penrose, Nerisha (ngày 13 tháng 12 năm 2019). "The 52 Best Songs That Defined the 2010s". Elle. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2020.
  194. ^ Lawrence, Jesse (ngày 12 tháng 2 năm 2014). "Could "The Bruno Mars Act" Change The Way Tickets Are Bought For High Demand Concerts?". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2014.
  195. ^ Lawrence, Jesse (ngày 4 tháng 4 năm 2014). "Sparse Primary Market Helps Drive Up Price of Bruno Mars Tickets on Secondary Market". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2014.
  196. ^ "How did so many get shut out of Bruno Mars tickets? Blame it on the bots". Hawaii News Now. ngày 12 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2019.
  197. ^ Frankenberg, Eric (ngày 28 tháng 9 năm 2021). "Boxscore Charts Return After Year-Plus Break: Classic Rock, Country & Vegas Lead the Way". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2021.
  198. ^ Dam-young, Hong (ngày 19 tháng 6 năm 2023). "Bruno Mars brings magic to sold-out crowd in Seoul with finesse". The Korea Herald. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2023.
  199. ^ Henderson, Lisa (ngày 17 tháng 11 năm 2023). "Magnificent 7: Bruno Mars' historic Tokyo stand". IQ. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2024.
  200. ^ Everington, Keoni (ngày 12 tháng 9 năm 2024). "157,000 fans". Taiwan News. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2024.
  201. ^ "RBD confirms tour in Brazil in September and october; check out the 12 cities". Folha de S.Paulo (bằng tiếng Bồ Đào Nha). ngày 11 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2024.
  202. ^ Araujo, Raphael (ngày 17 tháng 5 năm 2024). "Bruno Mars quebra recorde de maior turnê internacional no Brasil". OFuxico (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2024.
  203. ^ Aniftos, Rania (ngày 27 tháng 1 năm 2025). "Bruno Mars Makes Spotify History as First Artist to Reach 150 Million Monthly Listeners". Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2025.
  204. ^ "Most monthly listeners on Spotify (male)". Jim Pattison Group. ngày 11 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2025.
  205. ^ Trust, Gary (ngày 4 tháng 11 năm 2024). "ROSÉ & Bruno Mars' 'APT.' Adds Second Week at No. 1 on Billboard Global Charts, Sets Record Streaming Streak". Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2024.
  206. ^ Trust, Gary (ngày 28 tháng 4 năm 2025). "Lady Gaga & Bruno Mars' 'Die With a Smile' Tops Global 200 Chart for 18th Week". Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2025.
  207. ^ Trust, Gary (ngày 31 tháng 3 năm 2025). "ROSÉ & Bruno Mars' 'APT.' Notches Record-Extending 19th Week at No. 1 on Billboard Global Excl. U.S. Chart". Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2025.
  208. ^ Trust, Gary (ngày 12 tháng 5 năm 2025). "Alex Warren's 'Ordinary' Tops Billboard Global 200 Chart for Second Week". Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2025.
  209. ^ Roland, Driadonna (ngày 12 tháng 4 năm 2013). "Bruno Mars' Sisters Taking Their Turn on the Spotlight Band on 'The Lylas' And Of Course They're Getting A Reality Show". MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2016.
  210. ^ Rodriguez, Priscilla (ngày 9 tháng 1 năm 2018). "8 things to know about Bruno Mars' girlfriend". Latina. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2015.
  211. ^ Eells, Josh (ngày 2 tháng 11 năm 2016). "Bruno Mars: The Private Anxiety of a Pop Perfectionist". Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2016.
  212. ^ Coleman, Miriam (ngày 2 tháng 6 năm 2013). "Bruno Mars' Mother Dies of Brain Aneurysm". Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2015.
  213. ^ Mumbi Moody, Nekesa (ngày 2 tháng 6 năm 2013). "Bruno Mars' Mother Dead at 55, According To Source". HuffPost. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2015.
  214. ^ Greenblatt, Leah (ngày 17 tháng 5 năm 2013). "Bruno Mars is red hot". Entertainment Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2016.
  215. ^ a b Zaru, Deena (ngày 13 tháng 3 năm 2018). "After Bruno Mars is accused of cultural appropriation, black celebrities come to his defense". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2018.
  216. ^ Golding, Shenequa (ngày 3 tháng 3 năm 2018). "Stevie Wonder Says It's 'Bulls---' to Call Bruno Mars an Appropriator". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2018.
  217. ^ Connick, Tom (ngày 13 tháng 3 năm 2018). "Bruno Mars accused of cultural appropriation". NME. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2018.
