Janelle Monáe

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Janelle Monáe
Janellemonae (300dpi).jpg
Monáe trình diễn
tại Austin Music Hall năm 2009.
Sinh Janelle Monáe Robinson
1 tháng 12, 1985 (31 tuổi)
Kansas City, Kansas, Hoa Kỳ
Nơi cư trú Seattle, Washington, Hoa Kỳ
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ
  • người viết bài hát
  • nhà soạn nhạc
  • nhà sản xuất thu âm
Năm hoạt động 2003–nay
Hãng đĩa
Website jmonae.com

Janelle Monáe Robinson (sinh ngày 1 tháng 12 năm 1985),[7] là nữ ca sĩ, người viết bài hát, nhà soạn nhạc và nhà sản xuất thu âm người Mỹ. Có định hướng âm nhạc từ nhỏ,[8] cô sáng lập hãng thu âm Wondaland Arts Society cùng nhiều nghệ sĩ trẻ khác và phát hành EP The Audition (2003).[9] Sau khi ký kết cùng hãng Bad Boy Records vào năm 2006,[9] cô tiếp tục phát hành EP được khen ngợi Metropolis: Suite I (The Chase) (2007).[10][11] Đĩa đơn "Many Moons" trích từ EP giành được một đề cử cho giải Grammy và nằm trong danh sách "100 bài hát xuất sắc nhất 2008" do tạp chí Rolling Stone bình chọn.[12][13]

Album phòng thu đầu tay của cô, The ArchAndroid (2010) trở thành một trong những đĩa nhạc được khen ngợi nhất của năm,[14][15] đạt đến top 20 Billboard 200[16][17] và đã chạm mốc 140.000 bản tại Hoa Kỳ.[18] Năm 2011, Monáe nhận được sự chú ý rộng rãi khi góp mặt trong đĩa đơn ăn khách "We Are Young" của ban nhạc indie pop Mỹ fun., khi dẫn đầu Billboard Hot 100 trong 6 tuần liên tiếp, giành giải Grammy cho "Bài hát của năm"[19] và vượt 6.8 triệu bản tại Hoa Kỳ.[20] Album phòng thu thứ hai, The Electric Lady (2013) tiếp tục được đánh giá cao bởi các nhà phê bình[21] và đạt đến vị trí thứ 5 tại Hoa Kỳ.[22]

Đến nay, Monáe đã giành 6 đề cử cho giải Grammy.[23][24][25] Cô nhận được sự chú ý khi xây dựng hình tượng thời trang bằng những bộ âu phục[26] và từng xuất hiện trong danh sách "Style 100" của tạp chí Instyle.[27] Vào năm 2013, cô được chọn làm gương mặt đại diện cho nhãn hàng mỹ phẩm CoverGirl. Hội đồng Thành phố Boston chọn ngày 16 tháng 10 năm 2013 là "Ngày Janelle Monáe" để ghi nhận tính nghệ thuật và lãnh đạo xã hội của cô.[28]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Martens, Todd (ngày 19 tháng 3 năm 2009). “SXSW Day 2 afternoon report: Get to know Janelle Monae”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013. 
  2. ^ “Cover Story: Janelle Monáe | Features”. Pitchfork. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2014. 
  3. ^ “Janelle Monae Songs, Net Worth, Boyfriend News: "Electric Lady" R&B Singer Pays Tribute To David Bowie, Covers 'Heroes': Entertainment: Latin Post”. latinpost.com. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014. 
  4. ^ “Janelle Monae Signs to Bad Boy Records”. Whudat.com. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  5. ^ “Artists”. Atlantic Records. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  6. ^ “JANELLE MONÁE’S WONDALAND RECORDS AND EPIC RECORDS LAUNCH LANDMARK JOINT VENTURE PARTNERSHIP!”. The Official Epic Records Site. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2015. 
  7. ^ Brown, Marisa. “Janelle Monáe: Biography”. Allmusic. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2013. 
  8. ^ Who is Janelle Monae?. Randb.about.com (1 tháng 12 năm 1985). Lưu trữ 23 tháng 2 năm 2011.
  9. ^ a ă “Interview With Daniel 'Skid' Mitchell”. HitQuarters. Ngày 25 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010. 
  10. ^ Kellman, Andy. Review: Metropolis: Suite I (The Chase). AllMusic. Lưu trữ 21 tháng 5 năm 2010.
  11. ^ Columnist. Review: Metropolis: Suite I (The Chase). Art Nouveau Magazine. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2010.
  12. ^ “Complete List of Nominees for the 51st Annual Grammy Awards”. E! Online. Ngày 3 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2013. 
  13. ^ "The 100 Best Songs of 2008". Rolling Stone (25 tháng 12 năm 2008). Lưu trữ 25 tháng 12 năm 2008
  14. ^ Burns, Zeenat. May’s Best New Music. Metacritic. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2010.
  15. ^ The ArchAndroid (2010): Reviews. Metacritic. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010.
  16. ^ ngày 11 tháng 2 năm 2010 By Rachel Bailey (ngày 11 tháng 2 năm 2010). “Janelle Monáe to (Finally!) Release Debut Album in May”. Paste. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  17. ^ “Janelle Monáe, "The ArchAndroid". Billboard. Ngày 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  18. ^ ALLEN JACOBS (ngày 23 tháng 2 năm 2011). “Hip Hop Album Sales: The Week Ending 2/20/2011”. Hip Hop DX. Complex Media Network. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011. 
  19. ^ “55th Annual GRAMMY Awards Nominees: General”. Grammy.com. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2013. 
  20. ^ Paul Grein (ngày 2 tháng 1 năm 2014). “Can You Believe "Don't Stop Believin'" Loses Spot as Best-Selling Rock Song?”. Chart Watch (Yahoo). 
  21. ^ “The Electric Lady – Janelle Monáe”. Metacritic. CBS Interactive. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013. 
  22. ^ Caulfield, Keith (ngày 18 tháng 9 năm 2013). “Keith Urban Edges the Weeknd for No. 1 Debut on Billboard 200”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2013. 
  23. ^ “Grammys 2013: male artists lead nominations”. Guardian UK (London). Ngày 6 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2012. 
  24. ^ “2009 Grammy Awards - Complete Winners and Nominees”. HitFox (London). Ngày 6 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2012. 
  25. ^ “Grammy 2011 Nominees”. HitFox (London). Ngày 6 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2012. 
  26. ^ “Janelle Monae covers Honey magazine and talks The ArchAndroid album”. Theprophetblog.net. Ngày 14 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  27. ^ “Janelle Featured in the "Style 100" of InStyle Magazine!”. Ngày 30 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  28. ^ “Photos Of Janelle Monáe”. Ngày 30 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Janelle Monáe