  218. ^ Williams, Stereo (ngày 11 tháng 3 năm 2018). "Bruno Mars, George Michael and the 'Cultural Appropriation' Tipping Point: Critic's Take". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2018.
  219. ^ McDuffie, Candace (ngày 15 tháng 11 năm 2021). "Silk Sonic Showcase Their Natural Cool on An Evening with Silk Sonic". Paste. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2021.
  220. ^ Rajab, Yasmin (ngày 20 tháng 6 năm 2025). "Brasileiros acusam Bruno Mars de apropriação cultural: entenda por que". Metrópoles (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2025.
  221. ^ "Bruno Mars clear of cocaine possession case – CBS News". www.cbsnews.com (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2025.
  222. ^ "Judge clears Bruno Mars of cocaine drug charge". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2025.
  223. ^ "Bruno Mars avoids jail sentence on cocaine charge". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2025.
  224. ^ Martins, Chris (ngày 29 tháng 1 năm 2014). "Wanna Be a 'Billionaire': Bruno Mars and Travie McCoy Sued Over Copyright". Spin. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2015.
  225. ^ "Proctor vs. McCoy Filing 67". Justia. ngày 5 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2025.
  226. ^ Christman, Ed (ngày 1 tháng 5 năm 2015). "'Uptown Funk!' Gains More Writers After Gap Band's Legal Claim". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2015.
  227. ^ Shepherd, Jack (ngày 12 tháng 8 năm 2015). "Mark Ronson and Bruno Mars accused of plagiarising Uptown Funk, again". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2015.
  228. ^ Minsker, Evan (ngày 29 tháng 10 năm 2016). "Mark Ronson and Bruno Mars Sued Over "Uptown Funk"". Pitchfork. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
  229. ^ Bowman, Lisa (ngày 30 tháng 12 năm 2017). "Mark Ronson and Bruno Mars are being sued again over 'Uptown Funk'". NME. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2022.
  230. ^ Minsker, Evan (ngày 14 tháng 9 năm 2017). "Mark Ronson Sued Over "Uptown Funk" Zapp Similarities". Pitchfork. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018.
  231. ^ Monroe, Jazz (ngày 13 tháng 4 năm 2018). "Bruno Mars and Mark Ronson Settle One of Three "Uptown Funk" Lawsuits: Report". Pitchfork. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018.
  232. ^ Yoo, Noah (ngày 2 tháng 7 năm 2018). "Mark Ronson Settles "Uptown Funk" Zapp Copyright Lawsuit". Pitchfork. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2019.
  233. ^ Billboard Staff (ngày 26 tháng 11 năm 2019). "The 60 Greatest Dance Songs of the Decade: Staff List". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2019.
  234. ^ Billboard Staff (ngày 10 tháng 3 năm 2014). "Music's Top 40 Money Makers 2014: The Rich List". Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2014.
  235. ^ Pomerantz, Dorothy (ngày 30 tháng 6 năm 2014). "Matthew McConaughey And Bruno Mars Are Among Newcomers on the Celebrity 100 List". Forbes. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2014.
  236. ^ O'Malley Greenburg, Zack (ngày 12 tháng 6 năm 2017). "Full List: The World's Highest-Paid Celebrities 2017". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018.
  237. ^ Kaufman, Gil (ngày 10 tháng 6 năm 2019). "Taylor Swift Tops Forbes' Highest-Paid Celebrity 100 List in 2019 With $185 Million; BTS Earn First Ranking". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2019.
  238. ^ Harrison, Scoop (ngày 16 tháng 3 năm 2024). "Bruno Mars Apparently Owes $50 Million in Gambling Debt". Consequence. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2024.
  239. ^ Rigotti, Alex (ngày 17 tháng 3 năm 2024). "Bruno Mars is reportedly $50million in debt due to gambling". NME. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2024.
  240. ^ Pequeño IV, Antonio (ngày 18 tháng 3 năm 2024). "MGM Denies Viral Report Claiming Bruno Mars Has Serious Casino Debt". Forbes.
  241. ^ Anifto, Rania (ngày 18 tháng 3 năm 2024). "MGM Grand Says Bruno Mars Does Not Have $50 Million Gambling Debt". Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2024.
  242. ^ Speakman, Kimberlee (ngày 29 tháng 1 năm 2025). "Bruno Mars Jokes He'll 'Be Out of Debt in No Time' While Sharing 150 Million Streaming Milestone amid Gambling Chatter". People. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2025.
  243. ^ Reid, Will (ngày 15 tháng 7 năm 2025). "Bruno Mars Makes Cheeky Joke About Rumored $50 Million Gambling Debt". E! News. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2025.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]